Bài viết

PHÓ BẢNG TÔ HUÂN - BẬC PHÒ MÃ TRÊN ĐẠI LỘ SÁCH THÁNH HIỀN VÀ TẤM GƯƠNG LIÊM CHÍNH VÌ DÂN KHÔNG ĐỔI DỜI

Hưng Yên14/08/2026Lê Thị Thanh Vân ((LĐ) Đoàn phường Lang Biang - Đà Lạt)7 lượt xem0 lượt chia sẻ

PHÓ BẢNG TÔ HUÂN - BẬC PHÒ MÃ TRÊN ĐẠI LỘ SÁCH THÁNH HIỀN VÀ TẤM GƯƠNG LIÊM CHÍNH VÌ DÂN KHÔNG ĐỔI DỜI

Trong những trang sử dài của triều đại nhà Nguyễn đầy biến động và thăng trầm, lịch sử vẫn trân trọng khắc ghi tên tuổi của những bậc đại thần, những nhà giáo yêu nước dẫu ở cương vị nào cũng một lòng canh cánh nỗi lo cho dân, cho nước. Bậc tiền bối trung kiên ấy chính là Phó bảng Tô Huân (thường gọi là cụ Đốc Đông) — một vị quan thanh liêm lỗi lạc, một nhân cách lớn của đất văn hiến Hưng Yên. Cả cuộc đời gần 70 năm trải qua biết bao sóng gió, từ nơi quan trường chịu nhiều oan khuất gièm pha cho đến lúc lui về bục giảng gieo mầm tri thức, ông luôn giữ vẹn tấm lòng trong sạch như băng tuyết, một lòng vì cuộc sống bình yên của muôn dân và chí hướng kiên định của bậc sĩ phu yêu nước.

Cụ Tô Huân (tự là Khứ Do), sinh ngày 3/3 năm Đinh Hợi (1827) tại làng Xuân Cầu, xã Nghĩa Trụ, huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên trong một gia đình dòng dõi Nho học danh tiếng. Vốn thông minh kiệt xuất lại chuyên cần kinh sử, ông liên tục ghi danh trên bảng vàng qua các kỳ khoa cử: năm 22 tuổi đỗ Tú tài khoa thi Canh Tuất (1850), năm 24 tuổi xuất sắc giật giải Cử nhân khoa thi Nhâm Tý (1852).

Không dừng lại ở đó, năm 40 tuổi, ông bước lên đỉnh cao khoa bảng khi đỗ Phó bảng tại khoa thi Mậu Thìn, niên hiệu Tự Đức thứ 21 (1868), được nhà vua ban áo mão rực rỡ về quê vinh quy bái tổ trong niềm tự hào của xóm làng. Một năm sau, triều đình chính thức bổ nhiệm ông làm Tri huyện Thanh Trì, mở đầu cho chặng đường trị quốc an dân đầy oanh liệt.

Trong thời gian cai quản huyện Thanh Trì, Tri huyện Tô Huân đã để lại những giai thoại lòng dân vô tiền khoáng hậu. Khi cánh đồng bãi bồi rộng 5.000 mẫu ở xã Đồng Nhân bị vỡ đê mất bờ cõi và suýt bị các quan chức địa phương cấu kết bán đứng cho bọn nhà giàu làm đồn điền, ông đã lặn lội điều tra, lập lại địa bạ, giữ lại ruộng đất rồi đem chia đều cho nông dân nghèo cày cấy, khiến dân chúng ca ngợi là cảnh "thịnh trị chưa từng có". Xong việc, dân làng đem tạ ơn ông 3 thỏi vàng nhưng ông tuyệt nhiên không nhận, sai sung vào công quỹ.

Đến mùa bão lũ năm sau, khi nước sông Hồng dâng cao hung hãn, đê điều nguy khốn khiến người dân hoảng sợ bỏ chạy, cụ Tô Huân đã sai buộc chặt thuyền của mình vào gốc cây ngay khúc đê xung yếu nhất, thề chết theo đê chứ không chịu rút lui. Cảm kích trước khí phách "vị quốc vong thân" của quan tri huyện, hào lý và nhân dân bèn đồng lòng quay lại, ra sức bồi đắp và giữ vững bờ đê qua cơn đại nạn.

Cảm phục trước tài đức của ông, vua Tự Đức đã triệu ông về kinh thăng chức Phó Ngự sử. Trên cương vị người giữ cán cân luật pháp ở triều đình, ông thẳng thắn đàn hặc, vạch trần một viên tri phủ và bốn viên tri huyện nhục nhiễu nhân dân, đồng thời không ngần ngại can gián nhà vua nhiều việc hệ trọng. Sự liêm khiết, can trường ấy khiến phe cánh gian thần ghen ghét, gièm pha, đẩy ông đi làm Phó quản đạo Hà Tĩnh.

Tại đây, khi thành Hà Tĩnh rơi vào tay nghĩa quân chống Pháp, ông bị triều đình khép tội để mất thành. Với khí tiết của bậc trung thần, ông cắt lưỡi tự tử rồi uống thuốc độc để minh chứng cho lòng trong sạch nhưng được các thuộc hạ người dân tộc thiểu số kịp thời đưa vào núi cứu sống. Bị giải về triều khép án "Trảm giam hậu" (giam lại chờ chém), nhờ có các vị quan đại thần triều đình như Nguyễn Thuật, Bùi Dị ra sức kêu oan, nhà vua mới nhận ra lòng thành và gia dụ bái chức cho ông về quê vào năm Giáp Tuất (1874).

Trở về quê hương Xuân Cầu với đôi bàn tay trắng, cụ Tô Huân mở trường dạy học suốt 13 năm ròng. Đạo cao đức trọng của cụ đã thu hút hàng trăm môn sinh, đào tạo ra biết bao bậc hiền tài đỗ đạt cao, giữ các trọng trách lớn trong triều đình Huế và các địa phương. Năm cụ 60 tuổi, triều đình thấu rõ nỗi oan khiên năm xưa, sai Kinh lược Bắc kỳ Hoàng Cao Khải về tận làng mời cụ ra làm quan. Để tránh liên lụy đến con cháu trước lệnh vua, cụ khéo léo xin nhận một chức quan coi sóc việc học. Cụ được cử làm Đốc học tỉnh Sơn Tây, rồi chuyển về Đốc học tỉnh Hải Dương (xứ Đông), từ đó nhân dân kính cẩn gọi cụ bằng cái tên thân thương: cụ Đốc Đông. Tại nhiệm sở Hải Dương, cụ cho treo đôi câu đối thể hiện sâu sắc chí hướng của mình:

"Đốc thư sinh, phụng thiên tử chiếu / Học hà sự, độc thánh nhân thư" (Ta dạy học trò là theo chiếu chỉ của nhà vua / Dạy gì: dạy học trò đọc sách thánh hiền).

Đôi câu đối khí phách ấy sau đó bị kẻ xấu xuyên tạc với viên Thanh tra học chính người Pháp rằng cụ có ý bài ngoại, khơi gợi tinh thần chống Pháp. Trước sự hạch sách đầy định kiến của viên quan Pháp, cụ Đốc Đông Tô Huân thẳng thắn từ quan, dứt khoát xin triều đình cho về nghỉ tuổi già để giữ trọn khí tiết sĩ phu, không chịu khom lưng uốn gối trước thế lực ngoại bang.

Đến năm Giáp Ngọ (1894), ở tuổi 67, cụ chính thức được triều đình cho nghỉ hưu và trân trọng thăng bổ hàm Hồng lô tự khanh. Hai năm sau, vào ngày 23 tháng Sáu năm Bính Thân (1896), ngôi sao sáng của đất học xứ Quảng bừng tắt, cụ tạ thế ở tuổi 69 trong niềm tiếc thương vô hạn của các thế hệ học trò và người dân quê hương.

Cuộc đời của Phó bảng Tô Huân là một tấm gương sáng ngời về lòng yêu nước, thương dân và nhân cách cao khiết của người trí thức Nho học Việt Nam. Dẫu trải qua bao hàm oan, tù tội, ba lần tìm đến cái chết để giữ trọn lòng trung, dẫu bị kẻ thù ngoại bang dòm ngó, ông vẫn đứng vững như cây tùng cây bách giữa bão giông. Tấm lòng vì dân giữ ruộng, giữ đê tại Thanh Trì và chí hướng đào tạo nhân tài tại quê nhà của cụ Đốc Đông đã trở thành mạch nguồn văn hóa bất tận, chảy mãi trong dòng máu các thế hệ con cháu làng Xuân Cầu, góp phần làm rạng danh truyền thống hiếu học và bất khuất của quê hương Hưng Yên.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn