Người hoạt động cách mạng trước năm 1945

PHÓ CHỦ TỊCH HỘI ĐỒNG NHÀ NƯỚC HUỲNH TẤN PHÁT (1913-1989)

Vĩnh Long30/11/2025Hoa Lửa3 lượt xem0 lượt chia sẻ

Huỳnh Tấn Phát (15/2/1913-30/9/1989), còn gọi là Sáu Phát (thời chống Pháp) hay Tám Chí (thời chống Mỹ), sinh tại làng Tân Hưng, tổng Hòa Quới, quận An Hóa, tỉnh Mỹ Tho (nay là xã Châu Hưng, huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre), trong một gia đình địa chủ phá sản gồm 4 chị em (Gồm Huỳnh Thị Hay, Huỳnh Tấn Phát, Huỳnh Tấn Thế và Huỳnh Thị Cẩm. Khi song thân Huỳnh Tấn Phát vào Long Xuyên, mang theo Huỳnh Thị Cẩm, được một thời gian ngắn, Cấm bị té ao chết chìm. Ông bà buồn rầu, nhụt chí, sau đó đi các nơi để kiếm sống. Những năm 1940, bà Quảng Thị Úc sinh sống tại Sài Gòn - Gia Định), Huỳnh Tấn Phát thứ ba nên người thân trong gia đình thường gọi là Ba Phát, cha là Huỳnh Tấn Đặng (? -1946), mẹ là Quảng Thị Úc (? - ?). Gia đình Huỳnh Tấn Phát giàu truyền thống yêu nước. Ông cố tổ của Huỳnh Tấn Phát là Hoàng Văn Sách, vì ở gần khu vực chiến sự ác liệt của hai tập đoàn Trịnh - Nguyễn, ông đưa gia quyến bỏ xứ Huế vào Gia Định lập nghiệp. Ông chọn vùng đất Tân Hưng và An Hóa khai hoang, đồng thời tích cực hỗ trợ Nguyễn vương đánh địch. Lúc bấy giờ, ở Nam kỳ, do kiêng húy Gia Dũ vương - Chúa Tiên Nguyễn Hoàng (1524 - 1613) nên họ Hoàng được gọi trại thành họ Huỳnh. Theo Gia phả họ Huỳnh, ông Hoàng Văn Sách có con là Huỳnh Văn Điều (1766 - 1821), nay vẫn còn mộ phần tại xã Phú An Hòa (huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre). Ông Huỳnh Văn Thiệu (? - 23/7/1872) là con trai trưởng của ông Huỳnh Văn Điều. Ông cố Huỳnh Văn Thiệu (? - 23/7/1872) vốn là một bộ tưởng của Trương Định; sau khi chủ tướng hy sinh, ông lui về làng Tân Hưng, tiếp tục chiêu mộ nghĩa quân tổ chức đánh Pháp (Nhưng chỉ được một thời gian ngắn, ông bị kẻ gian mặt báo, bị giặc Pháp bắt và giết (chặt đầu) ở Bàu Sấu (nay thuộc xã Lương Quới, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre). Sau khi ông mất, nhân dân đem thi hài ông an táng tại gò đất thuộc ấp Hưng Nhơn, xã Châu Hưng ngày nay, đồng thời thỉnh linh vị mang vào đình làng Tân Hưng phong làm Thành hoàng làng và phụng cúng hàng năm cho đến nay. Cần nói thêm, theo lệnh của Thống đốc Nam kỳ ký ngày 5/7/1875, dân làng Tân Hưng nằm trong 47 làng bị phạt 1.000 Franc vì có tham gia hoặc ủng hộ cuộc kháng chiến của Thủ khoa Huân). Ông nội Huỳnh Văn Lâu (1860 -1915), là một hương chủ nổi tiếng nhân đức của làng Tân Hưng.

Năm 1918, kinh tế gia đình khánh kiệt, 3 chị em Huỳnh Tấn Phát gồm Huỳnh Thị Hay, Huỳnh Tấn Phát và Huỳnh Tấn Thế được đưa về sống bên quê ngoại tại làng Điều Hòa, tỉnh lỵ Mỹ Tho (nay nằm trên đường Trịnh Hoài Đức, Phường 2, thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang) và được ngoại cho ăn học. Từ thời niên thiếu, Huỳnh Tấn Phát đã học rất giỏi và luôn được học bổng. Cũng trong khoảng thời gian này, Huỳnh Tấn Phát đã bộc lộ tư chất thông minh, linh hoạt, thích diễn thuyết và học vẽ. Khi học ở Trường Trung học Mỹ Tho, Huỳnh Tấn Phát đã có những nhận thức bước đầu và chịu ảnh hưởng sâu sắc của các hoạt động yêu nước ở trường học và địa phương dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Lớn lên, Huỳnh Tấn Phát học ở trường Petrus Ký (Sài Gòn) rồi sau đó ra Hà Nội tiếp tục học ở Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương.

Năm 1938, ông tốt nghiệp thủ khoa ngành kiến trúc. Tương lai rộng mở khi ông mở văn phòng kiến trúc sư tư đầu tiên ở Sài Gòn, có nhiều thân chủ và ngày càng nổi tiếng thì ông ngả sang hoạt động chính trị và là một nhà cách mạng dấn thân, luôn ở tuyến đầu của các mặt trận. Ông được xem như một trong những trí thức hàng đầu của phong trào yêu nước những năm 1940 - 1945. Ông từng là Chủ nhiệm Tuần báo Thanh niên năm 1944, nơi được xem như diễn đàn của giới trí thức trẻ. Ngày 5/3/1945, ông được Trần Văn Giàu - Bí thư Xứ ủy Nam kỳ bí mật kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương.

Cuối tháng 5/1945, tổ chức Thanh niên Tiền phong được thành lập do bác sĩ Phạm Ngọc Thạch làm Tổng thư ký, hoạt động với mục đích, tôn chỉ, điều lệ tổ chức, hệ thống tổ chức và nhân sự đều do Xứ ủy Tiền phong đề ra (Thanh niên Tiền phong chính thức ra mắt hoạt động ngày 1/6/1945). Hệ thống tổ chức gồm Hội đồng quản trị gồm 21 thành viên và các ban chuyên môn được phân định rõ chức năng, nhiệm vụ khá chặt chẽ. Huỳnh Tấn Phát vừa là thành viên Hội đồng quản trị vừa là thành viên tích cực trong Ban Tuyên truyền cổ động tổ chức. Trong Cách mạng tháng Tám, ông tham gia khởi nghĩa cướp chính quyền ở Sài Gòn và được cử làm Phó Giám đốc Sở Thông tin báo chí thuộc UBND Nam Bộ). Từ đấy, ông tạm gác công việc chuyên môn để trở thành nhà hoạt động cách mạng. Năm 1946, Pháp chiếm lại Sài Gòn. Chúng bắt ông và kết án tù 2 năm. Ra tù, ông tiếp tục hoạt động cách mạng ở Sài Gòn. Năm 1949, ông ra chiến khu, làm Ủy viên Ủy ban Kháng chiến hành chính Nam Bộ, kiêm Giám đốc Sở Thông tin Nam Bộ.

Từ năm 1950 - 1954, Huỳnh Tấn Phát là Ủy viên Ủy ban Kháng chiến hành chính đặc khu Sài Gòn - Chợ Lớn, phụ trách Đài Phát thanh Tiếng nói Sài Gòn - Chợ Lớn tự do. Đài có thời gian hoạt động 2 năm vô cùng vất vả, khó khăn do địch lùng sục nhằm tiêu diệt; nhưng tập thể đài đã vượt qua, bảo vệ, di chuyển thiết bị liên tục vừa bám nhiệm vụ và thực hiện xuất sắc nhiệm vụ là công cụ tư tưởng đắc lực, tuyên truyền chủ trương, chính sách của Đảng, Chính phủ, phản ánh thông tin về cuộc kháng chiến ở Sài Gòn - Chợ Lớn và cả nước một cách kịp thời, nhanh nhạy, góp phần củng cố tổ chức và phong trào cách mạng. Năm 1953, do sự chuyển hướng thực hiện nhiệm vụ mới theo chỉ đạo của trên, đài giải thể.

Sau Hiệp định Genève 1954, ông được phân công hoạt động ở nội thành Sài Gòn - Gia Định. Đầu năm 1959, ông ra vùng căn cứ kháng chiến và năm 1960, được cử làm Ủy viên Khu ủy Sài Gòn -Gia Định, phụ trách công tác trí thức, tư sản và công tác Mặt trận. Cũng trong thời điểm này, Huỳnh Tấn Phát đã sử dụng khả năng thiết kế của một kiến trúc sư tài hoa vẽ nên lá cờ nửa đỏ nửa xanh với ngôi sao vàng ở giữa, làm lá cờ chính thức cho Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam. Năm 1961, ông được bầu làm Chủ tịch Ủy ban Mặt trận Dân tộc giải phóng Sài Gòn - Gia Định. Năm 1961, tại đại hội, ông được bầu làm Phó Chủ tịch kiêm Tổng thư ký Ủy ban Trung ương Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam. Tháng 6/1969, ông được Đại hội đại biểu Quốc dân miền Nam bầu làm Chủ tịch Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam.

Năm 1976, ông đắc cử đại biểu Quốc hội khóa VI và được Quốc hội cử làm Phó Thủ tướng Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam kiêm Trưởng ban Chỉ đạo quy hoạch đô thị, Chủ nhiệm Đề án thiết kế xây dựng Thủ đô Hà Nội, Chủ tịch Hội đồng chấm thi đồ án dự thi quốc tế.

Năm 1977, Đại hội Mặt trận Dân tộc Thống nhất Việt Nam bầu ông làm Ủy viên Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Năm 1979, ông kiêm chức vụ Chủ nhiệm Ủy ban Xây dựng cơ bản Nhà nước.

Năm 1981, ông được Quốc hội khóa VII cử làm Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Tháng 6/1982, ông được cử giữ chức Phó Chủ tịch Hội đồng Nhà nước. Năm 1983, tại Đại hội lần thứ II Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, ông được bầu làm Chủ tịch Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.

Ông là đại biểu Quốc hội các khóa I, II, III, VI, VII, VIII.

Dù bộn bề công việc nhưng ông vẫn không quên thăm hỏi, chăm lo đời sống, chế độ chính sách đối với đồng chí, đồng đội ở Chiến khu Đ cũ, những đơn vị đã cùng ông chiến đấu trước đây. Ông mất ngày 30/9/1989 tại TP. Hồ Chí Minh.

Giáo sư Trần Văn Giàu, người trực tiếp kết nạp ông vào Đảng Cộng sản Đông Dương thời kỳ tiền Cách mạng tháng Tám đánh giá: “Trong tổ chức Thanh niên Tiền phong, Huỳnh Tấn Phát là một người sáng lập, một người lãnh đạo có năng lực, có nhân cách. Ít nói nhưng khi nói thì được nhiều người nghe theo, ít trình diện trước đám đông, mà khi ra mắt đồng bào thì lời lẽ sáng tỏ, hùng hồn, lôi cuốn. Riêng con người của Huỳnh Tấn Phát tự nhiên thu hút, gây cảm tình, gương mặt, nụ cười, tướng đi, cử chỉ bình thường, thảy thảy đều vẽ lên một con người khiêm tốn, đoàn kết."

Là một nhà hoạt động chính trị suốt đời phụng sự Tổ quốc, đồng thời cũng là một kiến trúc sư tài ba, công trình kiến trúc ông để lại cũng rất đồ sộ. Nhiều công trình văn hóa lớn trong nước từng nhận sự đóng góp của ông như: Sân bay Nội Bài, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội, Cung Thiếu nhi, Bảo tàng các vua Hùng, Bảo tàng Hồ Chí Minh, rạp hát Hòa Bình (Quận 10, thành phố Hồ Chí Minh) và hàng loạt các công trình khác.

Hiện nay, ở xã Châu Hưng, huyện Bình Đại có Nhà Lưu niệm Huỳnh Tấn Phát và ba trường Tiểu học, THCS, THPT mang tên ông để lưu lại thành tích, đóng góp to lớn của ông với sự nghiệp cách mạng cả nước và quê hương Bến Tre.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn