PHONG TRÀO ĐỒNG KHỞI - BƯỚC NGOẶT CHUYỂN MÌNH CỦA CÁCH MẠNG MIỀN NAM
Lại Khánh Ly
Phong trào Đồng Khởi (1959 - 1960) là một sự kiện lịch sử có ý nghĩa chiến lược to lớn, đánh dấu bước chuyển phát triển nhảy vọt của cách mạng miền Nam từ thế giữ gìn lực lượng sang thế tiến công. Sau Hiệp định Geneva năm 1954, chính quyền Ngô Đình Diệm với sự hậu thuẫn của Mỹ đã thi hành chính sách "tố cộng, diệt cộng" tàn khốc, đỉnh cao là việc ban hành Luật 10/59, đặt cộng sản ra ngoài vòng pháp luật và kéo lê máy chém khắp miền Nam. Trước sự khủng bố đẫm máu làm tổn thất nghiêm trọng các cơ sở cách mạng, tháng 1 năm 1959, Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ 15 đã họp và ban hành Nghị quyết 15, xác định con đường phát triển của cách mạng miền Nam là khởi nghĩa giành chính quyền về tay nhân dân bằng con đường bạo lực cách mạng, kết hợp đấu tranh chính trị với đấu tranh vũ trang. Nghị quyết này như luồng gió bạt ngàn thổi bùng lên ngọn lửa căm hờn đã tích tụ bấy lâu của nhân dân miền Nam.
Phong trào nổ ra sớm nhất tại tiếng súng ở Vĩnh Thạnh (Bình Định) và Bác Ái (Ninh Thuận) vào năm 1959, nhưng đỉnh cao và lan tỏa mạnh mẽ nhất là cuộc Đồng Khởi tại tỉnh Bến Tre vào đầu năm 1960. Dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Tỉnh ủy Bến Tre, đứng đầu là nữ tướng Nguyễn Thị Định, ngày 17 tháng 1 năm 1960, cuộc khởi nghĩa đồng loạt bùng nổ tại ba xã Định Thủy, Phước Hiệp, Bình Khánh thuộc huyện Mỏ Cày, sau đó nhanh chóng lan rộng ra toàn tỉnh. Quần chúng nhân dân với vũ khí thô sơ như gậy gộc, giáo mác, kết hợp cùng các đơn vị vũ trang non trẻ đã nổi dậy uy hiếp đồn bốt, diệt ác ôn, phá vỡ hệ thống kìm kẹp của chính quyền cơ sở cũ. Điểm độc đáo của Đồng Khởi Bến Tre là sự ra đời của "Đội quân tóc dài" – lực lượng đấu tranh chính trị chính trực của phụ nữ miền Nam, sử dụng chiến thuật "ba mũi giáp công" (chính trị, binh vận và vũ trang) để trực tiếp đối mặt và làm tê liệt các cuộc hành quân càn quét của quân đội Sài Gòn.
Sức nóng của ngọn lửa Đồng Khởi từ Bến Tre đã nhanh chóng lan tỏa thành một cao trào rộng khắp, thiêu rụi từng mảng lớn chính quyền cơ sở của đối phương từ nông thôn, đồng bằng sông Cửu Long, miền Trung đến Tây Nguyên. Tại các vùng giải phóng, nhân dân đã thiết lập chính quyền tự quản, tịch thu ruộng đất của địa chủ phản động chia cho dân cày nghèo, thành lập các đội du kích địa phương và xây dựng làng xã chiến đấu. Từ trong bão táp của phong trào, ngày 20 tháng 12 năm 1960, Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam chính thức được thành lập nhằm tập hợp rộng rãi các tầng lớp nhân dân yêu nước đứng lên chống Mỹ - Diệm. Sự ra đời của Mặt trận đã tạo nên một chỉnh thể lãnh đạo thống nhất cho cuộc đấu tranh chính trị và quân sự ở miền Nam.
Ý nghĩa lịch sử của phong trào Đồng Khởi vô cùng sâu sắc. Thắng lợi này đã làm lung lay tận gốc rễ chính quyền phát xít Ngô Đình Diệm, giáng một đòn chí mạng vào chính sách thực dân mới của Mỹ, làm phá sản hoàn toàn hình thức thống trị bằng chủ nghĩa khủng bố đơn thuần. Đồng Khởi đã đưa cách mạng miền Nam bước sang một giai đoạn mới: chuyển từ thế phòng ngự, giữ gìn lực lượng sang thế chủ động tiến công, từ khởi nghĩa từng phần tiến lên chiến tranh cách mạng toàn diện. Kết quả vĩ đại này đã buộc chính giới Washington phải thay đổi chiến lược, từ bỏ việc dùng chính quyền tay sai đơn thuần để chuyển sang áp dụng chiến lược quân sự quy mô hơn mang tên "Chiến tranh đặc biệt".



