Phó đô đốc Mai Xuân Vĩnh
QUÊ HƯƠNG VÀ TUỔI THƠ
Quê tôi ở làng Thọ Linh Thượng, tổng Thuận Thị, phủ Quảng Trạch, nay là thôn Thọ Linh, xã Quảng Sơn, huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình. Tôi được sinh vào ngày 15 tháng 4 năm 1930, nhằm ngày 17 tháng 3 năm Canh Ngọ. Vậy nhưng khi tôi bắt đầu cắp sách đi học, không hiểu ai đã ghi ngày sinh là 15 tháng 4 năm 1931, chắc là có sự nhầm lẫn, bởi bác tôi, bà Mai Thị Nha khẳng định tôi sinh năm Canh Ngọ.
Cha tôi tên là Mai Xuân Húc (1901-1977) con trai trưởng của ông Mai Xuân Đóa (1871-1946) và bà Phan Thị Phờn (1880-1944). Mẹ tôi, bà Trần Thị Chạt (1904-1947) là con gái út của ông Trần Đình Phấn (1863-1947) và bà Phạm Thị Oanh (1864-1927). Ông bà ngoại tôi đều là người cùng quê. Mẹ tôi bảy lần sinh con (có hai lần sinh đôi) nhưng chỉ nuôi lớn được năm người: anh Mai Xuân Thia (1923-1980) và tôi, Mai Xuân Vĩnh rồi đến các em gái Mai Thị Liên (1935), Mai Thị Mẫn (1940), Mai Thị Me (1944), Mai Thị Quy (1946-1947). Còn các em khác mất khi chưa đầy tháng.
Mẹ kế tôi là bà Trần Thị Nhỏ (1913-1983) là con gái thứ hai của ông Trần Ngọc Tía và bà Đinh Thị Nga, người cùng quê. Bà sinh được ba người em là: Mai Xuân Quế (1950), Mai Thị Hoa (1953-1964), Mai Thị Thơm (1956).
Thủy tổ dòng họ Mai ở làng Thọ Linh của tôi là cụ Mai Phúc Khánh, quê gốc ở xã Trung Thanh Oai, huyện Thanh Oai, phủ Ứng Thiên, đạo Sơn Nam (xã Kiến Hưng, thị xã Hà Đông, Hà Tây, nay thuộc Hà Nội), ông là người thông minh, hiểu biết rộng, tính tình cương trực, có chí lớn. Dưới thời vua Lê Thái Tông (1460-1497) ông được triều đình giao cầm đầu một đạo quân vào Nam đánh dẹp quân phiến loạn Chămpa ở Ô Châu (nam Quảng Trị và Thừa Thiên - Huế ngày nay).
Vâng mệnh triều đình, ông lo rèn tập quân binh, tích cực chuẩn bị quân lương và khí giới, thực hiện cuộc trường chinh hàng nghìn dặm, vượt qua nhiều vùng miền bây giờ còn chưa kịp khai phá. Với công trạng đánh dẹp quân giặc, vỗ về yên dân, ông Mai Phúc Khánh được vua phong tước “Tham Nghị Trác Lộc Nam”. Sau khi giành thắng lợi, triều đình cho ông lui quân về Bắc. Khi hành quân ra đến tây nam huyện Quảng Trạch, Quảng Bình ngày nay, thấy vùng đất dưới chân núi Ngùi bên dòng sông Rào Nan (một nhánh của sông Gianh) phong cảnh sơn thủy hữu tình, địa thổ phì nhiêu chưa có ai khai phá, ông bèn vận động thân binh tùy thuộc (được triều đình cho phép) ở lại đây khai phá thành ruộng vườn, định cư lập nghiệp lâu dài.
Ông Mai Phúc Khánh đề xuất, phương án định hướng “Kiến dĩ Ngùi sơn phát tích” (xuất phát từ núi Ngùi sẽ làm nên sự tích), vạch kế cho dân làm ăn. Vào khoảng năm 1473, sau một thời gian khai phá, sản xuất có kết quả, nơi ăn chốn ở ổn định, ông đề xuất và được người dân đồng tình lập ấp, đặt tên làng là Kim Linh. Như vậy, họ Mai là một trong những dòng họ có công đầu khai sơn phá thạch lập nghiệp ở vùng đất này.
Đến đời vua Minh Mạng năm thứ tư (1823) thấy tên làng mang chữ Kim là phạm húy Đức Thủy tổ Cao hoàng nhà Nguyễn (Nguyễn Kim) nên buộc làng Kim Linh phải đổi tên thành Thọ Linh (tên làng Kim Linh, Thọ Linh tồn tại đến nay trên 530 năm).
Ông thủy tổ Mai Phúc Khánh sinh và mất vào khoảng năm 1440-1504. Mộ ông hiện được an táng tại nghĩa trang dòng họ Mai ở Hà Sơn, Thọ Linh, xã Quảng Sơn, Quảng Trạch, Quảng Bình.
Hơn 400 năm sau khi ông Mai Phúc Khánh qua đời, vua Khải Định (1916-1925) xét thấy công lao của ông ngay từ buổi đầu khai khẩn, đặt nền móng lập làng xã, tạo cuộc sống cho dân bền vững và phát triển nên đã truy phong cho ông tước “Đại lang Dực bảo Trung hưng, Trung đẳng Linh phù Tôn thần”.
Tôi thuộc hàng hậu duệ đời thứ 15 của dòng họ Mai và là chắt nội của ông Mai Lượng (1838-1890) tục gọi Lãnh Mai (đời thứ 12). Xuất thân trong một gia đình nhà Nho nghèo có truyền thống hiếu học, mặc dù sớm mồ côi cả cha lẫn mẹ, nhưng ông Mai Lượng được người anh ruột là Mai Thức nuôi dạy và cho ăn học. Là người có tư chất thông minh, lại giàu ý chí và nghị lực, nên từ thuở thiếu thời, ông đã được nhiều người yêu mến.
Cùng với việc dùi mài kinh sử, ông Mai Lượng thường xuyên luyện tập võ nghệ cùng trai tráng trong làng. Trong khoa thi Hội võ năm Ất Sửu (1865), dưới triều vua Tự Đức, ông đỗ Cử nhân võ và được triều đình sung vào quân ngũ, được phong chức Hiệp quản. Ông Mai Lượng được bổ dụng chỉ huy một đơn vị trấn giữ ở Đèo Ngang. Tại đây, ngoài việc quân cơ, ông còn vỗ về dân chúng, chăm lo giúp dân khai hoang, đào kênh dẫn nước vào ruộng. Người dân trong vùng rất cảm phục và ghi nhớ công ơn của ông Lãnh Mai.
Sau đó, ông Mai Lượng được cử vào Đồng Hới để chỉ huy quân triều đình tại Quảng Bình. Khi phái chủ hòa hèn nhát trong triều đình Huế ký hiệp ước đầu hàng giặc Pháp (Hiệp ước Patenotre, 6-6-1884), với tinh thần yêu nước và ý thức độc lập dân tộc, ông vô cùng căm phẫn hành động xâm lược của thực dân Pháp và thái độ đầu hàng bán nước của triều đình. Với bản tính cương trực, ông chán ngấy trước thời cuộc nên đã từ quan về quê ở ẩn, kiên quyết bất hợp tác với những kẻ cam tâm bán nước cho ngoại bang.
Sau “sự biến kinh thành Huế”, ngày 23 tháng 5 năm Ất Dậu 1885, vua Hàm Nghi xuất bôn ra sơn phòng Tân Sở, Quảng Trị, xuống chiếu Cần Vương, kêu gọi nhân dân đứng lên chống thực dân Pháp, cứu nước. Khi xa giá vua Hàm Nghi ra đến Quảng Bình, sẵn nung nấu lòng căm thù giặc, ông Mai Lượng đã đến yết kiến Sơn Triều (triều đình vua Hàm Nghi). Vốn là một võ quan của triều đình Huế, ông được vua Hàm Nghi phong chức Lãnh binh, sát cánh với những người khác phò tá nhà vua chống giặc. Từ đó, nhân dân trong vùng thường gọi tên ông là Lãnh Mai.
Nhận lãnh sứ mệnh của Sơn Triều giao phó, ông trở về quê nhà chiêu mộ dân binh và nghĩa dũng, tập hợp lực lượng kháng chiến tại địa bàn thuộc hữu ngạn sông Gianh. Căn cứ của nghĩa quân Mai Lượng trải dài từ Cao Mại, thượng nguồn sông Rào Nan (nay thuộc xã Cao Quảng, huyện Tuyên Hóa) đến vùng Troóc (vùng núi phía tây huyện Bố Trạch, nay thuộc xã Phúc Trạch, Bố Trạch, Quảng Bình).
Nghĩa quân Mai Lượng có đến hàng ngàn người, được tổ chức thành đội ngũ chặt chẽ, phối hợp với nghĩa quân của Nguyễn Phạm Tuân, Lê Trực, ông Tham La Hà,... tạo thành một phong trào kháng chiến rộng lớn trên đất Quảng Bình. Địa bàn hoạt động và kiểm soát của nghĩa quân trải rộng vùng giáp ranh ba huyện: Quảng Trạch, Bố Trạch, Tuyên Hóa của tỉnh Quảng Bình. Nghĩa quân Mai Lượng thường sử dụng lối đánh du kích, phục kích, khi xung trận thì rất dũng mãnh và mưu trí. Dưới sự chỉ huy của Lãnh Mai, nghĩa quân đánh thắng nhiều trận, gây cho giặc Pháp nhiều tổn thất và khiến chúng khiếp sợ.
Tại căn cứ, ông vừa luyện quân, vừa rèn đúc vũ khí kết hợp tăng gia sản xuất lương thực để chiến đấu lâu dài. Đến nay, ở vùng núi Cây Chanh - Cao Mại vẫn còn lưu lại dấu tích đồn trại, dấu tích lò rèn đúc vũ khí và những cây chè, cây mít đại thụ.
Sau khi vua Hàm Nghi bị giặc bắt (1-11-1888), mặc dù “lãnh tụ tinh thần” không còn nữa, trong thế bị địch dồn ép, bao vây cô lập, gặp muôn vàn khó khăn, nhưng nghĩa quân Mai Lượng vẫn không nản chí, vẫn tiếp tục chiến đấu đến cùng.
Giữa lúc nghĩa quân đang dồn sức chống lại sự tấn công của địch thì ngày 12 tháng 5 năm 1890 (tức 24-3 năm Canh Dần) Lãnh Mai mất vì bệnh sốt rét ác tính tại căn cứ Cao Mại, lúc vừa tròn 53 tuổi. Thi hài ông được nghĩa quân mai táng rất kín trong rừng để tránh sự trả thù của giặc. Sau này hài cốt của ông được gia đình và bà con đưa về an táng tại quê nhà.
Tuy Lãnh binh Mai Lượng qua đời cùng với việc nghĩa quân tan rã, nhưng ý chí kiên cường chống giặc cứu nước và lòng yêu nước thương nòi của ông đã để lại trong lịch sử dân tộc một tình cảm, một nét son sâu đậm. Nhiều tác phẩm thơ ca, hò vè, cùng một số công trình nghiên cứu lịch sử đã chủ tâm ghi lại cuộc đời chiến đấu bi hùng của ông.
Lăng mộ ông Mai Lượng tại khu vực Sủm Mặc (Hà Sơn) nằm bên hữu ngạn sông Rào Nan, đã được Nhà nước tôn tạo. Riêng nhà bia tưởng niệm Lãnh binh Mai Lượng được đặt trên nền nhà xưa, nơi ông được sinh ra và lớn lên tại làng Thọ Linh, xã Quảng Sơn, huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình. Do có nhiều công lao đối với đất nước, mộ ông Mai Lượng được Bộ Văn hóa - Thông tin cấp bằng công nhận “Di tích Lịch sử - Văn hóa” cấp quốc gia ngày 24 tháng 1 năm 1998.
Xã Quảng Sơn quê tôi là vùng bán sơn địa, tựa lưng vào dãy Trường Sơn, phong cảnh sơn thủy hữu tình, non xanh, nước biếc. Quả thật, tổ tiên, ông cha ngày xưa chọn nơi đây để khai phá sản xuất, lập làng định cư lâu dài là có một tầm nhìn sâu rộng, để lại phúc đức cho con cháu mãi mãi về sau phát triển.
Dòng sông Rào Nan trong xanh giàu tôm cá, thuận tiện cho giao thông đường thủy và cho tưới tiêu phục vụ sản xuất cả vùng phía nam huyện Quảng Trạch, đồng thời làm dịu bớt cái nắng hè oi bức. Ôm lấy xóm làng là những cánh đồng rộng, quanh năm lúa mượt mà xanh tốt. Ven bờ Rào Nan là những rặng tre kéo dài gần chục cây số như bức trường thành chắn gió, chống xói lở bờ sông. Đây là một nguồn lợi đáng kể. Rừng quê tôi giàu lâm thổ sản, từng là nguồn sống của người dân ngay từ buổi đầu khai thiên lập địa. Rừng điều hòa khí hậu, duy trì nguồn nước sinh sống và sản xuất. Vùng rừng phía nam huyện Quảng Trạch vừa là chỗ dựa, là nơi che chắn cho nghĩa binh chiến đấu chống thực dân Pháp, thời cần Vương (1885-1890), cũng như trong cuộc kháng chống Pháp (1947-1954) và chống đế quốc Mỹ xâm lược (1964- 1975) sau này, góp phần giải phóng quê hương và thống nhất đất nước.
Cách nay gần một thế kỷ, thời kỳ khó khăn nhưng nơi đây đã có trường học công, có chợ, cảnh trên bến dưới thuyền tấp nập. Người dân quê tôi sống bằng nghề làm ruộng và khai thác lâm sản: mây, tre, nứa, lá. Mặc dù được thiên nhiên ưu đãi nhưng dưới thời phong kiến, đế quốc và những năm chiến tranh, bà con vẫn sống trong cảnh lam lũ, gieo neo. Cho đến tận bây giờ, cuộc sống đã có phần khởi sắc nhưng vùng quê này vẫn chưa thoát nghèo. Dù ở trong hoàn cảnh nào, họ vẫn sẵn sàng hy sinh đánh giặc, giữ nước và cần cù lao động xây dựng quê hương.
Dẫu còn nghèo nhưng trải qua các thời kỳ, nhất là từ sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đến nay, mảnh đất địa linh nhân kiệt này đã sản sinh ra nhiều người con trung hiếu, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ của dân, của nước giao cho.
Tôi là kẻ hậu sinh nhưng cùng với anh chị em cùng trang lứa chịu ảnh hưởng của truyền thống cha ông và thừa hưởng thành quả của quê hương. Lên bảy tuổi, tôi được học ở trường làng, trường tiểu học Thọ Linh mang tên “École Primaire Complémentaire de Thọ Linh”. Đây là một trong ba trường được mở ở huyện Quảng Trạch lúc bấy giờ, lần lượt từ thấp lên cao, từ một đến hai lớp lúc đầu cho đến khi hoàn chỉnh sáu lớp (1921-1927). Nhờ có trường học ở gần nhà, nên phần đông thiếu niên trong làng và các địa phương lân cận may mắn thoát được cảnh mù chữ, nhiều người biết đọc, biết viết.
Thuở đi học trường làng, học lực của tôi không đến nỗi nào nhưng do tính hiếu động và tinh nghịch nên tôi thường bị thầy quở phạt về “hạnh kiểm”. Một lần giữa giờ ra chơi, tôi cùng đám bạn học chia phe đánh giặc giả, công kênh nhau trên “ngựa chiến” hò hét “tấn công” làm náo loạn cả sân trường. Chỉ là trò chơi ham thích của trẻ hiếu động nhưng thầy Để - một ông thầy có “đức” hay dạy học trò bằng roi vọt lại không nghĩ vậy. Cho rằng các trò gây lộn và đánh nhau nên ông bèn gọi cả đám nghịch ngợm vào lớp và dùng cây roi mây dài hai thước quất chúng tôi túi bụi. Vệt roi mây bầm tím hằn trên lưng, mông tôi và lũ bạn đến gần nửa tháng sau vẫn chưa hết.
Lần khác vào ngày chủ nhật, tôi thơ thẩn chơi bên ngoài hàng rào của nhà trường. Ngó thấy mấy đứa con thầy Hoài hiệu trưởng đang chơi trong sân trường, thích quá tôi xin vào cùng chơi nhưng bọn này cự tuyệt không cho. Bực mình, tôi cố leo qua hàng rào và nói với chúng:
- Trường của làng, chứ trường chi của đứa nào. Bọn mi chơi được, tao cũng chơi được.
Mấy đứa con ông thầy Hoài cậy thế xúm lại xô tôi ra, tôi liền vung nắm đấm tự vệ. Bọn này bỏ chạy, vừa chạy vừa khóc về mách lại với thầy Hoài. Hôm sau thầy đến mách lại với ông nội tôi, thế là tôi bị mắng đe một lần nữa.
Năm lớp 3, trong giờ học toán, ông thầy Điềm giải mẫu một bài toán đố. Thầy vừa giải xong, tôi liền đứng dậy xin thầy cho lên bảng trình bày một cách giải khác ngắn gọn hơn. Thầy công nhận nhưng vẻ mặt thầy không vui. Đến giờ ra chơi, anh Trần Đình Điếng ghé tai nói nhỏ với tôi:
- Răng mi to gan rứa! Chẳng khác chi mi dám cãi lại thầy. Không sợ thầy quở ạ?
Nghe anh Điếng nói vậy, tôi cũng sợ, nhưng lỡ dại rồi biết làm sao? Chỉ biết rằng về sau thầy luôn nhìn tôi không mấy cảm tình.
Tôi rất mê các môn thể thao như đá bóng và bơi lội. Năm 13 tuổi, tôi được các anh lớn cho sung vào đội bóng làng Thọ Linh để thi đấu với đội bóng của các làng lân cận. Mê bóng đến nỗi buổi chiều đang chăn bò ngoài đồng nhưng hễ nghe tiếng trái bóng bình bịch là bằng mọi cách tôi dắt bò về chuồng để chạy ra sân vận động “đá hôi” vài lần khi quả bóng lăn ra ngoài đường biên. Tôi biết bơi và bơi giỏi là do hằng ngày chăn trâu ở bãi cỏ ven sông, khi trời nắng hễ cứ nóng lưng lại chạy xuống sông ngâm và bơi lội. Đây cũng là một cái thú của tuổi trẻ. Quê tôi có nhiều rừng và sông, suối nên phần nào tôi sớm hiểu biết về thiên nhiên và thích giải trí bằng đi câu cá và đi săn thú rừng như: nai, hoẵng...
Khi học trường làng, tôi ở với ông bà nội. Ông tôi tên là Mai Xuân Đóa (1871-1946), mới 14 tuổi đã theo cha là Lãnh Mai đánh giặc. Sau khi cha mất, ông bị giặc Pháp bắt giam. Ông tôi là người tư chất thông minh; thông hiểu về nho, y, lý, số, nhưng đồng thời cũng giỏi nghề nông, ngư (ngày nông, đêm ngư).
Nhờ vậy mà khi tuổi chưa trưởng thành, nhà cửa bị giặc tàn phá, ông đã cùng mẹ tự lực ngày đêm tích cực cần cù, sáng tạo lao động sản xuất xây dựng lại cơ nghiệp gia đình, làm đốc công xây dựng trường học, đình làng, nhà thờ họ. Ông cũng đóng góp nhiều công lao trong xây dựng họ hàng, làng xã, nhất là có uy tín với dân trong vùng về nghề bốc thuốc đông y. Với bản tính hiếu học, ông thường xuyên quan tâm đến việc học hành của con cháu, khuyên bảo con cháu làm theo điều hay lẽ phải. Sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, ông tôi làm Hội trưởng hội phụ lão của xã.
Ông nội tôi có hai bà vợ. Bà cả tên là Phan Thị Phờn sinh được chín người con, bốn gái, năm trai. Bà hai Trần Thị Khởi sinh được một gái, bốn trai. Các bác, các cô, các chú tôi đều tham gia cách mạng và làm ăn lương thiện.
Vào thời tôi đang học tiểu học, ông tôi có hai quyển sách “Hàm Nghi” và “Phan Đình Phùng” thuộc loại sách cấm lưu hành thời bấy giờ, vì viết về lịch sử chống Pháp của phong trào Cần Vương mà hai vị đó là lãnh tụ. Ông nội tôi “chôn” hai quyển sách đó trong bồ lúa để trên trần nhà. Nhưng khi rỗi rãi nhà vắng vẻ không có ai, ông thường bảo tôi lấy sách đọc cho ông nghe. Mỗi lần hết đọc, tôi lại đem sách giấu vào chỗ cũ. Lúc bây giờ tôi đọc nhưng chưa hiểu gì và cũng không biết vì sao ông nội lại thích nghe đọc những quyển sách này. Tuy vậy mỗi lần đọc xong lại thấy căm tức quân giặc cướp nước, nhưng cũng chỉ dừng lại ở mức độ đó. Sau này lớn lên ngẫm nghĩ lại tôi mới biết ông nội thích nghe đọc những quyển sách đó vì khi mới 14 tuổi ông đã theo cha đánh đuổi giặc Pháp cướp nước.
Một lần nghe đọc xong, ông nội liền ôm tôi vào lòng và nói:
- Khi nghĩa binh Cần Vương tan rã, các bác đem chôn súng tại một địa điểm ở Khe Cái, trong đó có cả khẩu thần công, con cháu ai muốn biết chỗ đó, ông sẽ dẫn đường.
Bấy giờ tôi còn nhỏ dại nên nghe xong rồi cũng cho qua. Sau này nhớ lại, nghĩ lại mới tiếc hùi hụi, nhưng chẳng biết lối nào mà lần, vì ông tôi đã mất.
Học xong bậc tiểu học, tôi về ở với cha mẹ, làm ruộng. Mùa thu năm 1945, Cách mạng Tháng Tám thành công. Lúc này khắp nơi bừng bừng khí thế, nở rộ các phong trào diệt giặc đói, diệt giặc dốt và nhất là phong trào thanh niên, tự vệ luyện tập quân sự để sẵn sàng chống giặc ngoại xâm.
Thấy các anh thanh niên trong đội tự vệ xã ngày ngày tập luyện quân sự ở sân vận động rất khí thế, tôi nài nỉ xin được làm một chân liên lạc của đội nhưng các anh nhất quyết không cho với một lý do đơn giản là chưa đủ tuổi. Bấy giờ tôi đang ở độ tuổi trăng tròn. Mặc dù vậy, nhưng lúc nào đội tự vệ tập luyện tôi cũng tìm cách lân la đến gần.
Tuy chưa được chấp nhận vào đội tự vệ nhưng tôi và một số anh cùng trang lứa như Mai Xuân Tao, Trần Đình Thi có chút ít chữ nghĩa được xã phân công dạy bình dân học vụ, giúp bà con trong làng diệt giặc dốt; xóa nạn mù chữ. Một công việc không kém phần say mê, thu hút nhiệt tình của tuổi trẻ.
Cách mạng Tháng Tám thành công chưa được bao lâu, người dân vừa mới được hưởng bầu không khí tự do và độc lập thì thực dân Pháp lại rắp tâm cướp nước ta một lần nữa.
Ngày 27 tháng 3 năm 1947, giặc Pháp đổ bộ vào Quảng Bình từ cửa biển Nhật Lệ và cửa biển sông Gianh; chúng đánh chiếm thị xã Đồng Hới nhưng bị quân và dân ta chống trả quyết liệt. Dựa vào tiềm lực quân sự, ngày 28 tháng 3, giặc Pháp chiếm thị xã Đồng Hới và tiếp đó đóng đồn ở Thanh Khê. Ngày 15 tháng 4 năm 1947, chúng tấn công Ba Đồn.
Để chống địch, các cơ quan lãnh đạo của huyện, xã di chuyển vào vùng rừng núi lập chiến khu. Người dân quê tôi thực hiện chủ trương “tiêu thổ kháng chiến”, tản cư vào rừng, để lại vườn không, nhà trống và rào làng chiến đấu. Ngày 18 tháng 4 năm 1947, giặc Pháp mở cuộc càn vào xã tôi. Chúng thẳng tay giết người, cướp của, đốt nhà và phá hoại mùa màng, chặn đường sinh sống để hòng buộc dân làng phải khuất phục. Tuy nhiên, lòng dân trẻ già trai gái vẫn luôn hướng về cách mạng, về Bác Hồ, tin tưởng vào thắng lợi cuối cùng. Sau cuộc càn, giặc Pháp đóng đồn Minh Lệ ngay xã Minh Trạch của chúng tôi.
Quê nhà nằm trong vùng địch tạm chiếm. Do bị giặc Pháp khủng bố ác liệt, nên mùa màng thất bát chẳng thu hoạch được bao nhiêu. Người dân tản cư sống lâu ngày trong rừng bị cạn dần lương thực, trong khi bệnh tật có dịp phát sinh. Nạn sốt rét, suy dinh dưỡng, dịch chấy rận, ghẻ lở, sâu quảng hoành hành mà thuốc thang không có gì, đã cướp đi nhiều sinh mạng của người dân trong đó có mẹ và em gái tôi. Sau một cơn sốt rét ác tính, mẹ tôi bị cấm khẩu chẳng nói được một lời nào với chồng con. Nhìn mẹ thoi thóp thở, mà cả nhà, cả bà con đành chịu bó tay vì giữa chốn rừng xanh, lại nằm trong vòng vây của giặc, tìm đâu ra thầy và thuốc?
Ngày 2 tháng 6 năm 1947 tức là ngày 14 tháng 4 năm Đinh Hợi, mẹ tôi trút hơi thở cuối cùng ở tuổi 43 giữa rừng sâu. Không hòm, không vải, mai táng giữa rừng xanh với mấy thanh tre buộc lại. Sau đó, em gái tôi là Mai Thị Quy chưa đầy hai tuổi cũng bị sốt rét. Mẹ mất, thiếu dinh dưỡng trầm trọng, thuốc thang không có nên em cũng đi theo mẹ trong năm này.
Mẹ mất, rồi em mất. Tôi thương mẹ, thương em chết quá éo le trong sự bao vây của giặc. Mỗi khi nhớ mẹ, nhớ em, lòng tôi lại đau cắt. Tôi ôm mấy đứa em còn lại mà không cầm được nước mắt.
Nhớ lại trước đây mỗi khi đọc hai cuốn sách “Phan Đình Phùng” và “Hàm Nghi” chống Pháp thời phong trào Cần Vương trong tôi đã có ý thức ghét Tây cướp nước và bọn Việt gian bán nước nhưng đến bây giờ trước cảnh quê hương bị tàn phá, chết chóc, nhà tan cửa nát, ruộng vườn xác xơ do giặc Pháp cướp nước gây nên, lòng tôi càng căm thù giặc cao độ.
Bấy giờ, phong trào du kích giết giặc trừ gian ngày càng phát triển mạnh và lên cao. Tuy chưa được vào du kích nhưng tôi vẫn tự kiếm được một lưỡi lê, lúc nào cũng mang bên mình với ý nghĩ: nếu gặp giặc Pháp và bọn Việt gian thì sẽ lao vào đâm chết chúng. Nhưng rồi nhà cửa và lúa khoai bị giặc cướp bóc tàn phá, cảnh nghèo đói ập đến, tôi cũng bị bệnh sốt rét hoành hành. Ngày nào tôi cũng bị lên cơn sốt, hàng tháng trời người gầy rộc, da vàng, đầu tóc rụng hết, mà không có lấy một viên thuốc. Thương con quá, cha tôi liều mua cái chân giò lợn đem luộc lên cho tôi ăn. Thấy thế, mấy bà bác, bà cô tỏ ý ngăn lại:
- Cháu nó đau yếu thế mà cậu cho ăn giò lợn luộc thì nguy to.
Cha tôi thở dài, gạt đi:
- Biết nó có sống được không mà kiêng cữ, thấy nó đói và thèm thì cho nó ăn kẻo tội.
Quả nhiên sau khi ăn hết cái giò lợn, như thuốc thần, cơn sốt dần suy giảm, sức khỏe của tôi phục hồi khá nhanh, như người ta thường nói “lấy độc trừ độc”.
Khi sức khỏe của tôi đã bình phục, thì gánh nặng gia đình lại đè nặng lên vai cha tôi. Bây giờ, ba em gái tôi, một em 12 tuổi, một em bảy tuổi và em nhỏ nhất mới ba tuổi. Cha tôi lâm vào cảnh gà trống nuôi con, kinh tế gia đình rất khó khăn, ở trong vùng địch tạm chiếm thường xuyên bị càn quét khủng bố, cuộc sống rất bấp bênh. Thấy vậy, nên cuối năm 1947, cha tôi cho tôi thoát ly lên vùng Tuyên Hóa, chiến khu của tỉnh Quảng Bình để mong xin vào bộ đội Vệ quốc đoàn, hay làm bất cứ việc gì đó để sinh sống. Tại đây, tôi gặp người chú ruột là Mai Xuân Chữ và người anh ruột Mai Xuân Thia đang là cán bộ của Ty thông tin Quảng Bình.
Việc làm không có, nhưng xin vào bộ đội đâu có dễ vì ngày đó quân đội ta chưa phát triển nhiều. Chú Chữ an ủi tôi: “Lên được chiến khu, chú sắm cho cháu một cái bị, một cái gậy mà đi ăn mày còn hơn luẩn quẩn ở vùng địch tạm chiếm”. Thế rồi gặp dịp chú tôi thuyên chuyển công tác ra Sở thông tin Liên khu 4 ở Thanh Hóa, tôi liền đi theo chú để mong được học nghề và tìm kiếm việc làm. Tại Thanh Hóa, tôi cũng gặp một người chú ruột nữa là Mai Xuân Chương đang làm cán bộ lâm nghiệp ở huyện Cẩm Thủy. Tuy vậy, cả một thời gian ở xứ Thanh, tôi vẫn phải sống lay lắt bởi không kiếm được việc làm.
Thất vọng, đầu năm 1949, tôi một mình cuốc bộ từ Thanh Hóa về lại Quảng Bình, qua dốc Lâm Lang, Cao Mại về phường Chay. Nơi đây được tạm mệnh danh là “Chiến khu của xã”. Tôi gặp lại mấy anh em bà con và người làng học trường trung học Phan Bội Châu đang nghỉ hè ở đây cùng lứa tuổi, như Trần Đình Dỏng, Trần Đình Dâu, Phan Văn Toản, Trần Đình Các. Mấy anh em đó liền rủ tôi vào học trường trung học Phan Bội Châu. Tuy trong bụng rất muốn nhưng tôi lại phân vân vì không biết lấy tiền đâu mà học, hơn nữa, anh em đã học xong lớp đệ nhất, một mình tôi học lớp đệ nhất cũng buồn và lạc lõng. Thấy vậy, mấy anh em xúm lại tìm cách thuyết phục tôi đi học, chịu khổ ăn cơm với muối và nước mắm, có gì san sẻ với nhau. Còn học thì không lo, cứ xin vào thẳng đệ nhị, anh em sẽ phụ đạo giúp đỡ thêm để tôi theo kịp chương trình.
Được lời như cởi tấm lòng. Thế là tôi trở thành học sinh trường Phan Bội Châu ở Đạm Thủy, Tuyên Hóa. Mấy tháng đầu, anh Mai Xuân Thia - anh ruột tôi công tác ở Ty thông tin Quảng Bình giúp bằng cách xin cho tôi ở nhờ nhà anh chị Nậy ở thôn Huyện Nựu và thương lượng với nhà bếp của cơ quan nhượng lại mỗi tháng 10 cân gạo và một chai nước mắm, muối. Mua ở chợ một cái nồi đất, ngày hai bữa tự nấu lấy ăn. Gạo thì phần lớn là gạo hẩm để lâu ngày trong kho nên mốc và mọt, đem vo thì nổi lên mặt nước, nấu không nở. Ăn cơm với nước mắm pha muối, không rau, không thịt cá, vừa xáp, vừa mặn chát trong miệng. Thế nhưng có được cái ăn như vậy để đi học là tôi cảm thấy sung sướng rồi.
Cuối năm 1949, anh Thia tôi chuyển công tác ra Việt Bắc. Không còn chỗ dựa, tôi đành về Đạm Thủy ở chung với mấy anh em cùng quê đang học ở trường Phan Bội Châu. Cùng với cảnh một cái nồi đất treo ở góc bếp, ngày hai bữa, ăn với nước mắm pha muối còn thòm thèm, đi học vui đáo để. Ngày ngày miệt mài, nhờ anh em giúp đỡ, vừa ôn chương trình đệ nhất, vừa học chương trình đệ nhị, thế mà tôi cũng theo kịp. Đến bây giờ, tôi vẫn nhớ như in cảnh học sinh thời chiến, nhớ và cám ơn nhà trường.
Mãi mãi biết ơn thầy Ngân, thầy Khuyên, thầy Bàng, thầy Xứng, thầy Sơn... những người thầy đã dìu dắt và dạy dỗ mình. Xin cám ơn bạn bè cùng quê đã đồng cảm và chia sẻ, giúp tôi vượt qua thời điểm khó khăn để học hành. Cám ơn gia đình anh chị Nậy ở huyện Nựu, anh chị Mến ở Đạm Thủy - Tuyên Hóa với mái nhà tranh rất nhỏ nhưng đã sẵn lòng cho mấy anh em chúng tôi ở nhờ để đi học. Đây chính là tài sản vô giá, suốt đời không bao giờ tôi quên.
Cũng năm đó, trường trung học Phan Bội Châu ở Đạm Thủy, Tuyên Hóa bị máy bay giặc Pháp ném bom gây nhiều thiệt hại về nhà cửa. May sao lúc đó không phải giờ học tập trung của học sinh nên không gây thiệt hại nhiều về người. Vụ ném bom của giặc Pháp vào trường học càng làm dâng trào lòng căm thù của nhân dân, của học sinh đối với kẻ thù xâm lược càng nung nấu thôi thúc tinh thần tự nguyện của học sinh ra chiến trường giết giặc, cứu nước.
Tôi may mắn được sinh ra trong một gia đình có truyền thống chống giặc ngoại xâm. Từ ông Mai Lượng - cụ tổ tôi đến ông nội tôi chống Pháp thời Cần Vương và sau này thời chống Pháp, chống Mỹ xâm lược các chú tôi, anh tôi, em tôi đều là cán bộ kháng chiến quyết chống giặc giữ nước. Ảnh hưởng truyền thống đó cũng thôi thúc tôi vào bộ đội để đánh giặc Pháp đang xâm lược đất nước mình.



