Khác

Phong trào Nam tiến 1945-1946

Từ ngày Nam Bộ kháng chiến (23 tháng 9 năm 1945) đến trước ngày toàn quốc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (19 tháng 12 năm 1946), một phong trào Nam tiến, hướng về Nam Bộ, chi viện sức người, sức của cho Nam Bộ kháng chiến đã bùng nổ sôi nổi, mạnh mẽ, rộng khắp các tỉnh Bắc Bộ, Trung Bộ và trong các cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài. Tiếp nối tinh thần quật khởi, toàn dân nhất tề đứng lên, đập tan chế độ thực dân phong kiến, giành lại độc lập dân tộc trong Cách mạng tháng Tám, phong

Lai Châu24/03/2026NXB Quân Đội Nhân Dân (Sìn Hồ)2 lượt xem0 lượt chia sẻ

GỬI ĐỒNG BÀO NAM BỘ

Hỡi đồng bào Nam Bộ!

Nước ta vừa tranh quyền độc lập, thì đã gặp nạn ngoại xâm. Khi còn chiến tranh với Nhật, thì bọn thực dân Pháp hoặc đầu hàng hoặc chạy trốn. Nay vừa hết chiến tranh thì bọn thực dân Pháp hoặc bí mật hoặc công khai mò lại. Trong 4 năm, họ đã bán nước ta hai lần. Nay họ lại muốn thống trị dân ta lần nữa.


Tôi chắc và đồng bào cả nước đều chắc vào lòng kiên quyết ái quốc của đồng bào Nam Bộ. Chúng ta nên nhớ lời nói oanh liệt của nhà đại cách mạng Pháp: "Thà chết tự do hơn sống nô lệ".

Tôi chắc và đồng bào Nam Bộ cũng chắc rằng Chính phủ và toàn quốc đồng bào sẽ hết sức giúp những chiến sĩ và nhân dân hiện đang hy sinh tranh đấu để giữ vững nền độc lập của nước nhà.

Tôi chắc và tất cả đồng bào đều chắc rằng những người và những dân tộc yêu chuộng bình đẳng tự do trên thế giới đều đồng tình với chúng ta.

Chúng ta nhất định thắng lợi vì chúng ta có lực lượng đoàn kết của cả quốc dân.

Chúng ta nhất định thắng lợi vì cuộc tranh đấu của chúng ta là chính đáng.

Tôi chỉ muốn dặn đồng bào Nam Bộ một lời: "Đối với những người Pháp bị bắt trong lúc chiến tranh, ta phải canh phòng cẩn thận, nhưng phải đối đãi với họ cho khoan hồng. Phải làm cho thế giới trước hết là làm cho dân Pháp biết rằng: chúng ta là quang minh chính đại. Chúng ta chỉ đòi quyền độc lập tự do, chứ chúng ta không vì tư thù tư oán, làm cho thế giới biết rằng chúng ta là một dân tộc văn minh, văn minh hơn bọn đi giết người cướp nước".

Nước Nam độc lập muôn năm.
Đồng bào Nam Bộ muôn năm.


Hà Nội, ngày 26 tháng 9 năm 1945

Báo Cứu quốc, số 54, ngày 29-9-1945

Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế

quansuvn

Moderator
*
Bài viết: 7340



WWW

Phong trào Nam tiến 1945-1946« Trả lời #2 vào lúc: 20 Tháng Năm, 2021, 08:18:04 pm »
NAM BỘ KHÁNG CHIẾN

Nhạc và lời: TẠ THANH SƠN

Mùa thu rồi ngày hăm ba ta đi theo tiếng kêu sơn hà nguy biến.

Rền khắp trời lời hoan hô dân quân.

Nam nhịp chân tiến ra trận tiền.

Thuốc súng kém chân đi không mà lòng người giàu lòng vì nước.

Nóp với giáo mang ngang vai nhưng thân trai nào kém oai hùng.

Cờ thắm tung bay ngang trời, sao vàng xao xuyến khắp nơi bưng biền.

Một lòng nguyện với tổ tiên.

Thề quyết chống ngoại xâm.

Thề quyết chống quân gian tham.

Ta đem thân ta liều cho nước.

Ta đem thân ta đền ơn trước.

Muôn thu sau lưu tiếng anh hào.

Người dân Việt Nam lắm chí cao

Xây giang san hạnh phúc muôn đời.

Nền độc lập khắp nước Nam.

Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế

quansuvn

Moderator
*
Bài viết: 7340



WWW

Phong trào Nam tiến 1945-1946« Trả lời #3 vào lúc: 21 Tháng Năm, 2021, 09:55:05 pm »
NHỮNG NGÀY ĐẦU KHÁNG CHIẾN Ở
MIỀN NAM VÀ CUỘC NAM TIẾN TRONG THỜI ĐẠI MỚI


Trung tướng PGS NGUYỄN ĐÌNH ƯỚC
Viện trưởng Viện Lịch sử quân sự Viêt Nam

Cách đây 52 năm, vào lúc rạng sáng ngày 23 tháng 9 năm 1945, được quân Anh giúp sức, thực dân Pháp đã nổ súng đánh chiếm Sài Gòn, mở đầu cuộc chiến tranh xâm lược nước ta lần thứ hai.

Sôi sục căm thù quân cướp nước, kiên quyết bảo vệ độc lập tự do vừa giành được trong Tổng khởi nghĩa tháng Tám, quân dân Sài Gòn dưới sự lãnh đạo của Đảng đã nhất tề vùng dậy bằng mọi thứ vũ khí có trong tay tiến hành cuộc chiến tranh cách mạng, anh dũng đánh trả quân địch ở tất cả các đường phố xung yếu, các đầu cầu, vây chặt chúng trong thành phố.


Thực hiện mệnh lệnh chiến đấu của Ủy ban kháng chiến Nam Bộ, ngay từ chiều ngày 23 tháng 9, nhân dân Sài Gòn đã triệt để tổng đình công, bãi công, bãi khóa, bất hợp tác với giặc. Các công sở, hãng buôn, nhà máy đều đóng cửa. Chợ không họp. Chướng ngại vật mọc lên khắp nơi. Nhiều vị trí đóng quân, kho tàng của địch bị đánh phá. Điện nước bị cắt. Công nhân các nhà máy vừa làm nòng cốt trong các hoạt động kháng chiến trong thành phố, vừa khẩn trương chuyển máy móc thiết bị ra ngoại thành, đến các vị trí an toàn để lập công binh xưởng. Các trận đánh ác liệt của quân và dân ta ở Cầu Bông, Thị Nghè, Khánh Hội, Gia Định, Đa Cao... đã gây cho địch nhiều tổn thất nặng nề. Chỉ trong tuần lễ đầu hàng trăm tên giặc đã phải đền tội. 160 kho tàng, xí nghiệp, 80 tàu xuồng, 200 xe ô tô, 20 đầu máy xe lửa của chúng bị phá hủy. Quân đội viễn chinh Pháp bị vây chặt trong nội thành Sài Gòn hơn 4 tuần lễ. Kế hoạch đánh chiếm thành phố bằng "một cuộc hành quân cảnh sát" sau đó đánh chiếm Nam Bộ trong 18 ngày của bọn thực dân hiếu chiến ngay từ đầu đã bị thất bại. Mặc dù vậy, sau khi có thêm viện binh, lại được quân Anh và quân Nhật (theo lệnh quân Anh) giúp sức, từ cuối tháng 10 năm 1945, quân Pháp dần dần phá được vòng vây xung quanh Sài Gòn rồi mở rộng phạm vi đánh chiếm các thành phố, thị xã thuộc Nam Bộ, Nam Trung Bộ và Tây Nguyên. Cũng giống như Sài Gòn, ở đâu địch cũng bị quân dân ta chặn đánh quyết liệt.


Với ý chí sắt đá vì độc lập tự do và thống nhất Tổ quốc, nhân dân miền Nam là những người đi đầu trong cuộc kháng chiến, đã ngăn chặn từng bước, đánh đòn đầu tiên vào âm mưu xâm lược và kế hoạch đánh nhanh thắng nhanh của thực dân Pháp, góp phần to lớn vào công cuộc đấu tranh giữ vững chính quyền nhân dân, chủ quyền dân tộc của quân dân cả nước ta. Cuộc chiến đấu anh dũng của quân dân ta ở miền Nam đã cống hiến những kinh nghiệm đầu tiên, nóng hổi và tạo điều kiện cho miền Bác chuẩn bị để bước vào cuộc toàn quốc kháng chiến (từ 19-12-1946).


Cuộc kháng chiến anh dũng của quân dân ta ở Sài Gòn nói riêng, ở miền Nam nói chung ngay từ đầu đã được Trung ương Đảng, Chính phủ, Chủ tịch Hồ Chí Minh và nhân dân cả nước đặc biệt quan tâm. Ngày 23 tháng 9, sau khi nhận được điện báo của Xứ ủy, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Thường vụ Trung ương Đảng họp khẩn cấp, nhất trí với quyết tâm kháng chiến của Xứ ủy và Ủy ban nhân dân Nam Bộ. Chủ tịch Hồ Chí Minh và Thường vụ Trung ương quyết định kêu gọi nhân dân cả nước huy động sức người sức của cho cuộc chiến đấu ở tiền tuyến miền Nam, thành lập ngay các đơn vị Nam tiến, cử nhiều cán bộ vào tăng cường cho mặt trận miền Nam. Ngày 26 tháng 9 quân dân miền Nam đã được nghe những lời thống thiết của Chủ tịch Hồ Chí Minh được Đài tiếng nói Việt Nam từ Thủ đô Hà Nội truyền đi:


"Tôi chắc và đồng bào cả nước đều chắc vào lòng kiên quyết ái quốc của đồng bào Nam Bộ. Chúng ta nên nhớ lời nói oanh liệt của nhà đại cách mạng Pháp "Thà chết tự do hơn sống nô lệ".

Tôi chắc và đồng bào Nam Bộ cũng chắc rằng Chính phủ và toàn quốc đồng bào sẽ hết sức giúp những chiến sĩ và nhân dân hiện đang hy sinh tranh đấu để giữ vững nền độc lập của nước nhà"...1 (Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 4, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, tr.27)


Chủ tịch Hồ Chí Minh và Thường vụ Trung ương còn cử nhiều đoàn cán bộ thay mặt Chính phủ đi thăm, động viên quân dân Nam Bộ và Nam Trung Bộ chiến đấu. Trong thư gửi các chiến sĩ và đồng bào Nam Bộ, Nam Trung Bộ (tháng 12 năm 1945) Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định:

"Từ ba tháng nay, các anh chị em đã đem xương máu ra để giữ lấy từng tấc đất của Tổ quốc.

Tôi, và tất cả đồng bào ở Bắc Bộ, và phía bắc Trung Bộ, đã bao nhiêu lần tức giận khi nghe bọn thực dân Pháp đạp lên lãnh thổ của ông cha ta, giết hại nòi giống ta.

Đã bao nhiêu lần phấn khởi khi nghe những chiến công oanh liệt do những vị vô danh và hữu danh anh hùng của dân tộc tạo nên, đã bao nhiêu lần hồi hộp cảm động trước những gương hy sinh vô cùng dũng cảm của những người con yêu của Tổ quốc.


Do đó, tôi càng tin chắc rằng: với một nước đã có những người con hy sinh như thế, anh hùng như thế, đã có một khối toàn dân đoàn kết như thế, nước ta nhất định không bị mất lại một lần nữa"1 (Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 4, Sđd, tr.134).

Hưởng ứng lời kêu gọi của Trung ương Đảng, Chính phủ và Chủ tịch Hồ Chí Minh, phong trào ủng hộ cuộc kháng chiến của đồng bào miền Nam diễn ra sôi nổi khắp nơi với sự tham gia của mọi tầng lớp nhân dân.


Đặc biệt sôi nổi và rầm rộ là phong trào tòng quân xung phong Nam tiến. Các tỉnh Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ đều lập "Phòng Nam Bộ" ghi tên những người tình nguyện. Hàng chục vạn thanh niên, phụ nữ, thiếu niên và cả các cụ phụ lão thuộc đủ mọi tầng lớp: công nhân, nông dân, thợ thủ công, học sinh, sinh viên, thầy thuốc, kỹ sư, nhà văn, nhà giáo, viên chức, cả những nhà sư, những kiều bào vừa về nước cũng tình nguyện gia nhập giải phóng quân xung phong vào miền Nam cùng đồng bào miền Nam chiến đấu chống xâm lược.

Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế

quansuvn

Moderator
*
Bài viết: 7340



WWW

Phong trào Nam tiến 1945-1946« Trả lời #4 vào lúc: 21 Tháng Năm, 2021, 09:56:15 pm »
Với tinh thần đó, với ý chí đó, chỉ ba ngày sau khi giặc Pháp gây hấn ở Sài Gòn, chi đội Nam tiến đầu tiên của miền Bắc gồm 3 đại đội giải phóng quân Bắc Cạn, Bắc Sơn và Hà Nội đã lên đường từ ga Hàng Cỏ. Cùng đi với chi đội còn có 72 cán bộ quân sự vừa tốt nghiệp khóa 4 Trường quân chính Trung ương (tức Trường quân chính kháng Nhật trước đây) được Trung ương và Bộ Quốc phòng cử vào tăng cường cho mặt trận Nam Bộ. Tiếp theo, các chi đội: Bắc Bắc, Đông Triều, Nam Định, Ninh Bình, Kiến An, Hải Dương, Hải Phòng, Thái Bình, Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Thừa Thiên, Huế, Quảng Nam, Quảng Ngãi... cũng lần lượt lên đường. Những tháng cuối năm 1945 và đầu năm 1946 hầu như không ngày nào không có quân Nam tiến, không có chuyến tàu nào không chở quân Nam tiến, ở tỉnh Quảng Nam cứ 100 thanh niên nhập ngủ thì có 37 người xung phong vào các đơn vị Nam tiến. Đông nhất là tỉnh Quảng Ngãi đã có 10 chi đội Nam tiến với khoảng 15.000 người, chiếm tới 85% tổng số bộ đội và tự vệ toàn tỉnh trong thời điểm đó.


Trong cuộc Nam tiến đầy khí thế hào hùng này của dân tộc đã có hàng vạn gia đình ở khắp mọi miền Tổ quốc gửi con em mình ra trận. Nhiều gia đình có ba bốn người con cùng xung phong Nam tiến. Việc bảo đảm mọi mặt cho bộ đội Nam tiến hoàn toàn do địa phương đảm nhận. Nhân dân các địa phương có bộ đội Nam tiến đều dành những tình cảm nồng thắm cho đoàn quân Nam tiến của địa phương mình, gửi tặng các chiến sĩ Nam tiến quần áo, thuốc men, thực phẩm. Những khẩu súng tốt nhất, những băng đạn mới nhất được dành cho đoàn quân Nam tiến. Những buổi lễ trao tặng vũ khí và tiễn đưa bộ đội Nam tiến được tổ chức hết sức trọng thể, xúc động. Hướng về miền Nam, tất cả vì miền Nam ruột thịt đã sớm trở thành tình cảm cao đẹp của mỗi người dân, thành truyền thống của quân dân cả nước trong thời đại mới. Thời đại mà dân tộc Việt Nam tiến hành cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc theo con đường cách mạng vô sản, có Đảng cộng sản và Chủ tịch Hồ Chí Minh lãnh đạo, có cương lĩnh chính trị với mục tiêu chiến lược thống nhất, có quân đội cách mạng thống nhất của cả nước, thì sự tổ chức và động viên sức mạnh của cả nước cho chiến tranh giải phóng hoặc bảo vệ Tổ quốc dù diễn ra trên bất cứ địa bàn nào của đất nước là lẽ đương nhiên và là tất yếu.


Nam Bộ kháng chiến là biểu hiện sáng ngời của ý chí bất khuất, tinh thần quyết chiến quyết thắng của dân tộc ta ngay sau thắng lợi vĩ đại của Cách mạng tháng Tám. Và Nam Bộ lúc đó cũng là nơi hội tụ ý chí quyết chiến thắng, quyết không chịu mất nước một lần nữa của đồng bào cả nước, của kiều bào ta ở Thái Lan, ở Cam-pu-chia và ở Lào. Kiều bào ta đang sống ở các nước trên đã tổ chức các đội quân hải ngoại hành quân về tham gia chiến đấu bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ nước cộng hòa non trẻ. Với Quân đội nhân dân Việt Nam, Nam tiến là một trang sử oanh liệt, là một cuộc hội quân của cả nước thể hiện chức năng, nhiệm vụ "Nước còn giặc còn đi đánh giặc", "Đâu có giặc là ta cứ đi'' như trong chỉ thị thành lập Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân (tháng 12 năm 1944) đã nhấn mạnh: "Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân là đội quân đàn anh, mong cho chóng có những đội đàn em khác.


Tuy lúc đầu quy mô của nó còn nhỏ, nhưng tiền đồ của nó rất vẻ vang. Nó là khởi điểm của giải phóng quân, nó có thể đi khắp từ Nam chí Bắc, khắp đất nước Việt Nam"1 (Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 3, sđd, tr.378).


Các đội quân Nam tiến là một biểu hiện rực rỡ ý chí chiến đấu cho độc lập thống nhất của đất nước, của toàn quân và toàn dân ta trong những tháng đầu của Nam Bộ kháng chiến. Sau đó các đội quân này đã hòa nhập vào cuộc chiến đấu của quân và dân miền Nam thành một khối thống nhất càng làm nổi bật sức mạnh và truyền thống của một dân tộc, một Đảng, một quân đội thống nhất.


Sự kiện Nam Bộ kháng chiến và cuộc Nam tiến của dân tộc cách đây 52 năm là một trang sử chói lọi trong những ngày đầu của thời đại mới của lịch sử dân tộc - thời đại Hồ Chí Minh. Nam tiến là hình ảnh của cả nước ra trận, phản ánh ý chí "Nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một". Hình ảnh cả nước ra trận đã được thể hiện nổi bật trong cả cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ và trong chiến tranh bảo vệ Tổ quốc trên cả hai đầu của Tổ quốc.


Có thể nói những bài học lịch sử hơn 50 năm trước là vô cùng quý giá, luôn luôn mới. Tinh thần và ý chí của sự kiện lịch sử ấy đã, đang và sẽ tiếp tục cổ vũ động viên toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta vượt qua mọi khó khăn thử thách, phát huy đồng bộ sức mạnh của cả nước để đẩy mạnh công nghiệp hóa hiện đại hóa, trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa ngày nay.

Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế

quansuvn

Moderator
*
Bài viết: 7340



WWW

Phong trào Nam tiến 1945-1946« Trả lời #5 vào lúc: 24 Tháng Năm, 2021, 08:03:43 am »
CÁC "CHI ĐỘI NAM TIẾN" VÀ CÁC "CHI ĐỘI VIỆT KIỀU"
SỚM CÓ MẶT TRONG CUỘC "KHÁNG CHIẾN NAM BỘ"
TỪ NGÀY 23 THÁNG 9 NĂM 1945


GS. TRẦN VĂN GIÀU

Nửa đêm 22 rạng 23 tháng 9 năm 1945, đúng 28 ngày sau khi đồng bào Sài Gòn khởi nghĩa thành công, tiếp theo Hà Nội, Huế. Đêm ấy quân Pháp được sự giúp đỡ của quân Anh, đánh chiếm một số trụ sở của chính quyền cách mạng. Nội sáng 23, Ủy ban kháng chiến Nam Bộ phát hành lời hiệu triệu đồng bào:

... "Từ giờ phút này, nhiệm vụ hàng đầu của chúng ta là tiêu diệt Pháp và tiêu diệt tay sai của chúng. Hỡi anh em binh sĩ, dân quân tự vệ! Hãy nắm chắc vũ khí, xông lên đánh đuổi thực dân Pháp, cứu nước. Cuộc kháng chiến bắt đầu".


Hiệu triệu phát hành toàn Nam Bộ, lên Việt kiều ở Cam-pu-chia và ra Trung Bộ. Một bức điện khẩn xin ý kiến Trung ương được gửi ra Hà Nội. Đồng bào Sài Gòn, Nam Bộ vùng lên và cấp kỳ được tiếp sức bởi đồng bào cả nước và đồng bào ở những nước lân cận. Cả dân tộc một lòng.

Kháng chiến mới nổ ra thì tôi được tin Việt kiều các tỉnh Cam-pu-chia tiếp giáp với Nam Bộ gọi nhau về Châu Đốc đầu quân.

Không quá vài tuần sau, tôi từ Chợ Đệm (nơi trụ sở mới của Bộ chỉ huy mặt trận) phóng xe lên Xuân Lộc (Biên Hòa) để đón tiếp các đồng chí Vũ Đức, Quang Trung, Nam Long dẫn mấy chi đội Nam tiến vào tới rồi! Khó hiểu thật: đường hỏng, cầu sập, xe ọc ạch, làm sao mà hàng ngàn thanh niên với súng ống, đạn dược, lương thực vượt ngàn cây số từ Bắc vào Nam nhanh như Quang Trung ngày xưa điều quân ra Bâc đánh Tôn Sĩ Nghị. Tôi không có điều kiện để biết hết thành tích của các chi đội Nam tiến, nhưng tôi đã chứng kiến tinh thần phấn khởi, khó tả nổi của đồng bào Nam Bộ, trước hết là của quân dân Sài Gòn khi được tin và thấy tận mắt các chiến sĩ từ Bắc, Trung vào cùng với mình đánh trả quân thù cướp nước.


Từ tết năm 1946 tôi sang mặt trận miền Tây Đông Dương, nhằm mục đích là:

1) Cùng với người yêu nước Cam-pu-chia biến Cam-pu-chia thành một "cứ điểm chiến lược" - mà đồng chí Văn ở Hà Nội gọi là một Appui logistique cho cuộc kháng chiến, vừa để cho Pháp khó lấy người, lấy của, lấy lãnh thổ Chùa Tháp để đàn áp kháng chiến ở Nam Bộ, vừa để góp sức nhỏ mọn của bọn tôi cho 5 triệu người dân Cam-pu-chia cùng với người Việt Nam (ở Nam Bộ) đánh quân Pháp xâm lược, tạo cái thế "đông có mầy, tây có tao" căng địch ra mà diệt.

2) Tập hợp, động viên lực lượng của Việt kiều ở Thái và ở tây Cam-pu-chia, lập thành những bộ đội có võ trang đầy đủ, lần lượt đưa về Nam Bộ là nơi đã kháng chiến cả nửa năm trời rồi, mà cũng là nơi có ít súng, ít đạn, lại phải đối đầu với những sư đoàn thiết giáp và bộ binh của Massu Leclerc bên Pháp đưa qua.

3) Tự tạo ra điều kiện và với sự trợ lực của phe tiến bộ người Thái (Sirithai) trong và ngoài chính quyền để một mặt là tuyên truyền quốc tế cho kháng chiến Việt Nam, mặt khác là "kiếm" viện trợ về vũ khí ngay trên đất Thái và cả ở một vài xứ láng giềng của Thái.


Tất cả ba việc đó, bọn tôi đã làm được một phần đáng kể. Nếu không có cuộc đảo chính của tướng Phibul Songram năm 1948, thì bọn tôi có thể làm nhiều hơn.

Tôi chỉ xin ghi lại mấy việc thuộc vài đề tài của các bạn đề ra: Các chi đội Việt kiều về Nam Bộ. Tôi chỉ nói cái gì mà bài đội quân Việt kiều chưa nói ở trong báo cáo của các đồng chí; còn phân lớn điều các đồng chí nói thì tôi lại không biết vì tôi không lúc nào trực tiếp tác chiến cả! Cũng có, nhưng trong trận quân Khơmer Issarak và quân Việt kiều đánh Ampin, ở chân núi Đăngrek, tôi có đi "lược trận’’ mà trong túi dết tôi chỉ có cây súng lục 6/35 bắn ghen thôi! Có mặt ở chỗ súng nổ bom rơi chẳng qua là để anh em thấy chính trị viên cũng ra trận chớ không phải chỉ biết ở văn phòng!


Bộ đội số 1 do Ngô Thất Sơn và Vàng chỉ huy đi đường bắc Biển Hồ về biên giới Tây Ninh - Soài Riêng. Sơn là cận vệ thân thiết của tôi giỏi tiếng Khơmer sau gọi là Srivotha, lấy tên một người anh hùng.

Bộ đội số 2 là bộ đội Quạng Trung do Thuận, Hoàng Xuân Bình chỉ huy, đi đường nam Biển Hồ, định về hoạt động ở biên cảnh Tà Keo - Châu Đốc.

Bộ đội số 3 (cũng gọi là Cửu Long 2) do Phúc chỉ huy, đi về Nam dọc theo biển, đường núi gay go. Trước đó, tôi và Phúc có đi Mã-lai xin được khá nhiều súng đạn của du kích kháng Nhật, có cả mấy đồng chí Mã-lai cùng về Nam Bộ. Nói thêm rằng, trong số vũ khí của bộ đội này có súng đạn mà Phúc và tôi chở từ nhà của Nai Tiang và Thôngin buổi sáng sau khi Phibul Songram làm đảo chính. Nai Tiang và Thôngin nguyên là bộ trưởng.

Bộ đội 1, 2, 3 phần lớn là Việt kiều Báttambang.

Bộ đội số 4 (bộ đội Trần Phú) tất cả là Việt kiều ở Thái do các anh Sản, Tẩm... chỉ huy, bộ đội đông nhất. Về hoạt động ở vùng Tiền Giang, Tháp Mười, Sa Đéc.

Tất cả bốn bộ đội Việt kiều đều được trang bị tốt, hầu hết là tiểu liên Mỹ, đạn khá nhiều; nón sắt, quân phục tử tế. Tác chiến hết sức gan dạ. Trên đường về, người Cam-pu-chia ủng hộ. Về tới Nam Bộ, đồng bào ta nhiệt tình hoan nghênh.


Các đồng chí Việt Nam hoạt động chính trị ở Thái, ở Báttambang đã đem hết sức mình ở phía đông bắc thì giúp cho Lào tiếp tục kháng chiến, ở phía đông nam thì giúp Cam-pu-chia tổ chức và phát triển phong trào du kích chống Pháp. Về sau tôi không rõ, song những năm từ 1946, 1947, qua đến 1948, người Cam-pu-chia có Ủy ban dân tộc giải phóng hợp tác rất chặt chẽ với chúng tôi; trong ủy ban này có người Cam-pu-chia Trà Vinh sau này làm chủ tịch Ủy ban dân tộc được tổ chức ở miền Đông Nam Cam-pu-chia. Đó là đồng chí Sơn Ngọc Minh. Sơn Ngọc Minh đã từng đi từ Báttambang về Nam Bộ với hai chi đội Việt kiều về nước; đồng chí được người Cam-pu-chia vô cùng cảm phục, giống như Ngô Thất Sơn vậy. Ủy ban dân tộc giải phóng Cam-pu-chia tổ chức ở tỉnh Báttambang đã lập được nhiều đội du kích mạnh, một đội mạnh là đội của Saru, Savan, Đapchun đã có lần đánh chiếm tỉnh lỵ Xiêm Riệp rồi lên chiếm Đế thiên, Đế thích một thời gian, khi ấy bộ đội du kích của người Cam-pu-chia chiếm Xiêm Riệp được sự tiếp viện của một bộ phận chi đội Việt kiều số 1 của Sơn, Vàng.


Cuối 1948, hay đầu 1949 - tôi nhớ không rõ - tôi về Việt Bắc, từ đó không còn biết gì ở mặt trận miền Tây Đông Dương nữa.

Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế

quansuvn

Moderator
*
Bài viết: 7340



WWW

Phong trào Nam tiến 1945-1946« Trả lời #6 vào lúc: 24 Tháng Năm, 2021, 08:05:58 am »
NGHIÊN CỨU VỀ CÁC LỰC LƯỢNG TỪ XA VỀ CHIẾN TRƯỜNG MIỀN NAM CHIẾN ĐẤU TRONG KHÁNG CHIẾN CHỐNG THỰC DÂN PHÁP, MỘT YÊU CẦU CÓ Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN

Thiếu tướng LÊ VĂN DŨNG
Ủy viên Trung ương Đảng, Tư lệnh Quân khu 7

Cách đây năm mươi hai năm, quân dân Nam Bộ với tinh thần "Độc lập hay là chết" đã nổ phát súng mở đầu cuộc kháng chiến ở miền Nam cũng đồng thời bắt đầu cuộc chiến tranh giải phóng hào hùng của dân tộc ta chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ kéo dài ba mươi năm, thực hiện nhiệm vụ "đi trước" trong tình thế cực kỳ khó khăn của một đất nước vừa mới giành lại độc lập sau hơn tám mươi năm bị đô hộ.


Ngày 25 tháng 8 năm 1945 nhân dân Sài Gòn - Chợ Lớn và các tỉnh Nam Bộ dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh hoàn thành sứ mạng lịch sử cùng với nhân dân cả nước, khởi nghĩa cướp chính quyền từ tay phát xít Nhật, giành lại độc lập, tự do cho dân tộc.


Ngày 2 tháng 9 năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt quốc dân đồng bào và Chính phủ cách mạng lâm thời nước Việt Nam dân chủ cộng hòa đọc bản Tuyên ngôn Độc lập.


Nhưng với ý đồ khôi phục lại quyền thống trị của chúng đối với Việt Nam và các nước Đông Dương, 0 giờ ngày 23 tháng 9 năm 1945 thực dân Pháp được sự giúp đỡ của quân Anh, gây hấn ở Sài Gòn, bắt đầu cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam lần thứ hai. Chúng hy vọng nhanh chóng bình định Nam Bộ để làm bàn đạp tiến chiếm miền Trung và Bắc Việt Nam. Nhưng chúng đã lầm. Cuộc khởi nghĩa tháng Tám đã biến thành cuộc chiến tranh cách mạng của hàng triệu con người Nam Bộ sẵn sàng hy sinh cho độc lập tự do của Tổ quốc.


Sáng ngày 23 tháng 9, Ủy ban nhân dân Nam Bộ ra tuyên cáo quốc dân kêu gọi đồng bào kháng chiến.

Sau khi lời kêu gọi của Ủy ban nhân dân Nam Bộ phát ra, quân và dân Sài Gòn - Chợ Lớn đã nhanh chóng bước vào cuộc chiến đấu đầy tự tin và quyết liệt.


Buổi chiều 23 tháng 9 tiếng súng diệt địch nổ vang kháp nội thành. Mười sáu khu tác chiến nội thành được thành lập. Ở ngoại thành ba mặt trận Đông, Tây và Nam, thành thế bao vây quân thù. Tuy vũ khí ít và thô sơ, nhưng quân và dân ta thật hăng hái và cực kỳ gan dạ. Chỉ trong vòng một tuần lễ, 138 xí nghiệp và công sở lớn, 22 kho tàng, 4 chợ, 30 tàu lớn, 51 tàu nhỏ, 200 xe hơi và một số cầu bị đốt phá. Gần 300 tên giặc bị đền mạng.


Gặp phải sức đề kháng quyết liệt của nhân dân ta, sau 8 ngày gây hấn, thực dân Pháp chỉ chiếm đóng được các vị trí, công sở then yếu ở khu vực trung tâm thành phố. Thành phố không họp chợ, không buôn bán, không điện nước, lương thực thực phẩm bị hao cạn. Viện binh chưa tới kịp. Bọn Việt gian tay sai ra mặt hoạt động bị thanh niên ta truy bắt, nghiêm trị. Nhiều lần dựa vào quân Anh, quân Nhật, đánh lấn ra ngoài, cố phá vỡ vòng vây, nhưng đều thất bại, quân Pháp lâm vào tình trạng khốn đốn.


Trước tình hình đó, thực dân Pháp nhờ Gracey làm trung gian, xin thương lượng với Ủy ban nhân dân Nam Bộ để thực hiện ý đồ "dục hoãn cầu mưu", chờ đại quân của tướng Lecỉerc đến Sài Gòn rồi sẽ mở một đợt tấn công mới nhằm phá vỡ vòng vây và chiếm các tỉnh Nam Bộ. Ta biết như vậy, nhưng bên ta cũng cần một thời gian hòa hoãn để chuẩn bị đối phó với đợt tấn công mới của chúng.


Kết quả hơn một tháng vây hãm quân xâm lược trong nội thành Sài Gòn đã thể hiện khí phách anh hùng của nhân dân Nam Bộ và của cả nước, phá vỡ ý đồ nhanh chóng chiếm lại Nam Bộ của thực dân Pháp và tạo điều kiện cho các tỉnh Nam Bộ và Cực Nam Trung Bộ chuẩn bị kháng chiến.


Từ khi có viện binh cho đến ngày nổ súng tiến công Hà Nội, thực dân Pháp đã phải sử dụng toàn bộ lực lượng mà theo dự kiến ban đầu của chúng là để đánh chiếm cả Đông Dương, nhưng vẫn không lập được xứ "Nam Kỳ tự trị" mà trái lại chúng đã sa lầy vào một cuộc chiến tranh du kích.


Sau hơn một năm hai tháng hai mươi bảy ngày kháng chiến (23-9-1945 - 19-12-1946), quân dân Nam Bộ đã hoàn thành nhiệm vụ "đi trước” mà lịch sử đã giao phó.


Tháng 2 năm 1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt đồng bào cả nước tặng quân dân Nam Bộ danh hiệu vẻ vang Thành đồng Tổ quốc. Tuy nhiên, niềm vinh dự đó không chỉ dành riêng cho quân dân Nam Bộ mà là vinh dự chung của cả nước. Bởi vì ngay từ những ngày đầu cực kỳ khó khăn, quân dân Nam Bộ chiến đấu không đơn độc.


Ngày 8 tháng 9 năm 1945, hai ngày sau khi quân Pháp núp bóng quân Anh vào Sài Gòn, tại Hà Nội, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ra lời kêu gọi:

"... Hỡi đồng bào!

Hiện một số quân Pháp đã lọt vào nước ta. Đồng bào hãy sẵn sàng đợi lệnh Chính phủ để chiến đấu"1 (Những lời kêu gọi của Hồ Chủ tịch, tập I, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1960, tr.19).

Nền độc lập dân tộc vừa giành được đang bị đe dọa, đồng bào ta trong, ngoài nước theo dõi từng bước chân quân xâm lược, đợi lệnh Chính phủ sẵn sàng lên đường ra mặt trận.


Sau đêm địch gây hấn ở Sài Gòn (23 tháng 9 năm 1945), Trung ương Đảng, Chính phủ và Chủ tịch Hồ Chí Minh lại phát lời khẩn cấp gửi đồng bào cả nước:

"Phải trút toàn lực vào đó, hy sinh hết thảy vì mặt trận miền Nam"1 (Những sự kiện lịch sử Đảng, Ban nghiên cứu lịch sử Đảng Trung ương, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1979, tập II, tr.129).

Có thể nói sau lời kêu gọi, cuộc kháng chiến ở Nam Bộ cúng là cuộc chiến đấu của cả nước. Nhân dân các dân tộc từ biên giới phía Bắc đến mũi Cà Mau, đồng bào Việt kiều ở Lào, Cam-pu-chia, Thái Lan... hướng về Nam Bộ, tích cực và khẩn trương chuẩn bị cả người, vật chất để đưa ra tiền tuyến.

Logged

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn