Người có công giúp đỡ cách mạng

Phó Giáo sư, Nhà giáo nhân dân Lê Mậu Hãn – Người Thầy mẫu mực

Phó Giáo sư, Nhà giáo nhân dân Lê Mậu Hãn – Người Thầy mẫu mực

Hưng Yên14/08/2026Trinh Thông (Bắc Ruộng)4 lượt xem0 lượt chia sẻ

Tôi không phải “dân” Khoa Sử chính hiệu, nhưng định mệnh đã gắn tôi với ngành Lịch sử Quân sự gần như suốt cuộc đời binh nghiệp của mình. Và cũng chính vì vậy, tôi trở thành học trò trò “bất đắc dĩ” của Phó Giáo sư (PGS) - Nhà giáo nhân dân Lê  Mậu Hãn. Tôi được Thầy hướng dẫn làm Luận án Tiến sĩ (TS) chuyên ngành Lịch sử Việt Nam cận - hiện đại. Sự nghiệp nghiên cứu Lịch sử Quân sự của tôi chịu ảnh hưởng và tác động không nhỏ bởi Thầy.



Phó Giáo sư, Nhà giáo nhân dân Lê Mậu Hãn (Ảnh: Internet).

Cảm nhận đầu tiên của tôi về Thầy là “một người nghiêm khắc”, có phần hơi cứng nhắc vì chẳng bao giờ Thầy cho nghỉ sớm. Giờ giảng của Thầy thường bị kéo dài, Thầy nói giọng Quảng Trị hơi khó nghe, bài giảng của Thầy không theo trật tự logic như giáo trình đã biên soạn nên rất khó tiếp thu nếu không tập trung. Thầy thường nêu các luận điểm, gợi mở cho sinh viên nghiên cứu, định hướng cách tư duy và cung cấp danh mục tài liệu tham khảo để sinh viên tìm đọc và làm tiểu luận trả bài. 

Thời gian công tác tại Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam, tôi được giao nhiệm vụ phụ trách đào tạo sau đại học của Viện rồi được bổ nhiệm Trưởng phòng Quản lý khoa học. Do yêu cầu công việc và quá trình làm luận án, tôi tiếp xúc với Thầy nhiều hơn. Khi thì trao đổi với Thầy chương trình đào tạo sau đại học của Viện, khi thì mời Thầy tham gia giảng chuyên đề cho nghiên cứu sinh hay tham gia các hội đồng chấm luận án của cơ sở đào tạo và nhiều hơn cả là trao đổi với Thầy về nội dung và phương pháp triển khai thực hiện luận án của mình. Chính trong quá trình này, tôi hiểu Thầy hơn hơn và ngày càng quý mến Thầy bởi đức độ, nhân cách, tính nghiêm túc trong khoa học và kiến thức thức lịch sử sâu rộng của Thầy. Tôi càng cảm phục Thầy khi biết nguồn gốc xuất thân, quá trình học tập và công tác cũng như gia cảnh của Thầy.

Thầy quê Quảng Trị (thôn Bích La Thượng xã Triệu Long huyện Triệu Phong). Tên Thầy được cụ thân sinh lấy tên một dòng sông ở quê hương (sông Thạch Hãn) đặt cho. Thầy đã trải qua một tuổi thơ nhọc nhằn và đầy biến động ở một vùng đất máu lửa miền Trung. Theo Thầy kể, năm 1947, trong một trận thực dân Pháp càn vào làng, thân sinh ra Thầy cùng hai chú ruột của Thầy bị bắt và không bao giờ trở về nữa. Những năm sau đó, Thầy phải bỏ học và tham gia kháng chiến ở địa phương (làm du kích). Nhưng ước mơ được đi học lại vẫn luôn cháy trong Thầy. Năm 1950 - 1951, Thầy lặn lội vào tận Phong Điền (Thừa Thiên) học ở Trường cấp II Nguyễn Chí Diểu. Một năm sau, Thầy quay lại Triệu Phong học tiếp. Năm 1953, Thầy ra Nghệ An học ở Trường cấp III Nghi Lộc, rồi Trường cấp III Huỳnh Thúc Kháng. Năm 1956, Thầy trúng tuyển vào học khóa đầu tiên Khoa Lịch sử Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội. Khi tốt nghiệp (1959), Thầy được giữ lại Khoa làm trợ giảng.

Phải đến năm 1973, sau Hiệp định Pari, Thầy mới được trở về thăm lại gia đình. Xa quê hương, người thân, Thầy đem hết tâm huyết và trí lực của mình ra để học tập và công tác. Thậm chí cả cuộc sống gia đình riêng của mình, Thầy cũng phải gác lại, cho đến năm 1977, Thầy cô mới được sống gần nhau.

 Có thể nói, truyền thống quê hương, truyền thống gia đình và nghị lực vượt khó của Thầy đã trui rèn Thầy trở thành một nhà giáo mẫu mực, một nhà sử học tài năng và bản lĩnh.

Trong sự nghiệp “trồng người” của mình, Thầy đã đào tạo, bồi dưỡng biết bao nhiêu lớp sinh viên, lớp cán bộ trưởng thành. Nhiều người đã trở thành những nhà lãnh đạo, nhà quản lý một cơ quan lớn của Trung ương, ở Thủ đô Hà Nội hoặc địa phương nào đó, có người trở thành nhà khoa học đầu nghành, cũng có người trở thành đồng nghiệp của thày trong trường, trong khoa. Tiêu biểu trong số đó, có thể kể đến Phạm Quang Nghị, Hồng Vinh, Phùng Hữu Phú, Trần Đức Cường, Dương Trung Quốc, Vũ Minh Giang, Nguyễn Quang Ngọc, Phan Xuân Biên…

Trong đào tạo, Thầy rất nghiêm khắc và luôn đòi hỏi sinh viên, học viên và nghiên cứu sinh của mình tư duy khoa học độc lập và sáng tạo. Tôi cũng trưởng thành nhiều từ khi làm luận án tiến sĩ dưới sự hướng dẫn của Thầy. Từ khi chọn đề tài đến làm đề cương và viết luận án, Thầy luôn đặt câu hỏi cho tôi:  Tại sao lại chọn đề tài này; vấn đề này đã được nghiên cứu đến đâu; đã có đủ tư liệu để thực hiện luận án chưa; luận án kế thừa và phát triển kết quả nghiên cứu của những người đi trước thế nào, có gì mới không... Đặc biệt những vấn đề lịch sử còn nhiều tranh cãi, Thầy đòi hỏi nghiên cứu sinh phải có chính kiến của mình và phải có đủ cơ sở lý luận và thực tiễn để bảo vệ được chính kiến đó. Như luận án của tôi chẳng hạn, với đề tài “Đồng khởi ở Nam Bộ và cực Nam Trung Bộ”, Thầy yêu cầu tôi phải xác định: Điểm đồng khởi đầu tiên bắt đầu ở đâu? Vào thời gian nào?; Bến Tre có phải quê hương đồng khởi không?; đồng khởi ở Nam Bộ khác gì với Khu 5; khác ở điểm nào?; tại sao? Nhiều câu hỏi Thầy đặt ra làm tôi “choáng”. Rất may, đề tài này tôi đã tập hợp được khá nhiều tư liệu và cũng khảo sát tương đối kỹ trong thời gian công tác ở Phân viện phía Nam, vì vậy tôi nắm khá chắc, việc triển khai thực hiện luận án không đến nỗi khó khăn.

Không chỉ ở nội dung, mà cả về hình thức luận án, Thầy cũng có những phát hiện, góp ý và chỉ bảo hết sức cặn kẽ, cụ thể, thậm chí Thầy còn chỉ ra cả các lỗi trong tài liệu tham khảo như tên tác giả, nhà xuất bản, năm xuất bản mà đôi khi nghiên cứu sinh, để thống kê cho đủ số tài liệu tham khảo theo quy định đã sao chép của người khác, không biết chỗ nào sai để mà sửa.

Thầy thường yêu cầu cao chất lượng nghiên cứu của luận văn, luận án. Nếu không đảm bảo hàm lượng khoa học, Thầy kiên quyết không cho bảo vệ. Tham gia nhiều Hội đồng chấm luận văn, luận án, ý kiến nhận xét và câu hỏi hỏi Thầy đặt ra bao giờ cũng gai góc và hắc búa. Nghiên cứu sinh không nghiên cứu sâu khó có thể trả lời được. Mặc dù vậy, nhiều sinh viên vẫn thích được Thầy hướng dẫn bởi chắc chắn sẽ thành công và được đánh giá cao.

PGS, TS Vũ Quang Hiển bộc bạch: “PGS Lê Mậu Hãn là người Thầy có ảnh hưởng nhiều nhất đối với tôi”. Còn PGS, TS Lâm Bá Nam thì nhận xét: “Thầy Hãn là người Thầy lớn đáng kính trọng và không thể nào quên được”. TS Lâm Thị Mỹ Dung tâm sự: “Mỗi khi nhắc tới PGS Lê Mậu Hãn là nói đến sự nghiêm khắc nhưng chân tình của ông. Chúng tôi nể phục và kính trọng ông đúng theo kiểu thuốc đắng dã tật. Chúng tôi luôn ước sao có được nhiều người Thầy như thế”.

Cùng với sự nghiệp đào tạo, Thầy còn là một nhà khoa học đa tài. Ngoài giảng dạy, hướng dẫn luận văn, luận án, ông dành toàn bộ tâm trí, sức lực cho công tác nghiên cứu khoa học. Điểm nổi bật trong phong cách khoa học của Thầy là sự nghiêm túc tìm tòi và thẳng thắn bảo vệ chân lý. Nhiều nhà sử học đánh giá: PGS Lê Mậu Hãn là một nhà sử học “lão làng” với những công trình tầm cỡ quốc gia như: Lịch sử Quốc hội Việt Nam, Lịch sử Chính phủ Việt Nam, Đại cương lịch sử Việt Nam Nam (Tập III), Lịch sử Việt Nam (Tập IV)…

Đặc biệt trong nghiên cứu lịch sử Đảng, PGS Lê Mậu Hãn có nhiều đóng góp. Là chủ biên hai tập Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam do Nhà xuất bản Đại học và Giáo dục xuất bản năm 1988, đồng tác giả của Đề cương bài giảng Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam do Bộ Giáo dục và Đào tạo ấn hành năm 1991. Thầy cũng là người có công đầu trong việc xây dựng chuyên ngành Lịch sử Đảng và Tư tưởng Hồ Chí Minh của khoa Lịch sử; đồng tác giả một số tác phẩm về đề tài Hồ Chí Minh như: “Tìm hiểu một số vấn đề trong tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh”, Nhà xuất bản Sự thật 1982; “Góp phần tìm hiểu tư tưởng độc lập, tự do của Chủ tịch Hồ Chí Minh”, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia 1994: “Tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc và Mặt trận Dân tộc thống nhất”, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia 1995; “Sức mạnh dân tộc của cách mạng Việt Nam dưới ánh sáng tư tưởng Hồ Chí Minh”, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia 2001. Với sách chuyên khảo, Thầy chủ biên giáo trình Tư tưởng Hồ Chí Minh của Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn.

Trong nghiên cứu, PGS Lê Mậu Hãn bày tỏ chính kiến một cách rõ ràng và kiên trì chứng minh cho luận điểm của mình. Đặc biệt, Thầy rất cẩn trọng trong công tác tư liệu, bởi theo Lênin: Trong khoa học lịch sử cũng như các ngành khoa học khác, sự kiện đúng đắn là không khí của nhà khoa học, là cơ sở nền tảng để từ đó xây dựng lý luận của vấn đề nghiên cứu.

Không thể khôi phục lịch sử khi không có đủ tư liệu cần thiết, điều này thì nhà sử học nào cũng thấm thía, nhưng với PGS Lê Mậu Hãn, ông không bao giờ hài lòng về sự hời hợt, dễ dãi, hay viết lịch sử theo chủ nghĩa “minh họa”, ca ngợi một chiều. Mỗi vấn đề nghiên cứu, ông đều lật xuôi, lật ngược và tìm đủ tư liệu minh chứng rồi mới kết luận, đánh giá tính chân thật, đúng đắn của vấn đề đó. 

Đây cũng là điều tôi cảm nhận sâu sắc, học tập ở Thầy rất nhiều và vận dụng nó vào công việc của mình, nhất là trong công tác nghiên cứu Lịch sử Quân sự và xây dựng Đề cương nội dung trưng bày Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam.

PGS, TS Phạm Xanh nhận định: “Qua những công trình khoa học đồ sộ, đã hình thành một phong cách nghiên cứu - phong cách Lê Mậu Hãn. Trong phong cách đó đã trộn lẫn tri thức lịch sử đa dạng, chi tiết và sự tâm huyết bảo vệ đến cùng những chân lý lịch sử trước sự xuyên tạc, bóp méo, bôi nhọ lịch sử nước nhà của những người nghiên cứu nước ngoài không có thiện chí hoặc không được tiếp cận với các nguồn sử liệu chân thật”. PGS, TS Ngô Đăng Tri thì đánh giá: “Thầy Lê Mậu Hãn là nhà sử học tâm huyết, nghiêm túc, cẩn thận, có ý chí, bản lĩnh và cá tính chuyên môn mạnh mẽ, có tư duy sắc bén, táo bạo, dám dũng cảm đột phá khoa học để tiếp cận chân lý phục vụ thực tiễn trong khả năng có thể”. 

Theo GS,TS Trình Mưu: “Cách mà PGS Lê Mậu Hãn đã làm trong quá trình tác nghiệp, từ phương pháp luận nhận thức mác-xit, các phương pháp triển khai của khoa học chuyên nghành, sự tận tụy, sự nghiêm khắc cùng những đóng góp của ông là tấm gương lớn đối với tôi trên con đường khoa học đến hôm nay”.

PGS, Nhà giáo nhân dân Lê Mậu Hãn không chỉ là người Thầy mẫu mực, một nhà khoa học tài ba. Ẩn chứa đằng sau sự nghiêm túc khắc khổ của ông là một tấm lòng nhân hậu, bao dung thấm đẫm tình người.

Điều này thể hiện trước hết ở tình thương yêu với học trò của mình. Nhiều thế hệ sinh viên ở Khoa Lịch sử đã rất cảm kích trước sự quan tâm, sẻ chia khi chập chững bước chân vào Khoa và cả trong suốt quá trình học tập. Sinh viên Đinh Trung Kiên rất bất ngờ khi vừa chân ướt, chân giáo về Khoa Lịch sử nhập học, được Thầy mời vào căng tin ăn trưa và đả thông tư tưởng về việc học ở Khoa Sử. Sinh viên Hoàng Lương không khỏi ngạc nhiên khi chứng kiến tại buổi Lễ bảo vệ luận văn tốt nghiệp của mình, PGS Lê Mậu Hãn tự tay cầm chổi quét dọn hội trường, sắp đặt từng cái bàn một. Và cũng chính Thầy đã dang tay ra đón anh về ở cùng căn phòng chật hẹp của Thầy khi anh vừa ra trường nhận quyết định về Khoa công tác mà chưa biết ở đâu. PGS, TS Trần Đức Cường bộc bạch: “Thầy độ lượng với học trò của mình, nâng đỡ động viên những người đi vào con đường gian khó, góp ý một cách chân tình những thiếu sót trong quá trình nghiên cứu và bao giờ cũng muốn khuyến khích học trò phát triển”. PGS, TS Phạm Xuân Hằng chia sẻ: “Thầy dạy bảo chúng tôi bằng tâm sự, thẳng thắn mà vị tha, nói ít mà sâu nặng, giản đơn mà sâu xa, càng ngày tôi càng thấy nơi Thầy sáng lên một tấm lòng, một nhân cách lớn của người Thầy”.

Với đồng nghiệp, kể cả những người đã từng là học trò, Thầy vẫn rất chu đáo và chân tình. Nhiều cán bộ giảng dạy ở Khoa Lịch sử ca ngợi tấm chân tình của Thầy kể cả trong cuộc sống đời thường cũng như trong công tác chuyên môn. PGS, TS Nguyễn Đình Lê không bao giờ quên được lễ ăn hỏi của mình khi PGS Lê Mậu Hãn là người thay mặt cho họ nhà trai cùng đoàn tùy tùng đến muộn cả tiếng đồng hồ vì Thầy không ưng buồng cau sắp trong quả đồ lễ đưa đến nhà gái, nên đã trực tiếp đi mua cau khác thay thế. Chỉ một việc nhỏ thế thôi đủ thấy Thầy chu đáo với đồng nghiệp như thế nào. GS, TS Đỗ Quang Hưng, PGS, TSKH Nguyễn Hải Kế, PGS, TS Vũ Quang Hiển...bộc bạch nhiều kỷ niệm về Thầy trong thời gian công tác tại Khoa. Tất cả toát lên sự ngưỡng mộ về tài năng và đức độ của Thầy.

Nhiều năm làm Chủ nhiệm khoa, công việc bộn bề, nhiều vấn đề quyền lợi, chế độ, tiêu chuẩn thời bao cấp phải giải quyết, Thầy lấy cái tâm trong sáng của mình và nguyên tắc “thấu lý đạt tình” ra để ứng xử. Vì thề mà suốt 15 năm làm Chủ nhiệm khoa, Thầy không để xảy ra điều tiếng gì. Bao giờ Thầy cũng hết lòng lo cho người khác, còn với bản thân, Thầy không màng chút quyền lợi cá nhân. Ngay cả việc đề nghị Nhà nước phong hàm GS hay nhận tiền thù lao các công trình, thày cũng khiêm nhường nhận phần thiệt hơn về mình. Tôi có lần còn bị Thầy mắng vì đưa “phong bì” đọc luận án cho Thầy. PGS, TS Đinh Thu Cúc ca ngợi: “Thầy như một người anh cả, Thầy quan tâm đến tất cả chúng tôi, từ việc lập gia đình, có con, có cháu, làm nhà, làm cửa, cho đến công việc chuyên môn. Chồng con chúng tôi đều biết đến Thầy với lòng kính trọng và hàm ơn”.

GS, TS Phùng Hữu Phú, người vừa là học trò, vừa là đồng nghiệp với Thầy trong nhiều năm tâm sự: “Với tôi, Nhà giáo nhân dân Lê Mậu Hãn là một người Thầy suốt đời. Tôi yêu kính Thầy bởi nhiều lẽ, trước hết là yêu kính tấm lòng của Thầy với học trò…Thầy là người không dễ hiểu ngay trong lần gặp đầu tiên và cũng không dễ hiểu sâu nếu chỉ tiếp xúc một vài năm…Bên trong dáng người xương xương, gương mặt nghiêm nghị, đằng sau cách nói kiệm lời, có phần khô khan là một trái tim đôn hậu, một tình cảm sâu lắng giành cho học trò, đồng nghiệp, bạn bè, một tình yêu cháy bỏng và sự gắn bó máu thịt đối với đất nước, với đồng bào, với lý tưởng của Đảng”.

Tôi thấm thía nhận xét này của GS Phùng Hữu Phú và đồng cảm với người đã gắn bó với Thầy ở Khoa Lịch sử trong một thời gian dài. Điều này cũng lý giải vì sao Thầy đã nghỉ hưu không ít năm rồi mà học trò, đồng nghiệp vẫn đến với Thầy còn đông hơn cả khi Thầy còn đương chức. Tuy không phải là học trò “cưng” của Thầy, nhưng tôi cũng được Thầy rất quí mến. Năm nào vào dịp Tết Nguyên đán và ngày 20.11, tôi cũng đến thăm Thầy. Câu chuyện giữa tôi và Thầy không bao giờ có “hồi kết” vì tôi luôn phải “rút lui” sớm để nhường chỗ cho các thế hệ đàn anh, cũng là những người Thầy của tôi đến chúc mừng PGS Lê Mậu Hãn. Đây có lẽ là niềm hạnh phúc lớn nhất của những người làm nghề “trồng người” như Thầy, nhưng không phải ai cũng có được niềm vinh hạnh ấy. Tôi tự hào là một “học trò nhỏ” của Thầy. Cũng như bao lớp sinh viên, những đồng nghiệp đàn anh khác đã được Thầy dìu dắt “nên người”, chúng tôi ngưỡng mộ Thầy và thầm biết ơn Thầy vì Thầy không chỉ trang bị cho chúng tôi kiến thức để “làm nghề”, mà hơn thế nữa, Thầy còn dạy chúng tôi “đạo làm người” không phải bằng những bài lên lớp về luân lý, đạo đức mà bằng chính tấm gương, bằng chính cuộc đời và nhân cách của Thầy. Có lẽ đó mới là cái “gốc rễ” sâu xa để bao thế hệ sinh viên luôn nhớ và gắn bó với Thầy. Tôi rất đồng tình với nhận xét của PGS, TS Đinh Trần Dương về Thầy của chúng tôi: “Thân thương, gần gũi với học trò, với đồng nghiệp, thanh cao giản dị trong cuộc sống đời thường, nhạy cảm trước thời cuộc và kiên quyết trên trận địa đấu tranh tư tưởng chính trị là những phẩm chất dễ thấy ở Thầy”. GS, TS Lê Văn Kim cũng có đánh giá rất chí lý: “Vượt lên trên hết thảy là một tấm lòng nhân ái, chân tình, tận tâm với công việc chung và sự công tâm trong nhìn nhận đánh giá”. Nói gọn lại, như PGS, TS Hán Văn Khẩn tổng kết: “Thầy Hãn là một con người mẫu mực”.

Tiếc thay, khi tôi viết những dòng này về PGS - Nhà giáo nhân dân Lê Mậu Hãn thì Thầy đã đi về thế giới bên kia với biết bao niềm tiếc thương vô hạn của các thế hệ học trò và những đồng nghiệp của Thầy. Những điều tôi đã viết không chỉ là cảm nhận của riêng tôi mà là của tất cả những ai đã từng được học tập và công tác cùng Thầy. Xin vĩnh biệt Thầy với một tấm lòng ngưỡng mộ và trân quí. Bài viết này xin được coi như một nén tâm nhang tưởng nhớ và biết ơn người thày đáng kính của chúng tôi, PGS – Nhà giáo nhân dân Lê Mậu Hãn.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn