Anh hùng Lực lượng vũ trang

Phi trường Tân Sơn Nhất và những lần rực lửa

Đồng Tháp01/06/2026Lê Ngọc Hằng (xã Tân Phú Đông)3 lượt xem0 lượt chia sẻ

Sân bay Tân Sơn Nhất được người Pháp xây dựng vào năm 1930, ở làng Tân Sơn Nhất, thuộc quận Gò Vấp, tỉnh Gia Định cũ.
Chuyến bay đầu tiên từ Paris đến Sài Gòn ở sân bay Tân Sơn Nhất là vào năm 1933, chuyến bay này kéo dài 18 ngày. Năm 1938 Pháp cho thành lập Sở Hàng không Dân dụng.
Năm 1956 Mỹ cho xây dựng sân bay rộng hơn, dài hơn 3000m, bằng bê tông. Trong khi đó sân bay do Pháp xây dựng năm xưa dài hơn 1500m, bằng đất đỏ. Thời kỳ 9 năm kháng chiến chống Pháp (1945-1954), sân bay Tân Sơn Nhất (Sài Gòn - nay là TP. Hồ Chí Minh) chỉ là một phi cảng nhỏ bé.
Sau năm 1954, nhất là thời điểm từ cuối năm 1965, khi Mỹ ào ạt đưa quân viễn chinh Mỹ và các nước chư hầu trực tiếp vào tham chiến trên chiến trường miền Nam, chúng đã xây dựng Tân Sơn Nhất thành 1 sân bay có tầm cỡ quốc tế, một căn cứ quân sự chiến lược quan trọng của Mỹ ở khu vực Đông Nam Á.
Sân bay Tân Sơn Nhất trước ngày giải phóng 30-4-1975 có chiều dài khoảng 8 km, rộng 5 km, chiếm 1.922 héc-ta. Sân bay Tân Sơn Nhất là 1 căn cứ hỗn hợp có nhiều đường bay cho các loại máy bay dân dụng và quân sự. Sân bay có khu sân bay quân sự, khu hàng không dân dụng và khu hàng không quốc tế, có khả năng chứa 400-500 máy bay. Trong sân bay có hệ thống ụ chìm, ụ nổi, các kho chứa bom đạn, xăng dầu…
Theo thống kê, năm 1958 sân bay có 30.000 phi vụ cất cánh và hạ cánh thì đến năm 1966 đã tăng đến 50.000 phi vụ. Tại sân bay, có khoảng 20 hãng hàng không quốc tế tham gia sử dụng như: Pan American, American Airlines, Seaborn Transwerld, Continental Airlines, Flying Tiger, Nortwest Airlines, Cathay Pacific, Slich Airlines… và các hãng hàng không khác.
Trong lịch sử kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ của dân tộc ta, Quân khu 7, Quân khu Sài Gòn - Gia Định thì sân bay Tân Sơn Nhất là nơi ghi dấu nhiều sự kiện quan trọng. Ngay từ những ngày đầu quân Pháp núp sau quân Anh gây hấn tái chiếm Nam Bộ (9-1945), sân bay Tân Sơn Nhất, nơi quân Anh làm nhiệm vụ cảnh giới đã bị du kích Sài Gòn tập kích.
Tiếp theo là hàng loạt các trận đánh của lực lượng đặc công, Biệt động Sài Gòn vào khu vực sân bay tiêu biểu như: Trận đánh ngày 15-3-1952, tổ đặc công do anh hùng Lê Văn Thọ chỉ huy đột nhập dùng mìn đánh kho bom An Hội (Gò Vấp) phá hủy 700 quả bom, diệt 182 tên địch; Trận 31-8-1952, Đại đội quyết tử 3721 (sau đổi tên là Đại đội đặc công 205) “dùng chất nổ hủy diệt 5.200 tấn bom đạn, 3 triệu lít xăng, trên 2.000 thùng dầu nhớt, gây thiệt hại nặng cho đại đội Âu - Phi canh giữ kho”; Đêm 30-5 rạng sáng ngày 1-6-1954, Tổ đặc công Bùi Văn Ba, Phạm Văn Hai gồm 12 người đột nhập kho đạn, xăng dầu Phú Thọ Hòa đặt mìn hẹn giờ “thiêu hủy 9.345 tấn bom đạn, 20 triệu lít xăng cùng 1 đại đội lính Âu - Phi chết và bị thương”.
Các trận đánh đã có tác dụng cổ vũ toàn chiến trường Nam Bộ lúc bấy giờ. Cũng tại sân bay Tân Sơn Nhất này còn chứng kiến một sự kiện lịch sử quan trọng, đó là khi Hiệp định Giơ-ne-vơ được ký kết (7-1954).
Sau lễ “Trao trả dinh Nô-Rô-Đôm” (Dinh Độc Lập) cho chính quyền Ngô Đình Diệm do Mỹ dựng nên, Tướng viễn chính Pháp Ê-ly- Cao ủy kiêm Tổng Chỉ huy lực lượng viễn chinh Pháp cuối cùng, từ sân bay Tân Sơn Nhất cuốn cờ về nước, chấm dứt sự có mặt sau gần 100 năm của quân đội xâm lược Pháp ở Đông Dương.
Thời kỳ kháng chiến chống Mỹ (1945-1975), mặc dù được Mỹ - Ngụy tăng cường các phương tiện thiết bị điện tử hiện đại bảo vệ nghiêm ngặt, nhưng từ năm 1963-1966, sân bay liên tục bị lực lượng Biệt động Sài Gòn, lực lượng pháo binh miền Đông Nam Bộ tấn công, diệt nhiều phi công Mỹ và nhân viên kỹ thuật, phá hủy hàng triệu lít xăng, hàng chục máy bay các loại.
Trong Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968, hình ảnh tiến công quả cảm của người chiến sĩ Quân giải phóng miền Nam trên đường băng Tân Sơn Nhất đã được nhà thơ Lê Anh Xuân khắc họa, ca ngợi làm biểu tượng cao đẹp cho “Dáng đứng Việt Nam”, dáng đứng hiên ngang, tấn công trên đường băng Tân Sơn Nhất đi vào bất tử như một huyền thoại.
Sân bay Tân Sơn Nhất còn là minh chứng sinh động về đòn đấu tranh chính trị - ngoại giao mưu trí và dũng cảm của Phái đoàn quân sự Việt Nam Dân chủ cộng hòa và Phái đoàn quân sự Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam trong Ban Liên hợp quân sự 4 bên tại trại Đa-vít đòi Mỹ-ngụy phải thi hành Hiệp định Pa-ri, diễn ra liên tục 823 ngày đêm, từ tháng 2-1973 đến cuối tháng 4-1975. Thêm một lần nữa, lịch sử được lập lại:
Ngày 29-3-1973, Tướng 4 sao Weyand (Uâyen) Tổng chỉ huy Bộ Tổng Tham mưu quân viễn chinh Mỹ ở miền Nam Việt Nam đã làm lễ hạ cờ tại sân bay Tân Sơn Nhất cùng với 2510 người lính Mỹ cuối cùng lặng lẽ rời khỏi Việt Nam.
Họ là những người lính Mỹ cuối cùng lên máy bay rời sân bay Tân Sơn Nhất, đánh dấu mốc lịch sử sau 115 năm, kể từ năm 1858 khi quân Pháp nổ súng, mở đầu cuộc xâm lược nước ta, lần đầu tiên trên toàn bộ lãnh thổ Việt Nam, quân đội của bọn đế quốc xâm lược đã bị quét sạch.
Trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân 1975, mà đỉnh cao là Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, trước thế tiến công như vũ bão của quân và dân ta, ngày 21-4-1975 Tổng thống Sài Gòn Nguyễn Văn Thiệu phải từ chức và đêm 25-4-1975, từ sân bay Tân Sơn Nhất, Thiệu lặng lẽ trốn di tản sang Đài Loan. Sau những trận bão lửa rực trời của pháo binh quân giải phóng từ phía Nhơn Trạch nã vào sân bay như rồng lửa Thăng Long phun cấp tập.
Vào lúc 16h30 ngày 28-4-1975, Phi đội Quyết Thắng xuất kích do phi công Nguyễn Thành Trung bay số 1, Từ Đễ bay số 2, Nguyễn Văn Lục bay số 3, Hoàng Mai Vượng và Nguyễn Văn On bay số 4, Hán Văn Quảng bay số 5 bất ngờ cất cánh từ sân bay Thành Sơn (Phan Rang-Ninh Thuận) sử dụng máy bay A-37 của địch dội bom xuống khu vực phía Tây sân bay, phá hủy nhiều máy bay, khí tài quân sự địch…góp phần quan trọng vào chiến thắng trọn vẹn của chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất tổ quốc vào trưa ngày 30-4-1975 lịch sử.
Sau ngày giải phóng, sân bay Tân Sơn Nhất - Sài Gòn - Gia Định được đón Chủ tịch Tôn Đức Thắng, Lê Duẩn cùng các đồng chí lãnh đạo Đảng và Nhà nước từ Thủ đô Hà Nội vào dự lễ mừng chiến thắng, mừng non sông thu về một mối, Nam Bắc một nhà thống nhất như mong muốn và ước nguyện của Bác và đồng bào chiến sĩ cả nước.
Làng hoa Gò Vấp nổi tiếng ngày xưa này trở thành vùng đô thị hóa ven đô, những nghệ nhân làng hoa và những người yêu nghề truyền thống đang cố níu kéo, lưu giữ lại chút hồn của làng hoa nổi tiếng ngày xưa.
Chiến khu An Phú Đông giờ đang lập văn bia, di tích, bảo tàng như nhắc nhở các thế hệ đời sao về những chiến công lịch sử oai hùng của quân dân Sài Gòn –Gia Định những ngày đầu chống giặc Pháp xâm lược và đế quốc Mỹ.
Sân bay Tân Sơn Nhất ngày nay trở thành một cảng hàng không tầm cỡ trong khu vực và thế giới tấp nập trên phi đạo các hãng máy bay quốc tế và nội địa thi nhau cất hạ cánh.
Những địa danh trên luôn mang trong hồn về một người anh hùng đầu tiên của đất miền Đông Nam Bộ, miền Đông “gian lao mà anh dũng”.
Người anh hùng nổi tiếng trong các trận đánh cầu Cát Phân, Rạch Cát, Lái Thiêu, kho bom An Hội… trong thời kỳ đầu tiên đánh Pháp với vũ khí thô sơ và lòng quả cảm. Mãi mãi tên tuổi anh hùng Lê Văn Thọ là niềm tự hào của người dân làng hoa Gò Vấp và quân dân Sài Gòn - Gia Định.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn