Phong trào cách mạng huyện Núi Thành trước khi Phủ uỷ ra đời

Truyền thống yêu nước, tinh thần đấu tranh chống áp bức và chống ngoại xâm của nhân dân Núi Thành đã có từ lâu. Ngay khi mở đất, nhân dân Hà Đông dưới sự lãnh đạo của Thổ quan Đại tri châu Đặng Tất, cùng lúc chống lại quân xâm chiếm Chiêm Thành, vừa tham gia cuộc khởi nghĩa của Trần Ngỗi chống lại quân Minh xâm lược. Cuối thế kỷ XVIII, cùng với nhiều địa phương khác ở miền Trung, nhân dân Hà Đông hăng hái tham gia cuộc khởi nghĩa Tây Sơn, tiêu diệt quân Thanh giải phóng đất nước. Những năm 1885-1887, nhân dân huyện nhà tiếp tục nổi dậy đấu tranh chống lại sự thống trị tàn bạo của thực dân Pháp và tay sai. Tiêu biểu cho phong trào là nhân dân đã tham gia cuộc khởi nghĩa Cần Vương do các sĩ phu yêu nước Trần Văn Dư, Nguyễn Duy Hiệu, Phan Bá Phiến lãnh đạo. Liên tiếp từ năm 1906 -1908, nhân dân Núi Thành lại hưởng ứng phong trào Duy Tân do các nhà yêu nước và tiến bộ như: Phan Châu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng, Trần Quý Cáp đề xướng cuộc vận động:“khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh”, phong trào đã thức tỉnh lòng yêu nước và lối sống mới trong các tầng lớp nhân dân. Kế đến phong trào xin “xâu”, chống đi phu, chống thuế. Lên đến đỉnh cao dẫn đến cuộc biểu tình bạo động với quy mô toàn phủ tối ngày 30.3.1908, có trên 3.000 người khắp nơi kéo về bao vây phủ đường Tam Kỳ đòi hỏi tội Đề đốc Trần Tuệ. Sau cuộc biểu tình, địch đàn áp dã man phong trào, nhà yêu nước Trần Thuyết- người dẫn đầu cuộc biểu tình và một số sĩ phu yêu nước khác bị bắt, kết án tử hình, đày ra Côn Đảo và các nhà lao. Mặc dù bị địch đàn áp dã man, nhân dân Núi Thành quyết không chịu khuất phục. Những năm 1915- 1916, nhân dân huyện nhà tham gia tích cực phong trào Việt Nam Quang phục Hội do Thái Phiên, Trần Cao Vân lãnh đạo, đến phong trào đòi ân xá cụ Phan Bội Châu (1925), để tang cụ Phan Châu Trinh (1926). Từ phong trào đòi dân sinh, dân chủ; đấu tranh của công nhân, nông dân chống lại sự bất công, bóc lột của chế độ thực dân, phong kiến; đến cuộc Tổng khởi nghĩa Cách mạng tháng Tám năm 1945 thắng lợi- khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, nhà nước Công-Nông đầu tiên ở Đông Nam Á.
Đó là nhờ: Trong những năm 20 của thế kỷ XX, sau nhiều năm hoạt động không mệt mỏi lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc-Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tìm ra con đường cứu nước đúng đắn cho dân tộc, Người đã tích cực truyền bá vào trong nước. Từ đó, Chủ nghĩa Mác - Lênin từng bước xâm nhập vào Việt Nam, Quảng Nam nói chung, Tam Kỳ - Núi Thành nói riêng. Một số người con của quê hương ra học ở Huế đã nhanh chóng tiếp thu tư tưởng vô sản thông qua tổ chức Hội Việt Nam Cách mạng thanh niên.
Cùng với sự phát triển của phong trào toàn tỉnh, nhất là sau cuộc bãi khoá năm 1927 tại Huế, đồng chí Đỗ Quang (người huyện Quế Sơn), được dự khoá huấn luyện tại Quảng Châu (Trung Quốc) về đứng ra vận động thành lập Ban Vận động Hội Việt Nam cách mạng thanh niên tỉnh Quảng Nam. Tiếp thu tinh thần và phong trào toàn tỉnh, đầu năm 1928, tại Tam Kỳ, các đồng chí Khưu Thúc Cự, Nguyễn Thế Khải, Hồ Đắc Thành, Phan Kỉnh (Phán) và Phạm Cự Hải (người Cẩm Y-Tiên Phước, dạy học ở Tam Kỳ) thành lập tại thị trấn Tam Kỳ một nhóm thanh niên hoạt động cách mạng theo tôn chỉ, mục đích của Hội Việt Nam Cách mạng thanh niên, thông qua tủ sách “Chiêu anh thư quán”, nhóm thanh niên đã tích cực truyền bá tư tưởng vô sản trong lớp thanh niên tiên tiến và những người lớn tuổi đã từng hoạt động trong các phong trào yêu nước trước đó, chuẩn bị cho việc thành lập chính thức tổ chức của Hội.
Bên cạnh hoạt động của Hội Việt Nam Cách mạng thanh niên, ở huyện còn có tổ chức Tân Việt cách mạng Đảng, gọi tắt là Đảng Tân Việt. Đây thực chất là tổ chức chịu ảnh hưởng của Hội Việt Nam cách mạng thanh niên, thành lập tháng 12 năm 1926, nhưng hoạt động của Đảng Tân Việt không có sự ảnh hưởng đối với quần chúng nhân dân bằng Hội Việt Nam cách mạng thanh niên.
Sự hoạt động và ảnh hưởng của nhóm thanh niên Cách mạng ở nội ô thị trấn Tam Kỳ đã lan rộng và phát triển mạnh đến vùng An Hoà (một số xã phía Đông của huyện Núi Thành ngày nay). Năm 1929, các đồng chí Hồ Đắc Thành, Phạm Cự Hải lập ra nhóm thanh niên hoạt động cách mạng tại Bàn Than (thôn Hoà Thuận, xã An Hoà - nay là thôn Thuận An, xã Tam Hải), gồm các ông Võ Minh, Trần Học Giới, Lương Hợp Phố (Lương Học Thực, còn có tên là Ngạt). Sau khi ra đời, nhóm thanh niên dựa vào các tổ chức biến tướng như: Hội nông dân trồng dừa, Hội bóng đá, Hội truyền bá văn thơ của các nhà yêu nước Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh, đọc sách báo mới để tuyên truyền, khêu gợi lòng yêu nước và tư tưởng cách mạng theo học thuyết Mác - Lênin (Chủ nghĩa Cộng sản), đến năm 1932, nhóm cách mạng này chuyển thành nhóm Cứu tế đỏ.
Bên cạnh sự hoạt động của các hội viên trong tổ chức Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên, từ năm 1927 đến 1929 ở địa phương còn xuất hiện nhóm hoạt động yêu nước của các cụ Nguyễn Kế người Vân Trai-Tam Hiệp, Nguyễn Chỉ người Diêm Trường-Tam Giang, Võ Dương người Khương Mỹ-Tam Xuân 1, Trần Xán và Đào Quang Hiển người huyện Phú Ninh… là những người tích cực trong các phong trào đấu tranh yêu nước, có tư tưởng cách mạng quốc gia, từng bị ở tù dưới chế độ thực dân do tham gia cuộc khởi nghĩa Việt Nam Quang phục hội (1916). Các cụ đã lập ra các Hội buôn bán nông lâm sản và thông qua hội này để liên kết những người yêu nước, vận động nhân dân đấu tranh chống chế độ thống trị của bọn thực dân Pháp. Sau khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, hầu hết các thành viên của nhóm đều nhanh chóng chuyển theo đường lối cách mạng vô sản và trở thành đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.
Giữa lúc phong trào cách mạng trong toàn tỉnh và huyện đang có chiều hướng phát triển, đầu tháng 6.1929, Tỉnh bộ Hội Việt Nam cách mạng thanh niên nhận được tin, trong Đại hội của Tổng hội Việt Nam cách mạng thanh niên có sự phân liệt, nhiều nơi xuất hiện truyền đơn kêu gọi thành lập Đông Dương Cộng sản Đảng và hô hào hội viên Hội Việt Nam cách mạng thanh niên gia nhập Đảng. Ngày 17.6.1929, thành lập Đông Dương Cộng sản Đảng ở Bắc Kỳ và tiếp theo đó, tháng 9.1929, Đảng bộ Đông Dương Cộng sản Đảng Quảng Nam được thành lập. Tỉnh uỷ lâm thời có các đồng chí Phan Văn Định, Phạm Thâm, Nguyễn Thái do đồng chí Phan Văn Định làm Bí thư.
Sự xuất hiện ba Đảng Cộng sản (Đông Dương Cộng sản Đảng, An Nam Cộng sản Đảng và Đông Dương Cộng sản Liên đoàn) phản ánh xu thế tất yếu của cách mạng Việt Nam. Nhưng sự hoạt động của ba Đảng Cộng sản trong một nước sẽ phát sinh mâu thuẫn, làm hạn chế sự phát triển của phong trào cách mạng cả nước, đòi hỏi có sự lãnh đạo thống nhất, cần có một tổ chức Cộng sản cao hơn, đủ uy tín đứng ra giải quyết tình trạng phân tán về lãnh đạo cách mạng. Tổ chức Quốc tế Cộng sản đã phân công người lãnh tụ có uy tín và tài năng được giao phó hợp nhất ba Đảng Cộng sản ở Việt Nam là đồng chí Nguyễn Ái Quốc.
Ngày 03.2.1930, dưới sự chủ trì của lãnh tụ Nguyễn, Ái Quốc, Hội nghị hợp nhất thành lập Đảng Cộng sản đã họp ở Cửu Long, gần Hương Cảng (Trung Quốc) và đi đến thống nhất một đảng duy nhất, lấy tên là Đảng Cộng sản Việt Nam chính thức ra đời.
Tại Quảng Nam, sau khi được tin Hội nghị hợp nhất Đảng thắng lợi, Tỉnh bộ lâm thời Đông Dương Cộng sản Quảng Nam thống nhất chủ trương hợp nhất của Trung ương Đảng.
Ngày 28.3.1930, Ban Chấp hành lâm thời Tỉnh Đảng bộ Quảng Nam của Đảng Cộng sản Việt Nam ra Thông cáo về việc thành lập Đảng bộ và công bố: Từ nay chỉ có một Đảng duy nhất là Đảng Cộng sản Việt Nam dẫn đường cho công nhân, nông, binh, nhân dân bị áp bức đấu tranh giành độc lập dân tộc. Ban Chấp hành lâm thời của Đảng bộ tỉnh gồm 3 đồng chí: Phan Văn Định, Phạm Thâm và Nguyễn Thái do đồng chí Phan Văn Định làm Bí thư, đồng chí Phạm Thâm làm Phó bí thư.
Sự ra đời của Đảng bộ tỉnh Quảng Nam, chứng tỏ chủ nghĩa Mác- Lênin đã được tuyên truyền khá sâu rộng trong phong trào cách mạng toàn tỉnh; đặc biệt, sự ra đời của Đảng bộ tỉnh đã giúp cho các địa phương, nhất là những thanh niên yêu nước, những đảng viên thuộc thế hệ đầu tiên đã kịp thời nắm bắt chủ trương, chuyển hướng hoạt động, thành lập các tổ chức đảng cơ sở nhằm đáp ứng yêu cầu của cách mạng.
Tháng 5.1930, tại chùa Ông (phường Phước Hoà, Thành phố Tam Kỳ), chi bộ Đảng Cộng sản Việt Nam huyện Tam Kỳ được thành lập, gồm 3 đồng chí: Hồ Bằng, Phan Kỉnh và Tư Định, do đồng chí Tư Định làm Bí thư, sau đó phát triển thêm đồng chí Khưu Thúc Cự và Hồ Đắc Thành vào Đảng. Đến tháng 10 năm 1930, Quảng Nam xảy ra cuộc khủng bố của giặc, chúng bắt giam nhiều đảng viên và quần chúng cách mạng, phá vỡ nhiều tổ chức cơ sở đảng mới nhen nhóm thành lập. Riêng ở Tam Kỳ, Chi bộ chỉ có 5 đảng viên thì đã bị bắt và kết án 3 người, chi bộ phải tạm thời ngừng hoạt động, các đảng viên còn lại phải tự liên lạc với nơi khác để tiếp tục lãnh đạo phong trào.
Sau vụ bể vỡ tháng 10.1930, phong trào cách mạng toàn tỉnh đang gặp nhiều khó khăn thì ở vùng An Hoà và các xã phía Nam của phủ Tam Kỳ được sự cổ vũ từ phong trào cách mạng Quảng Ngãi. Đầu năm 1932, nhóm thanh niên cách mạng Bàn Than được các đồng chí Hồ Đắc Thành, Phan Kỉnh ra tù về bắt liên lạc và chỉ đạo chuyển thành tổ Cứu tế đỏ (nơi bồi dưỡng quần chúng để kết nạp vào Đảng), hoạt động của nhóm theo Điều lệ và Cương lĩnh của Đảng Cộng sản Đông Dương (Đảng Cộng sản Việt Nam). Tổ gồm có 4 người, do Võ Minh phụ trách, sau thời gian hoạt động tích cực, tổ Cứu tế đỏ Bàn Than đã thành lập được 14 tổ cứu tế đỏ ở các xã, với 70 hội viên. Nội dung hoạt động chủ yếu là học tập, thảo luận Chương trình, Điều lệ Đảng Cộng sản Đông Dương, Đệ Tam Quốc tế, tiểu sử Stalin, tuyên truyền chủ nghĩa yêu nước, vận động ủng hộ, quyên góp tài chính giúp đỡ những đảng viên, hội viên bị địch bắt giam trong các nhà tù; in tài liệu tuyên truyền và phát triển tổ chức hội.
Trước sự phát triển của các tổ chức Cứu tế đỏ, số lượng hội viên ngày càng đông, yêu cầu phải có một tổ chức đảng để lãnh đạo phong trào là nhu cầu bức thiết của cách mạng địa phương. Sau một thời gian nắm bắt tình hình, các đồng chí Võ Minh, Trần Học Giới bắt được liên lạc với Tỉnh uỷ Quảng Ngãi, và được sự giúp đỡ nhiệt tình của Ban Thường vụ Tỉnh uỷ Quảng Ngãi. Ngày 02.12.1932, tại rừng dừa Đồng Dân, thôn Hoà Thuận (nay thôn Thuận An), xã An Hoà (Tam Hải) chi bộ An Hoà được thành lập, lấy tên là “Quang Ánh Minh”; chi bộ gồm 3 đảng viên: Võ Minh, Trần Học Giới và Lương Hợp Phố, do đồng chí Võ Minh làm Bí thư; đến tháng 4 năm 1934, được công nhận chi bộ chính thức, do Ban Thường vụ Tỉnh uỷ Quảng Ngãi trực tiếp chỉ đạo.
Các đồng chí trong chi bộ An Hoà đã tích cực tuyên truyền cách mạng và nhanh chóng thành lập được 3 tổ Cứu tế đỏ, do các đồng chí trong chi bộ trực tiếp phụ trách. Từ đó, nhanh chóng phát triển tổ chức, mở rộng phạm vị hoạt động ra toàn phủ.
Như vậy, chỉ hơn một tháng, sau khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời (03.2.1930); Đảng bộ lâm thời tỉnh Quảng Nam được thành lập (tháng 3.1930). Và chỉ sau hai tháng (5.1930), một chi bộ đảng ra đời tại chùa Ông (Phường Phước Hoà) Tam Kỳ. Sự ra đời chi bộ đảng ở Chùa Ông, Tam Kỳ, bắt nguồn từ truyền thống yêu nước nồng nàn, tinh thần chống áp bức, bóc lột, bất công của nhân dân huyện nhà. Yêu nước nồng nàn, yêu nước chân chính tất yếu dẫn đến Chủ nghĩa Cộng sản. Chủ tịch Hồ Chí Minh sớm tổng kết: Trong thời đại mới, muốn cứu nước và giải phóng dân tộc, không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản. Sự ra đời của chi bộ Cộng sản ở Tam Kỳ- thể hiện xu thế phát triển tất yếu của cách mạng Việt Nam; đã sớm đưa phong trào cách mạng ở Tam Kỳ hoà nhịp với phong trào cách mạng chung của toàn tỉnh Quảng Nam và cả nước.
Đặc biệt, trong thời gian bị địch vây ráp, khủng bố, đàn áp khốc liệt nhưng tại mảnh đất Núi Thành vẫn thành lập được một tổ chức Đảng. Chi bộ Quang Ánh Minh ra đời, đánh dấu một bước phát triển mới, sự khôi phục sớm của phong trào cách mạng ở địa phương, góp phần vào sự ra đời của Phủ uỷ Tam Kỳ, đóng góp tích cực khôi phục Tỉnh uỷ lâm thời Quảng Nam và phong trào cách mạng toàn tỉnh. Đồng thời, qua thực tiễn phong trào cách mạng đã xác định vị trí tổ chức Đảng ở Tam Kỳ trong tiến trình cách mạng của tỉnh Quảng Nam.
Trước sự tuyên truyền, vận động tích cực của các đảng viên trong chi bộ An Hoà, nhất là tập trung xây dựng các tổ chức Cứu tế đỏ - tổ chức “dự bị cộng sản”, nơi để các thanh niên yêu nước và tiến bộ rèn luyện đứng vào hàng ngũ của Đảng, trở thành chỗ dựa vững chắc cho lực lượng quần chúng cách mạng. Đến tháng 4.1933, chi bộ An Hoà kết nạp thêm 6 đảng viên, phát triển 3 tổ Đảng, giác ngộ được hàng chục thanh niên vào tổ chức Thanh niên Cộng sản Đoàn. Tích cực tuyên truyền, vận động nhân dân đấu tranh chống bọn lý hương, cường hào bóc lột, gian lận trong việc thu thuế, tăng thuế, bày vẽ tệ nạn “xôi thịt” cẩn biếu, cúng tế, mê tín, dị đoan, đời sống nhân dân đã đói khổ càng thêm bần cùng…
Sự lãnh đạo của chi bộ An Hoà, nhất là thắng lợi ban đầu qua các cuộc đấu tranh, đã lan toả đến các làng, xã chung quanh An Hoà như làng Vân Trai (Tam Hiệp), Tịch Tây (Tam Nghĩa), Phú Xuân Hạ (Tam Quang)… Và cũng chứng tỏ rằng: “Chủ nghĩa cộng sản” đã lan ra các xã, tác động, cổ vũ phong trào đấu tranh của giai cấp nông dân, công nhân, dẫn đến một số cuộc đấu tranh tự phát của nhân dân lao động chống tệ “xôi thịt”, cẩn biếu và thái độ cường hào của bọn lý hương trong làng, của công nhân chống lại bọn chủ tư sản Pháp. Trong đó, điển hình là cuộc đấu tranh “phá chay” mấy ngày liền của nhân dân làng Phú Xuân Hạ (Tam Quang), của công nhân làm đường xe lửa đoạn Trà Lý- Bích Ngô và ga Trường Xuân (Tam Kỳ) bãi công, đòi giảm giờ làm, phát lương đúng kỳ… những cuộc đấu tranh tự phát, tuy còn hạn chế về quy mô và tổ chức nhưng chứng tỏ có sự ảnh hưởng, lãnh đạo của các đảng viên trong chi bộ An Hoà.
Việc mở rộng phạm vị hoạt động của chi bộ cùng với phong trào đấu tranh công nhân nổ ra liên tục, chi bộ An Hoà không đủ khả năng lãnh đạo, cần có một tổ Đảng cao hơn, lãnh đạo phạm vi rộng hơn, nhất là yêu cầu thành lập lại Tỉnh uỷ Quảng Nam để lãnh đạo trong toàn tỉnh. Trước tình hình bức thiết và hội đủ điều kiện để thành lập một tổ chức đảng cao nhất của tỉnh; thực hiện sự chỉ đạo của Miền uỷ miền Đông Nam bộ, đầu năm 1933, Chi bộ An Hoà tổ chức cuộc Hội nghị tại rừng Định Phước (xã Tam Nghĩa), để kiểm điểm tình hình, bàn nhiệm vụ công tác mới của chi bộ. Nhưng khi vào Hội nghị, nội dung đã chuyển sang bàn và quyết định thành lập lại Tỉnh uỷ lâm thời Quảng Nam (có thể xem đây là một lần Đại hội thành lập Đảng bộ tỉnh Quảng Nam, sau vụ khủng bố tháng 5.1930), Tỉnh uỷ lâm thời mới có ba đồng chí: Võ Minh- Bí thư, Lương Hợp Phố- phụ trách tuyên huấn và đồng chí Trần Học Giới- phụ trách liên lạc, đặt dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Ban cán sự Đảng miền Nam Trung kỳ, ra tờ báo “Cờ đỏ” để tuyên truyền đường lối cách mạng của Đảng. Bắt đầu từ đó, các cơ sở Đảng còn lại ở các phủ, huyện trong tỉnh cũng được chắp nối. Nhiều nơi đã lập lại công hội đỏ, nông hội đỏ, cứu tế đỏ, Thanh niên cộng sản đoàn và phụ nữ cảm tình cộng sản.
Nhiệm vụ của chi bộ An Hoà là tập trung phát triển tổ chức Đảng trong toàn phủ, chỉ trong một thời gian ngắn đã thành lập được một số chi bộ Đảng ở các xã Phú Xuân Hạ (Tam Quang) có 3 đảng viên, Diêm Trường (Tam Giang) có 3 đảng viên, Phú Quý Đại (Tam Mỹ Đông) có 3 đảng viên, Thạnh Trung (Tam Mỹ Tây) có 3 đảng viên, An Hoà (Tam Hải) có 10 đảng viên.
Việc ra đời chi bộ An Hoà và Tỉnh uỷ lâm thời Quảng Nam (lần thứ hai, năm 1933) trên đất Núi Thành,trong khi các phủ huyện trong tỉnh chưa có nơi nào xây dựng lại các tổ chức Đảng trong vụ bể vỡ tháng 10 năm 1930, Núi Thành đã trở thành “cái nôi, bàn đạp” của cách mạng tỉnh Quảng Nam. Được sự giúp đỡ, chỉ đạo sâu sát của Tỉnh uỷ, chỉ trong thời gian ngắn ở các xã Xuân Quang (Tam Quang), Diêm Trường (Tam Giang), Vân Trai (Tam Hiệp), Phú Quý Đại (Tam Mỹ Đông), Thạnh Trung (Tam Mỹ Tây)… đã thành lập được chi bộ Đảng để lãnh đạo quần chúng nhân dân. Lúc này Đảng bộ Phủ Tam Kỳ có 7 chi bộ với 37 đảng viên; gồm: chi bộ An Hoà có 9 đảng viên, do đồng chí Phan Truy làm Bí thư; chi bộ Xuân Quang có 5 đảng viên, do đồng chí Nguyễn Thế Kỷ làm Bí thư; chi bộ Diêm Trường có 8 đảng viên, do đ/c Nguyễn Chỉ (Nguyễn Lược) làm Bí thư; chi bộ Phú Quý có 3 đảng viên, do đ/c Nguyễn Phùng làm Bí thư, chi bộ Thạnh Trung có 4 đảng viên, do đồng chí Bùi Trinh làm Bí thư; chi bộ Mỹ Sơn có 4 đảng viên do đồng chí Võ Toàn (Võ Chí Công) làm Bí thư; chi bộ Tịch Tây có 4 đảng viên do đồng chí Nguyễn Nhật Tấn làm Bí thư. Trước sự phát triển của tổ chức cơ sở đảng, đảng viên và yêu cầu của phong trào cách mạng địa phương, Tỉnh uỷ lâm thời Quảng Nam quyết định thành lập Phủ uỷ lâm thời Tam Kỳ. Ngày 15 tháng 8 năm 1933, tại rừng Định Phước (Tam Nghĩa), Phủ uỷ lâm thời Tam Kỳ được thành lập, gồm các đồng chí Phan Truy, Nguyễn Phùng và Đào Thuần Thăng, do đồng chí Phan Truy làm Bí Thư. Nhiệm vụ chủ yếu của Phủ uỷ lúc này là tập trung đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phát triển tổ chức Đảng và quần chúng trong toàn phủ, đồng thời tổ chức học tập nâng cao nhận thức về Chủ nghĩa Cộng sản và về nhiệm vụ của Đảng bộ. Đến tháng 6 năm 1934, Phủ uỷ tổ chức cuộc họp tại thôn 3, xã An Hoà (Tam Hải) để kiểm điểm tình hình, bàn kế hoạch tiếp tục phát triển tổ chức Đảng và quần chúng ở những xã chưa có chi bộ, tuyên truyền phát huy ảnh hưởng Đảng trong quần chúng, vận động tài chính cho Đảng. Hội nghị đã bầu đồng chí Nguyễn Phùng làm Bí thư thay cho đồng chí Phan Truy- Hội nghị này được xem là Đại hội đầu tiên của Đảng bộ các huyện Núi Thành, Phú Ninh và thành phố Tam Kỳ hiện nay.
Sự ra đời của Phủ uỷ lâm thời Tam Kỳ là mốc lịch sử quan trọng, tạo điều kiện cho phong trào cách mạng ở địa phương vượt qua khó khăn, thử thách để phát triển đi lên, hoà cùng phong trào cách mạng chung của toàn tỉnh và của cả nước, thực hiện cuộc cách mạng đấu tranh dân tộc dân chủ dưới ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo.
Ngày 02 tháng 12 năm 1932, chi bộ An Hoà (Quang Ánh Minh)- chi bộ đầu tiên của Đảng bộ huyện ra đời; trên cơ sở phát triển của chi bộ An Hoà và tình hình cách mạng của địa phương, ngày 15 tháng 8 năm 1933, Phủ uỷ Tam Kỳ được thành lập. Hơn 80 năm xây dựng và trưởng thành, Đảng bộ đã lãnh đạo nhân dân góp phần làm nên cuộc khởi nghĩa cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công. Vượt qua khó khăn, thử thách, 30 năm kiên cường đấu tranh chống thực dân, đế quốc xâm lược, giải phóng quê hương, cùng cả nước giải phóng hoàn toàn miền Nam thống nhất Tổ quốc, đưa cả nước đi lên xây dựng Chủ nghĩa Xã hội vào đúng ngày 30/4/1975.
Sau ngày miền Nam hoàn toàn được giải phóng, Đảng bộ huyện tiếp tục lãnh đạo nhân dân tháo gỡ bom mìn, khai hoang phục hoá, phát triển sản xuất. Đổi mới cơ chế lãnh đạo, từng bước đưa huyện nhà phát triển toàn diện về mọi mặt.
Sự ra đời sớm tổ chức Đảng ở phủ Tam Kỳ không phải là ngẫu nhiên, nó do nhiều yếu tố, mà yếu tố cơ bản nhất, quan trọng nhất là truyền thống yêu nước nồng nàn của nhân dân Núi Thành. Truyền thống tốt đẹp đó đã được các thế hệ người dân Núi Thành kế thừa, phát huy, tiếp tục phát triển cho đến ngày hôm nay. Đây là cơ sở quan trọng để Núi Thành tiếp tục viết tiếp những trang sử mới trong chặng đường cách mạng mới hiện nay và cho cả các thế hệ mai sau.
Đây là mốc lịch sử quan trọng, một sự kiện có ý nghĩa vô cùng to lớn của phong trào cách mạng ở địa phương. 80 năm qua, cùng với cả nước,
Phủ uỷ Tam Kỳ, sau này là Huyện uỷ Núi Thành đã lãnh đạo nhân dân đấu tranh giành độc lập dân tộc, giải phóng quê hương, góp phần to lớn vào sự nghiệp cách mạng của Đảng. Từ ngày quê hương hoàn toàn giải phóng đến nay, huyện Núi Thành – vùng trọng điểm Khu kinh tế mở Chu Lai không ngừng phát triển về mọi mặt.



