Bài viết

Phong trào Cần Vương

Tây Ninh28/04/2026Ban Biên tập tổng hợp3 lượt xem0 lượt chia sẻ

Phong trào Cần Vương

Bài chi tiết: Phong trào Cần Vương

Sau khi nhà Nguyễn ký Hòa ước Giáp Thân (1884), Đại Nam chính thức bị mất đi độc lập, bị chia cắt thành 3 miền và trở thành thuộc địa của Pháp ở Đông Nam Á. Nhưng phái chủ chiến trong triều đình và các địa phương, đứng đầu là Tôn Thất Thuyết và Nguyễn Văn Tường vẫn mưu khôi phục, xây dựng lực lượng, đưa Nguyễn Phúc Ưng Lịch lên ngôi vua (Hàm Nghi). Những hành động của phái chủ chiến khiến cho Pháp lo lắng và tìm cách tiêu diệt phái này.

Trước sự uy hiếp đó, Tôn Thất Thuyết quyết định ra tay trước giành thế chủ động. Đêm mùng 4 tháng 7 năm 1885, quân Phấn nghĩa của Tôn Thất Thuyết mở trận phản công ở Kinh thành Huế nhưng sau đó bị quân Pháp đẩy lùi, triều đình Hàm Nghi lui về Quảng Trị, rồi Hà Tĩnh. Ngày 13 tháng 7, Chiếu Cần Vương được ban ra, phái chủ chiến và các thổ hào ở các địa phương khởi nghĩa hưởng ứng, tạo nên phong trào Cần Vương.

Các cuộc khởi nghĩa nổ ra rộng khắp và tập trung nhất ở các tỉnh đồng bằng nhưng cũng vì đó mà quân đội Pháp có thể dùng những ưu thế về hỏa lực để đàn áp các nghĩa quân. Các cuộc khởi nghĩa tiêu biểu thời kỳ này gồm có: khởi nghĩa Ba Đình, khởi nghĩa Nghệ An, khởi nghĩa Bình Định, khởi nghĩa Thái Bình, Nam Định, hoạt động của Nghĩa hội Quảng Nam...

Các thủ lĩnh tiêu biểu thời kỳ này gồm có: Mai Xuân Thưởng, Lê Trung Đình, Nguyễn Tự Tân, Nguyễn Duy Hiệu, Trần Văn Dư, Phan Thanh Phiến, Trương Đình Hội, Nguyễn Tự Tân, Lê Ninh, Phan Đình Phùng, Cao Thắng, Nguyễn Xuân Ôn, Phạm Bành, Đinh Công Tráng, Cầm Bá Thước, Nguyễn Quang Bích, Nguyễn Đức Ngữ, Hoàng Văn Thuý, Cầm Văn Thanh, Đèo Văn Trị, Đèo Văn Toa, Nguyễn Văn Giáp, Tạ Hiện, Nguyễn Thiện Thuật, Hoàng Đình Kinh,...

Năm 1888, vua Hàm Nghi bị bắt, phong trào bị suy yếu. Các lực lượng nghĩa quân bị đẩy lùi về các khu vực thượng du, trung du hay vùng lau sậy rậm rạp như Hùng Lĩnh của Tống Duy Tân, Thanh Sơn của Đốc Ngữ, Rừng Già của Đề Kiều, Bãi Sậy, Hai Sông của Nguyễn Thiện Thuật, Hương Khê của Phan Đình Phùng và Cao Thắng...

Tại Hùng Lĩnh, nghĩa quân bị đẩy lùi về miền tây Thanh Hoá. Năm 1892, Tống Duy Tân bị bắt, Cao Điển trốn ra Bắc, khởi nghĩa tan rã.

Tại vùng núi phía Bắc, khi các thủ lĩnh Đốc Ngữ bị sát hại (1892), Đề Kiều ra hàng, phong trào suy yếu và tan rã.

Tại Bãi Sậy, tháng 7 năm 1889, Nguyễn Thiện Thuật lánh sang Trung Quốc, các căn cứ Bãi Sậy, Hai Sông lần lượt bị vỡ. Tới năm 1892 thì khởi nghĩa Bãi Sậy tan rã.

Sau năm 1892, phong trào giờ chỉ còn duy nhất nghĩa quân Hương Khê của Phan Đình Phùng. Cuối năm 1895, Phan Đình Phùng trúng đạn tử thương. Đến đầu năm 1896, quân Pháp và Nguyễn Thân đàn áp xong cuộc khởi nghĩa Hương Khê.

Phong trào Cần Vương là phong trào cuối cùng của ý thức hệ phong kiến trong phong trào cách mạng giải phóng dân tộc ở Việt Nam.

Ngoài ra, thời kỳ này còn có khởi nghĩa Yên Thế. Mặc dù thủ lĩnh tối cao của cuộc khởi nghĩa này là Hoàng Hoa Thám có liên quan tới phong trào Cần Vương, nhưng cuộc khởi nghĩa vẫn được xem là khởi nghĩa nông dân tự phát. Cuộc khởi nghĩa này kéo dài tới năm 1913.

Phong trào trước Thế chiến IBài chi tiết: Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh, và Đông Kinh nghĩa thục

Đầu thế kỷ 20, Phan Bội Châu tổ chức phong trào Đông Du nhằm mục đích kêu gọi thanh niên người Việt ra ngoại quốc, chủ yếu là Nhật Bản, để học tập và chuẩn bị lực lượng chờ thời cơ hồi hương đấu tranh giành độc lập. Phan Châu Trinh đề xuất tư tưởng dân quyền, "tự lực khai hóa", với khẩu hiệu "khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh" để giải phóng dân tộc.

Năm 1904, Phan Bội Châu thành lập Duy Tân hội tại Quảng Nam, lấy đó làm lực lượng nòng cốt cổ động và thực hiện phong trào Đông Du. Tổ chức này hoạt động tuyên truyền chống Pháp và tồn tại cho đến năm 1912 thì giải tán. Rút kinh nghiệm từ Duy Tân hội, Phan Bội Châu thành lập Việt Nam Quang phục Hội ở Quảng Châu (Trung Quốc). Hội cũng thành lập Việt Nam Quang phục quân do Hoàng Trọng Mậu và Lương Lập Nham tổ chức và huấn luyện để có thể đánh về Việt Nam.[1]

Năm 1906, Phan Châu Trinh đề xướng phong trào Duy Tân. Phong trào phát triển mạnh và hai năm sau đã làm bùng lên phong trào chống sưu thuế Trung Kỳ 1908.

Năm 1907, Lương Văn Can, Nguyễn Quyền, Đào Nguyên Phổ và những người cùng chí hướng đã lập ra phong trào Đông Kinh Nghĩa Thục (東京義塾) nhằm thực hiện cải cách xã hội Việt Nam. Mục đích của phong trào là nâng cao dân trí trong các tầng lớp người Việt. Ban tổ chức đã mở những lớp dạy học miễn phí và tổ chức những cuộc diễn thuyết để trao đổi các tư tưởng tiến bộ, mới mẻ, văn minh, và cổ động trong dân chúng.

Năm 1908, các bồi bếp và lính khố xanh, lính khố đỏ trong quân đội Pháp đóng ở thành Hà Nội đã làm nên vụ Hà Thành đầu độc nhằm mưu sát các sĩ quan, thượng cấp người da trắng và gây binh biến. Kế hoạch đầu độc lính Pháp này có sự tiếp ứng và chỉ đạo từ bên ngoài của nghĩa quân Yên Thế, cùng với sự tham gia của Phan Bội Châu trong việc vạch kế hoạch để tạo cuộc khởi nghĩa. Cuộc binh biến đã bị đàn áp và thất bại. Năm 1909, quân đội thực dân tổ chức cuộc tấn công quy mô lớn vào căn cứ Yên Thế, cơ bản xóa sổ cuộc khởi nghĩa.

Năm 1911, Nguyễn Tất Thành xuất dương đến Pháp tìm hiểu về Pháp và các nước Phương Tây, để tìm ra biện pháp thích hợp nhằm giải phóng dân tộc Việt Nam.

Trong khoảng thời gian này, tại Nam Kỳ xuất hiện nhiều tổ chức hội kín tự phát (với nhiều tên gọi khác nhau, số lượng khoảng 70-80 nhóm). Năm 1912, Phan Xích Long được tôn lên làm minh chủ, trở thành lãnh đạo Phong trào hội kín Nam Kỳ với mục tiêu lật đổ thực dân, tôn Phan (tự nhận là con vua Hàm Nghi) lên làm Hoàng đế. Năm 1913, nhiều tổ chức hội kín bị vỡ, Phan Xích Long bị bắt sau âm mưu đánh bom Sài Gòn.

Trong Thế chiến IBài chi tiết: Việt Nam Quang phục HộiVụ mưu khởi nghĩa ở Huế (1916)

Từ năm 1914 đến năm 1918, thế giới bước vào cuộc Chiến tranh thế giới thứ nhất. Đây cũng là thời kỳ Việt Nam Quang phục Hội hoạt động mạnh ở trong nước, bất chấp việc Phan Bội Châu lúc này đang bị chính quyền Trung Hoa Dân quốc bắt giam. Dù ở trong tù, Phan Bội Châu vẫn lên kế hoạch cho cuộc tấn công vào các tỉnh biên giới Việt-Trung với trọng tâm là Cao Bằng: Hoàng Trọng Mậu và Nguyễn Hải Thần đánh Cao Bằng, Nguyễn Mạnh Hiếu đánh Móng Cái, Hoàng Trọng Mậu đánh Lạng Sơn. Đỗ Chân Thiết cùng Chi bộ Vân Nam mở mặt trận phối hợp ở tuyến đường sắt Vân Nam – Hải Phòng.

Tuy nhiên, cuối tháng 9, đầu tháng 10 năm 1914, thực dân Pháp tiến hành vây bắt, Đỗ Chân Thiết và 58 người khác bị xử tử vì âm mưu đánh chiếm Hà Nội. Do bất đồng ý kiến, kế hoạch tấn công biên giới cũng đổ bể sau thất bại ở Tà Lùng (Cao Bằng) vào ngày 3 tháng 3 năm 1915.[1]

Sau đó, các Chi bộ Việt Nam Quang phục Hội ở trong nước mở các cuộc tấn công, tập kích vào các căn cứ của Pháp như tỉnh lị Phú Thọ (6 tháng 1, 1915), Nho Quan, Lục Nam (tháng 10 năm 1914), Bát Xát (8 tháng 8, 1916), Đồng Văn (3 tháng 3, 1917)... nhưng cuối cùng đều thất bại. Ngày 28 tháng 5 năm 1915, khoảng hai trăm tù nhân ngục Lao Bảo (Quảng Trị) do Liêu Thanh, Hồ Bá Kiện (từng tham gia phong trào Đông Du) chỉ huy đã giết cai ngục, phá nhà tù, trốn sang phía tây, nhưng hầu hết đều chết trong rừng.[2]

Năm 1915, các hội kín ở Nam Kỳ tiến hành đấu tranh chống lại việc chính quyền thuộc địa bắt lính. Năm 1916, khoảng 300 hội viên do Nguyễn Hữu Trí dẫn đầu mở cuộc tấn công vào Sài Gòn hòng phá ngục giải cứu Phan Xích Long. Cuộc tấn công bị đánh tan, Phan Xích Long sau đó bị xử tử.[3]

Từ năm 1915 đến đầu năm 1916, các lãnh đạo của Việt Nam Quang phục Hội ở Trung Kỳ là Thái Phiên, Trần Cao Vân, Lê Ngung, Phan Thành Tài, Nguyễn Thụy, Phạm Cao Chẩm,... quyết định liên hệ với vua Duy Tân để tiến hành cuộc nổi dậy kinh đô Huế cũng như các tỉnh Quảng Bình, Quảng Nam, Quảng Ngãi,... Cuộc nổi dậy dự kiến được phát động vào ngày 3 tháng 5 năm 1916 (1 tháng 4 năm Bính Thìn), nhưng do bị lộ từ trước nên thất bại. Thái Phiên, Trần Cao Vân, Tôn Thất Đề, Nguyễn Quang Siêu bị xử chém, còn vua Duy Tân bị lưu đày ở Réunion.[4]

Từ Thế chiến I cho đến trước 1925

Năm 1923, tại Quảng Châu, Trung Quốc, do bất đồng với tư tưởng bảo thủ của nhóm cao niên trong Việt Nam Quang phục Hội, Lê Hồng Phong, Hồ Tùng Mậu, Lê Hồng Sơn, Phạm Hồng Thái, Lâm Đức Thụ đã tách ra riêng và thành lập Tân Việt Thanh niên Đoàn (Tâm Tâm Xã). Để thức tỉnh đồng bào và gây thanh thế, ngày 19 tháng 6 năm 1924, Phạm Hồng Thái của Tân Việt Thanh niên Đoàn đã mưu sát toàn quyền Đông Dương Merlin tại khách sạn Victoria, Quảng Châu, Trung Quốc. Phạm Hồng Thái đã hy sinh và sự kiện này đã gây chấn động dư luận trong và ngoài Việt Nam.[5]

Cuối năm 1924, Nguyễn Ái Quốc đến Quảng Châu và thuyết phục được những thành viên ưu tú của Tân Việt Thanh niên Đoàn tham gia thành lập Việt Nam Thanh niên Cách mạng Đồng chí Hội và họ đã trở thành những hạt nhân của tổ chức này. Tổ chức này cũng là một trong những tiền thân của Đảng Cộng sản Đông Dương. Tháng 2 năm 1925, Tân Việt Thanh niên Đoàn giải tán và chuyển thành Cộng sản Đoàn.[6]

Ngày 15 tháng 10, 1923, chí sĩ Nguyễn An Ninh phát biểu bài diễn thuyết tại Hội Khuyến học Nam Kỳ. Những lời lẽ của Nguyễn An Ninh được cho là tiếng chuông khơi động sự "thức tỉnh đồng bào" về sự cần thiết nâng cao dân trí, xây dựng một nền văn hóa dân tộc. Tháng 12, Nguyễn An Ninh cho xuất bản báo La Cloche Fêlée (Chuông rè) để đấu tranh bằng ngòi bút.[7]

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn