Khác

Phong trào Đồng Khởi, bước ngoặt của cách mạng miền Nam

Sau chiến thắng Trận Điện Biên Phủ và việc ký Hiệp định Giơ-ne-vơ, đất nước tạm thời bị chia cắt hai miền. Ở miền Nam, Mỹ thay chân Pháp, dựng chính quyền Ngô Đình Diệm, tiến hành đàn áp phong trào cách mạng. Trước tình hình đó, tháng 1/1959, Trung ương Đảng ban hành Nghị quyết 15, xác định con đường đấu tranh cho cách mạng miền Nam, tạo tiền đề bùng nổ phong trào Đồng Khởi. Ngày 17/1/1960, Đồng Khởi bắt đầu tại Định Thủy (Mỏ Cày, Bến Tre), nhanh chóng lan rộng khắp tỉnh và nhiều địa phương khá

Vĩnh Long23/02/2026Võ Nguyễn Đức Huy (xã Phước Long)2 lượt xem0 lượt chia sẻ

Sau chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ (7/5/1974) lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu, Hiệp định Giơ-ne-vơ được ký kết, đất nước ta tạm thời bị chia làm hai miền Nam Bắc, chờ ngày tổng tuyển cử. Tuy nhiên, ở miền Nam, Mỹ đã nhảy vào hất cẳng Pháp, thiết lập chính quyền Ngô Đình Diệm và quân đội tay sai, hòng thực hiện mưu đồ xâm lược, chia cắt lâu dài, vĩnh viễn đất nước ta. Chúng tiến hành nhiều cuộc thảm sát đẫm máu, lê máy chém khắp thôn cùng ngõ vắng, thẳng tay đàn áp, giết hại những người yêu nước, triệt phá tổ chức và tư tưởng cách mạng. Mặc dù gặp muôn vàn khó khăn, tổn thất, nhưng nhận rõ bản chất xâm lược của Mỹ và bè lũ tay sai bán nước, đông đảo quần chúng cách mạng ở miền Nam đã kết thành một khối, siết chặt đội ngũ, chờ thời cơ, sẵn sàng hành động.

Trong bối cảnh ấy, tháng 1/1959, Nghị quyết 15 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng về "Tăng cường đoàn kết, kiên quyết đấu tranh giữ gìn hòa bình, thực hiện thống nhất đất nước” ra đời, đã nêu rõ mục tiêu, con đường của cách mạng miền Nam. Với đường lối đúng đắn, nghị quyết đã thổi bùng lên ngọn lửa cách mạng, là “pháo lệnh” cho công cuộc Đồng Khởi ở miền Nam Việt Nam đầu năm 1960.

Sáng 17/1/1960, tại xã Định Thủy, huyện Mỏ Cày, tỉnh Bến Tre, “tổ hành động” đã vùng lên đánh chiếm Tổng đoàn dân vệ đóng tại đình Định Phước, thu toàn bộ súng đạn, mở đầu cuộc Đồng Khởi. Cũng trong ngày 17, 18/1/1960, cuộc nổi dậy đã nổ ra ở Bình Khánh, Phước Hiệp và nhiều xã khác trong huyện Mỏ Cày, rồi như nước vỡ bờ, lan rộng. Được các “tổ hành động” làm nòng cốt, khắp làng trên xóm dưới, Nhân dân Bến Tre đồng tâm nổi dậy, với gậy gộc, giáo mác, nổi trống gõ mõ hừng hực khí thế tập trung bao vây, bức rút, bức hàng đồn bốt của quân xâm lăng và bè lũ bán nước. Theo các tư liệu lịch sử, chỉ sau tuần lễ Đồng Khởi, lực lượng vũ trang và Nhân dân đã liên tiếp giáng cho chúng những đòn chí tử, bức rút, bức hàng 20 đồn bốt, thu hàng trăm súng...

Và trước phong trào cách mạng như vũ bão, Mỹ - Diệm đã phải vội vã đưa hơn 10.000 quân hỗn hợp đến Bến Tre bao vây hòng đàn áp quân và dân ta ở 3 xã Định Thủy, Bình Khánh, Phước Hiệp. Nhưng rồi, bằng sự vững vàng, mưu trí, sáng tạo nghệ thuật chiến tranh Nhân dân, kết hợp chặt chẽ giữa chính trị, quân sự và binh vận, Ban Chỉ huy Đồng Khởi đã lãnh đạo Nhân dân đấu tranh, khiến giặc bối rối, binh sĩ hoang mang và buộc phải rút lui.

Càng đấu tranh càng thắng lợi, Nhân dân Bến Tre càng hăng hái tham gia phong trào cách mạng. Đến cuối năm 1960, ta đã giải phóng hoàn toàn 51/115 xã, 21 xã giải phóng một phần, hơn 80.000 mẫu ruộng được chia cho dân nghèo. Hệ thống kìm kẹp của địch ở nông thôn bị phá rỡ từng mảng lớn. Đảng bộ Bến Tre phát triển mạnh rõ rệt, lực lượng vũ trang không ngừng lớn mạnh với sự ra đời của những “Đội quân tóc dài” vang danh một thuở.

Như cố Đại tướng Hoàng Văn Thái, nguyên Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Ủy viên Thường trực Đảng ủy Quân sự Trung ương đã khẳng định: “Phong trào Đồng Khởi 1960 là mô hình hoàn chỉnh của khởi nghĩa toàn dân, của khởi nghĩa nông thôn đồng bằng. Nó thúc đẩy toàn Nam bộ nổi dậy chống Mỹ cứu nước với khí thế long trời lở đất”... Thật vậy, sau thắng lợi vang dội ở Bến Tre, Phong trào Đồng Khởi đã bùng phát, lan rộng từ Đông Nam bộ, Tây Nguyên đến các tỉnh miền Tây đồng bằng khu 5 và cả những đô thị như Sài Gòn - Gia Định... Cũng từ trong phong trào, đã diễn ra trận đánh lớn đầu tiên của lực lượng vũ trang miền Nam, đánh dấu bước phát triển mạnh mẽ về trình độ tổ chức, chỉ huy và khả năng tác chiến của bộ đội ta - chiến thắng Tua Hai ở Tây Ninh ngày 26/1/1960.

Tính đến cuối năm 1960, ta đã giành quyền làm chủ ở 1.363 xã trên toàn miền Nam (trong đó, Nam bộ là 984 xã, khu 5 là 379 xã), giải phóng 5,6 triệu dân. Phong trào đã huy động được hàng triệu người tham gia đấu tranh chính trị trực diện, thu lại 17 vạn héc-ta đất bị Mỹ - Diệm cướp trả về cho nông dân. Cả một vùng căn cứ cách mạng rộng lớn có ý nghĩa chiến lược đã được hình thành, nối từ Tây Nguyên xuống miền Đông, miền Tây Nam bộ và các tỉnh đồng bằng khu 5. Chẳng những vậy, lực lượng vũ trang ba thứ quân và hệ thống chỉ huy quân sự các cấp được thành lập, các căn cứ địa cách mạng được khôi phục, mở rộng; tuyến đường huyết mạch Trường Sơn - Hồ Chí Minh và trên biển tuyến đường biển được hình thành và phát triển... góp phần hiện thực hóa quyết tâm “tất cả vì miền Nam ruột thịt, tất cả để đánh thắng giặc Mỹ xâm lược” của quân dân hai miền Nam - Bắc.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn