Phùng Hưng – Thần vua của người Việt
Trước sự cai trị của nhà Đường, Phùng Hưng đã đứng lên, tập hợp các anh hùng hào kiệt trong cả nước, với ý chí giành lại giang sơn.

Bố Cái Đại Vương Phùng Hưng, quê ở thôn Cam Lâm, xã Đường Lâm, thị xã Sơn Tây. Ngài được Nhân dân tôn thờ là thần – Thần vua, bởi khi sống Ngài là một vị vua, một chủ tướng uy dũng, nhân hậu; chết đi Ngài vẫn luôn hiển linh phò trợ Nhân dân, phò trợ đất nước.
Thời Đường, ở thôn Cam Lâm, dòng họ Phùng thuộc loại giàu có, truyền qua 5 đời đều là quan Lang, làm tù trưởng Châu Đường Lâm. Đến Phùng Viễn thì sinh con trai trưởng là Phùng Hưng. Ba năm sau lại sinh hai con trai nữa là Phùng Hải và Phùng Mâu. Đến tuổi trưởng thành ba anh em họ Phùng đều là những chàng trai dũng mãnh, có sức khỏe phi thường, nổi bật là Phùng Hưng. Tương truyền, một lần vào rừng, Phùng Hưng bị hổ vồ, ông đã tránh được rồi vật nhau với hổ, đánh chết hổ, mang về. Khi nối nghiệp cha làm tù trưởng Châu Đường Lâm, Phùng Hưng đã được các châu ấp lân cận mến phục.
Trước sự cai trị của nhà Đường, Phùng Hưng đã đứng lên, tập hợp các anh hùng hào kiệt cứu trong cả nước, với ý chí giành lại giang sơn. Phùng Hưng cùng 2 người em lập một đàn tràng, thảo sớ tấu trình Ngọc Hoàng Thượng đế xin phù hộ việc dấy binh khởi nghĩa thành công. Tương truyền, khi ấy là đầu tháng Ba âm lịch. Trong buổi tế ấy, đột nhiên có đám mây ngũ sắc sà xuống, một tiên ông tóc bạc trắng đỗ hạc bước ra và nói ở Tây Vực, cảm động trước tấm chân tình của 3 anh em mà tới. Tiên ông lấy từ túi áo ra một chiếc móng rồng và một khối ngọc, đưa cho Phùng Hưng rồi cưỡi hạc bay đi trong đám mây ngũ sắc. Ba anh em tế tâu Ngọc Hoàng, liền thầy bốn thiên thần đội mũ trụ, cưỡi mây bay xuống nói Ngọc Hoàng phái Tiên ông xuống cho Ngài hai báu vật ấy, một làm chuôi kiếm, một làm quốc ấn để dùng vào việc giữ nước.
Chùm ảnh tư liệu
Ảnh tư liệu của bài viết.
Nghe lời Ngọc Hoàng, ba anh em Phùng Hưng đã chế tạo một thanh kiếm thật sắc, rồi tra vào chuôi được làm từ móng rồng, ở giữa khắc ba chữ “Thiên linh kiếm”. Còn khối ngọc đã sẵn có hình vuông, chỉ khắc vào mấy chữ là thành quốc ấn, hai báu vật đó được gọi là “Thiên bảo ấn”.
Anh em Phùng Hưng đã đi khắp nơi, thông qua việc tổ chức các sới vật để chọn người tài. Phùng Hưng xưng là Đô Quân, Phùng Hải xưng là Đô Bảo. Đi đến đâu, phục tài anh em Đô Quân, các đô vật đều nhiệt tình hưởng ứng việc dựng cờ khởi nghĩa của họ. Trở về Đường Lâm, anh em Phùng Hưng mở cỗ mời các trang ấp trưởng và bàn chuyện khởi nghĩa. Tại đây, Phùng Hưng đưa ra “Thiên linh kiếm” và “Thiên bảo ấn” khiến mọi người vô cùng bái phục và nguyện đi theo, trong mấy ngày Phùng Hưng đã tuyển mộ được mấy ngàn dân binh và dẫn quân xuống phía nam (vùng Thanh Oai ngày nay) để tập luyện, phiên chế quân ngũ. Nghe tin, hàng vạn dân binh khắp nơi cùng kéo đến xin xung quân.
Mùa Hạ, năm 791 đội quân Phùng Hưng chia làm hai ngả, bao vây thành Đại La (Hà Nội ngày nay), Cao Chính Bình phụ trách Đại La đành phải thủ thành rồi cho người lẻn ra ngoài, xin tiếp viện. Thành Đại La bị vây chặt, viện binh nhà Đường đến đều bị ta đánh tan. Suốt 3 tháng bị bao vây, tướng giặc quá lo lắng, bị bệnh mà chết. Quân ta đồng loạt tiến công, khiến quân giặc phải đầu hàng. Tướng sĩ suy tôn Phùng Hưng là Vi đô Tướng quân. Ở ngôi vị mới, Phùng Hưng lập tức cùng mọi người bắt tay vào việc chấn hưng đất nước, xây thành đắp lũy, luyện tập binh mã, khôi phục, giữ gìn các mỹ tục trong nước.



