PHÒNG NGỰ TRẬN ĐỊA , - ĐỐI MẶT TÁC CHIẾN VỚI KẺ THÙ.
Câu chuyện kể về nhiệm vụ phòng ngự bảo vệ quận lỵ Hoài Ân (Bình Định) cuối năm 1972, khi địch dồn lực lượng lớn nhằm tái chiếm khu vực trước khi ký Hiệp định Paris. Tiểu đoàn 16 súng máy cao xạ 12,7 ly của Sư đoàn 3 Sao Vàng được giao nhiệm vụ chốt giữ các điểm cao xung quanh để đánh máy bay và bảo vệ vùng giải phóng. Bộ đội xây dựng trận địa kiên cố trên núi, kiên cường bám trụ suốt nhiều tháng dưới bom đạn và pháo kích ác liệt của địch. Dù gặp nhiều gian khổ, đơn vị vẫn giữ vững trận địa, góp
Cuối năm 1972, chuẩn bị ký kết Hiệp định Paris về Việt Nam, địch ra sức dồn lực lượng chiếm lại các vùng đã mất trong chiến dịch Xuân – Hè 1972. Trọng điểm đánh chiếm của chúng là quận lỵ Hoài Ân, một đầu cầu chiến lược ăn sâu vào vùng giải phóng của ta.
Về phía ta, nhiệm vụ quan trọng nhất thời gian này là phải giữ cho được quận lỵ Hoài Ân – mảnh đất Thánh của phong trào Cách mạng tỉnh Bình Định, là một đầu cầu chiến lược của Quân khu 5. Đối với chúng tôi, nó còn thiêng liêng hơn bởi đã có hàng ngàn cán bộ, chiến sỹ thương vong trong chiến dịch Xuân – Hè 1972 để giải phóng hoàn toàn quận lỵ này.
Lực lượng địch có Sư đoàn 22 Ngụy, Liên đoàn Biệt Động 4, Biệt Động 6, Thiết đoàn Xe Tăng 14, một trung đoàn không quân ở sân bay Phù Cát và hàng chục trận địa pháo mặt đất, pháo tàu biển sẵn sàng chi viện.
Về phía ta, bảo vệ Hoài Ân có Trung đoàn Bộ Binh 21, Trung đoàn Bộ Binh 2. Các đơn vị binh chủng hợp thành có Tiểu đoàn 17 Pháo Mặt đất và Tiểu đoàn 16 Súng máy 12,7 ly.
Trong quân sự, để giải phóng đất đai, ta thường dùng các hình thức chiến thuật tiến công như tập kích, phục kích... Để bảo vệ đất, bảo vệ vùng giải phóng, ta phải dùng chiến thuật phòng ngự. Nhưng, lúc đó ta chưa được học nhiều về chiến thuật này, chỉ mới có chiến thuật “Chốt kết hợp vận động bao vây tiến công liên tục”: Dùng một bộ phận nhỏ đóng chốt ở những vị trí quan trọng nhử địch vào, sau đó dùng lực lượng bộ binh vận động từ xa tới bao vây tiến công liên tục cho đến khi diệt hết quân địch.
Tiểu đoàn 16 Súng máy Cao Xạ được Sư đoàn giao nhiệm vụ bố trí trận địa chốt vững chắc trên các điểm cao xung quanh quận lỵ Hoài Ân, như: núi Một, núi Chéo, Du Tự, Điểm cao 500, Điểm cao 174 v.v... bắn hạ tất cả các loại máy bay địch ném bom hoặc đổ bộ đường không. Khi cần, hạ nòng đánh bọn bộ binh địch lên chiếm chốt. Khác với cách đánh trước đây là đánh nhanh, di chuyển trận địa nhanh, bây giờ trận địa không được di chuyển, mà phải trụ lại đương đầu với không quân địch với tinh thần “Một tấc không đi, một ly không rời”, dù phải đánh tới người cuối cùng.
Thời gian này tôi là Tiểu đoàn trưởng, đồng chí Trần Môn là Chính trị viên Tiểu đoàn. Anh em chúng tôi phân nhau đảm nhiệm hai phần việc cơ bản: tôi lo nghiên cứu xây dựng trận địa bảo đảm vững chắc, hạn chế tổn thất người và pháo. Đồng chí Môn nghiên cứu giáo dục, xây dựng quyết tâm, ý chí chiến đấu cho bộ đội.
Vẫn biết, không quân Ngụy lúc này không như không quân Mỹ mùa khô năm 1966, nhưng với súng 12,7 ly đối chọi với một Trung đoàn máy bay phản lực, trực thăng vũ trang của chúng là một thử thách không dễ dàng. Rút kinh nghiệm những năm trước, chúng tôi xây dựng trận địa cho các khẩu đội, phải để trụ đất chính giữa công sự pháo. Các pháo thủ có thể xoay quanh trụ đất để bắn. Trụ đất vừa thay chân súng, vừa làm vật che đỡ cho pháo thủ. Xung quanh hầm pháo là những hầm kèo (hầm chữ A). Nối với hầm chữ A là địa đạo. Trận địa chọn những ngọn núi có độ dốc cao, như vậy khi địch ném bom dễ rơi xuống vực, không sát thương được bộ đội. Hầm chữ A vừa là nơi trú ẩn, vừa là nơi sửa súng hỏng, nơi sinh hoạt cho chiến sỹ.
Chốt ở núi cao, công tác bảo đảm ăn uống cho bộ đội khá vất vả. Anh em thường xuyên ăn cơm nắm, nước uống tính từng bi đông, thỉnh thoảng mới có bữa canh chua lá bứa, quần áo đẫm mồ hôi và đất đá, hàng tuần lễ mới được gửi về phía sau giặt giũ.
Bộ đội không sợ địch ném bom, vì đối mặt với súng cao xạ, bọn chúng thường ném chệch ra ngoài. Ác liệt nhất là pháo. Pháo đủ các cỡ và đủ các loại đạn: nổ trên không, nổ tức thì và nổ chậm (anh em thường gọi là pháo khoan) để phá công sự. Máy bay trinh sát L19 bay ngoài tầm đạn 12,7 ly căn chỉnh tọa độ cho bọn pháo binh. Có khi chúng bắn hàng tiếng đồng hồ. Mùa khô đất đá trên trận địa bị nghiền thành bột, mùa mưa thành bùn chảy từng vệt dài xuống núi, từ xa trông tới như nham thạch núi lửa.
Suốt 6 tháng trời phòng ngự bảo vệ Hoài Ân, bảo vệ thành quả Cách mạng, Sư đoàn 3 nói chung, Tiểu đoàn Cao xạ nói riêng phải vượt qua muôn vàn gian khổ hi sinh để giữ vững quận lỵ Hòa Ân cho đến ngày ký Hiệp định Paris. Nếu như trước đây, khi mở đầu đánh Mỹ, Tiểu đoàn đã thất bại trong hình thức “Trận địa chiến” thì giờ đây, chúng tôi đã thực hiện thắng lợi “Trận địa chiến” với quân Ngụy Sài Gòn, mở ra khả năng phòng ngự trận địa để bảo vệ vùng giải phóng sau năm 1973, đánh địch lấn chiếm. Xa hơn nữa, đã đóng góp những kinh nghiệm thiết thực cho Sư đoàn trong cuộc chiến đấu bảo vệ Biên giới Tổ quốc năm 1979. Thiết nghĩ, nếu chịu khó nghiên cứu và phát triển thì sẽ còn có tác dụng tốt đối với chúng ta trong nhiệm vụ chiến lược bảo vệ lãnh thổ hiện nay và mai sau, cả trong phòng ngự và tiến công.
Chiến tranh đã lùi xa. Nay tôi đã ngoài 70 tuổi, trí nhớ hạn chế, nhưng với tình yêu Sư đoàn, thương nhớ những đồng đội đã mất, tôi kể một số chuyện mà tôi đã trực tiếp chứng kiến, có thất bại, có thành công, hi vọng góp được chút gì đó cho các thế hệ trẻ của Sư đoàn. Tôi luôn luôn mong Sư đoàn tỏa sáng với danh hiệu “Anh hùng Lực lượng Vũ trang Nhân dân” mà Đảng và Nhà nước đã phong tặng.



