Bài viết

Phong cách ngoại giao Hồ Chí Minh trong Cách mạng tháng Tám

Phong cách ngoại giao Hồ Chí Minh trong Cách mạng tháng Tám

18/08/2026Xã Hàm Yên (Đoàn xã Hàm Yên)2 lượt xem0 lượt chia sẻ

Lịch sử đấu tranh giành độc lập của dân tộc Việt Nam là bản trường ca bất khuất, nơi những tên tuổi vĩ đại đã góp phần viết nên những trang sử vàng. Trong đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ là người sáng lập Đảng Cộng sản Việt Nam, khai sinh ra Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, mà còn là một nhà chiến lược thiên tài, nhà ngoại giao lỗi lạc, người đã vận dụng một cách nhuần nhuyễn giữa sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại để đưa cách mạng Việt Nam đến thắng lợi.

Ngay từ đầu thập niên 40 của thế kỷ XX, khi cuộc chiến tranh thế giới thứ hai bước vào giai đoạn khốc liệt, Hồ Chí Minh, với nhãn quan chính trị sắc bén, đã nhận ra những chuyển biến có thể trở thành cơ hội lớn cho dân tộc. Tại Hội nghị Trung ương 8 (tháng 5/1941), Người xác định rõ nhiệm vụ giải phóng dân tộc là nhiệm vụ chiến lược hàng đầu, ưu tiên hơn cả cách mạng giai cấp. Từ nhận định “nếu không giải quyết được vấn đề dân tộc giải phóng, không đòi được tự do cho toàn thể dân tộc, thì chẳng những toàn thể quốc gia dân tộc còn chịu mãi kiếp ngựa trâu, mà quyền lợi của bộ phận, giai cấp đến vạn năm cũng không đòi lại được”1, Người khẳng định mục tiêu tối thượng là độc lập dân tộc. Người đã sớm dự đoán sự sụp đổ của phát xít và chiến thắng của phe Đồng minh, từ đó chủ động chỉ đạo xây dựng lực lượng vũ trang, phát triển Việt Minh, phát động cao trào cứu quốc trên cả nước để sẵn sàng chớp thời cơ khởi nghĩa khi điều kiện chín muồi.

Một trong những điểm đặc sắc nhất trong tư duy chiến lược của Hồ Chí Minh là nghệ thuật ngoại giao, nơi tư tưởng “dĩ bất biến, ứng vạn biến” được thể hiện sâu sắc. Khi chiến tranh thế giới thứ hai bước vào giai đoạn cuối, Nhật Bản làm cuộc đảo chính Pháp (9/3/1945), tạo nên một khoảng trống quyền lực tại Đông Dương, Hồ Chí Minh nhanh chóng chỉ đạo phát động cao trào “kháng Nhật cứu nước” và mở rộng ngoại giao với phe Đồng minh, đặc biệt là Hoa Kỳ.

Một minh chứng sinh động là việc cứu phi công Mỹ William Shaw bị Nhật bắn rơi tại Cao Bằng. Hồ Chí Minh không chỉ cứu sống mà còn đích thân đưa viên phi công Mỹ vượt rừng sang Côn Minh (Trung Quốc), gặp Tướng Claire Chennault – Tư lệnh Không đoàn 14, có biệt danh là đơn vị “Hổ Bay” của Mỹ, đại diện cho lực lượng Đồng Minh tại vùng Hoa Nam (Trung Quốc). Việc gặp mặt này không được báo trước, không có sự thỏa thuận từ trước, nhưng lại mở đầu cho một trong những hợp tác đặc biệt giữa Việt Minh và OSS (tiền thân của CIA). Kết quả là đơn vị “Con Nai” gồm các quân nhân, tình báo và báo vụ viên Mỹ được nhảy dù xuống Tân Trào để hỗ trợ Việt Minh huấn luyện, trang bị và phối hợp quân sự. Trong thời gian từ tháng 6 đến tháng 8 năm 1945, có ít nhất 22 chuyến hàng do Mỹ thả dù gồm vũ khí, điện đài, quân trang đã về tay lực lượng Việt Minh. Đỉnh cao là khi đơn vị hỗn hợp Việt – Mỹ hành quân về giải phóng Thái Nguyên và chứng kiến sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa vào ngày 2/9/1945.

Việc Hồ Chí Minh trích dẫn câu từ của bản Tuyên ngôn độc lập Mỹ (1776) và Tuyên ngôn Nhân quyền Pháp (1789) vào trong bản Tuyên ngôn độc lập Việt Nam cũng là một minh chứng sinh động cho nghệ thuật ngoại giao của Người. Sự uyển chuyển, tài trí ngoại giao Hồ Chí Minh còn thể hiện ở Người tham khảo và nhờ Thiếu tá OSS – Patti Martin góp ý trước khi công bố văn kiện lịch sử này. Đây vừa là sự tôn trọng các giá trị dân chủ phổ quát, vừa là “đòn bẩy mềm” nhằm tìm kiếm sự ủng hộ quốc tế trong việc thừa nhận quyền độc lập của dân tộc Việt Nam.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn