Bài viết

Phó Bảng Hoàng Tăng Bí (1883-1939) - Nặng lòng với nước

11/08/2026Phường Quyết Thắng (Phường Quyết Thắng)2 lượt xem0 lượt chia sẻ

Trong thời gian  phải ở Huế đằng đẵng 15 năm, biến cái rủi thành cái may, cụ dùi mài kinh sử đi thi và đỗ Phó bảng năm 1910; sau đó, viết kịch bản của ba vở tuồng: Đệ bát tài tử Hoa Tiên ký, nhà in Mạc Đình Tư xuất bản, 1913; Nghĩa nặng tình sâu (tuồng Mị Châu Trọng Thủy)  nhà in Nghiêm Hàm xuất bản, 1926; Thù chồng nợ tước (tuồng Trưng Trắc Trưng Nhị), nhà in Tân Dân xuất bản, 1927. Là một nhà nho, nhưng cụ  mượn thể loại nghệ thuật tuồng mang tính ước lệ, bi thiết cao để thể hiện được bao nỗi hoài vọng, bi phẫn của mình chăng?

Sau 15 năm bị quản thúc ở Huế, năm 1929, Hoàng Tăng Bí như chim bay về tổ ấm quê hương, gia  đình… Nhiệt thành yêu nước, cụ trở lại  với  nghề  dạy học xưa, dạy Việt văn ở trường Gia Long nhưng thực dân Pháp biết tiếng cụ đã cấm không cho dạy. Cụ cộng tác với báo Trung Bắc tân văn, viết nhiều bài sâu sắc về đạo đức, nhân cách của người cầm bút trong thời đại Âu hóa với quan niệm tiến bộ của người trọng Lễ Nghĩa Trí Tín. Ngoài ra, cụ còn dịch một số tác phẩm của văn học Pháp như Paul et Virgine; La chaumière indienne của Bernadin de Saint Pierre; Le comte de Monte Cristo của Alexandre Dumas, nhưng không có điều kiện xuất bản. Đặc biệt, cụ đã nghiên cứu và viết cuốn Lược khảo Lịch sử Trung quốc, lấy bút danh Tiểu Mai mong người nước Nam soi vào gương thành bại của họ để cứu nước.

Chí khí và lòng yêu nước của cụ đã có ảnh hưởng lớn đến con trai - giáo sư Hoàng Minh Giám từ thuở thiếu thời. Trong khi cụ Hoàng Tăng Bí còn bị quản thúc ở Huế thì ông Hoàng Minh Giám đã hoạt động trong phong trào yêu nước và dân chủ của thanh niên, viết cho báo Tiếng chuông rè của Nguyễn An Ninh, Người nhà quê của Nguyễn Khánh Toàn, Nước  Nam mới của Phan Văn Trường.

 

 Ban thờ chi họ Hoàng Tăng Bí 

Trở về Hà Nội năm 1929, cụ không chỉ hoạt động văn hoá mà còn là trụ cột vững chắc cho tư tưởng và hành động của ông Hoàng Minh Giám khi quyết định mở trường tư thục Thăng Long năm 1935. Trong lễ kỷ niệm 65 năm ngày thành lập trường, giáo sư Hoàng Minh Giám đã viết: “Trong thâm tâm  của anh em chúng tôi, cái danh từ nền tư thục gợi nhớ đến Đông kinh Nghĩa thục… Chúng tôi thầm nghĩ trường Thăng Long phải xứng đáng là một nghĩa thục theo gương Đông kinh Nghĩa thục nhưng phải khôn khéo để có thể tồn tại lâu dài”. Nối nghiệp Đông kinh Nghĩa thục trong hoàn cảnh mới, các giáo sư Võ Nguyên Giáp, Phan Thanh, Đặng Thai Mai, Hoàng Minh Giám… đã đào luyện hàng nghìn học trò yêu nước đi theo con đường cách mạng. Cụ Hoàng Tăng Bí hài lòng và hạnh phúc vì đã có người con nối chí nối nghiệp xuất sắc, giúp dân cứu nước, an lòng về với tổ tiên họ Hoàng ở quê hương Đông Ngạc năm 1939.

Vĩ thanh

Trải qua gần một thế kỷ, vẫn còn nguyên trong khuôn viên khu nhà thờ tổ - tính từ cụ tổ của chi họ thứ ba là Hoàng Tướng Hiệp - ông nội cụ Hoàng Tăng Bí, bức hoành phi lớn đã được sơn son thếp vàng, sắc phong vua ban trang trọng đặt trong bàn thờ tổ. Từ mảnh đất Đông Ngạc khoa bảng và hưởng  phúc ấm tổ tiên, con cháu cụ Phó bảng Hoàng Tăng Bí đã nối nghiệp ông cha, đóng góp cho dòng tộc, quê hương, đất nước như: GS Hoàng Minh Giám, Cô giáo hiệu trưởng trường cấp I Thăng Long Hoàng Diệu Uyển, GS-TS Hoàng Vĩnh Giang, GS-TS Hoàng Thuỷ Nguyên, GS-TS Hoàng Thuỷ Long… Một đường phố của Thăng Long ngàn năm được đặt tên Phố Hoàng Tăng Bí là thể hiện sự tri ân thành kính với sĩ phu, nhà văn hoá Hoàng Tăng Bí (Thành phố Hồ Chí Minh đã có đường phố mang tên cụ Phó bảng ở quận 12).

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn