Bài viết

Phùng Văn Cung – vị bác sĩ bỏ lại cơ ngơi Sài Gòn để vào chiến khu

Ngày 18/10/1960, bác sĩ Phùng Văn Cung cùng vợ và hai con gái bí mật rời Sài Gòn, bỏ lại phòng khám, nhà cửa và chức vụ để vào chiến khu. Gia đình phải lội qua những vùng nước sâu ngang bụng mới đến được căn cứ. Hai tháng sau, ông tham gia Đại hội thành lập Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam.

TP. Hồ Chí Minh24/08/2026Chi Đoàn trường TH&THCS Nguyễn Du (Tuy Đức)1 lượt xem0 lượt chia sẻ

Cuộc ra đi trong mùa nước nổi

Ngày 18 tháng 10 năm 1960, một gia đình trí thức âm thầm rời Sài Gòn.

Người chồng là bác sĩ Phùng Văn Cung, một thầy thuốc có tiếng từng điều hành cơ sở y tế và mở phòng khám tại nhiều nơi ở Nam Bộ. Đi cùng ông là người vợ Lê Thoại Chi và hai con gái. Hai người con trai của gia đình đã được bí mật đưa ra miền Bắc từ trước.

Họ không rời thành phố để tìm một cuộc sống sung túc hơn. Trái lại, phía trước là những cánh rừng Tây Ninh, những con đường giao liên bí mật, những cuộc càn quét và một cuộc chiến chưa biết ngày kết thúc.

Phía sau họ là nhà cửa, phòng khám, tài sản và địa vị xã hội đã gây dựng trong nhiều năm.

Theo hồi ức được chuyên san Sự kiện và Nhân chứng của Báo Quân đội nhân dân đăng tải, gia đình bác sĩ Phùng Văn Cung đến căn cứ đúng vào mùa nước. Có những đoạn nước ngập sâu tới ngang bụng. Gần một đại đội được huy động để khiêng võng, dẫn đường và bảo vệ gia đình ông vượt qua khu vực nguy hiểm.

Việc huy động một lực lượng lớn như vậy cho thấy tầm quan trọng của chuyến đi. Khi ấy, lực lượng bảo vệ toàn căn cứ cách mạng miền Nam còn rất mỏng. Chính quyền Sài Gòn cũng hiểu rằng nếu một trí thức có uy tín như Phùng Văn Cung công khai đi theo cách mạng, ảnh hưởng chính trị sẽ rất lớn.

Sau nhiều ngày vượt qua sình lầy, sông rạch và những trạm kiểm soát, gia đình người bác sĩ đặt chân đến căn cứ an toàn.

Đồng chí Nguyễn Văn Linh, khi đó là một trong những người lãnh đạo cao nhất của cách mạng miền Nam, tổ chức một bữa cơm nhỏ để chào đón họ. Trong cảnh chiến khu thiếu thốn, bữa ăn không có những món sang trọng. Nhưng đối với những người có mặt, nó mang ý nghĩa như một lời khẳng định: giới trí thức yêu nước ở thành thị đang tìm đến với nhân dân và cuộc kháng chiến.

Người bác sĩ sau tấm bình phong hợp pháp

Phùng Văn Cung sinh ngày 15 tháng 5 năm 1909 tại làng Long An, tổng Bình Long, tỉnh Vĩnh Long. Cha mẹ ông là những người có học thức và trọng nghĩa khí, tạo điều kiện cho con được học hành từ nhỏ.

Sau những năm học tại quê nhà và Mỹ Tho, ông theo học Trường Y Đông Dương, tốt nghiệp năm 1937. Cũng trong thời gian này, ông kết hôn với bà Lê Thoại Chi, con gái một gia đình khá giả ở vùng Cái Tàu – Sa Đéc.

Hai vợ chồng lần lượt mở phòng khám tại Sài Gòn, Sa Đéc và Châu Đốc. Tài năng chuyên môn cùng cách cư xử tận tình giúp bác sĩ Cung được nhiều bệnh nhân biết đến.

Cách mạng Tháng Tám năm 1945 bùng nổ, ông tham gia phong trào giành chính quyền tại Sa Đéc. Sau đó, do yêu cầu hoạt động, ông chưa rời hẳn thành thị mà tiếp tục sử dụng nghề y làm bình phong hợp pháp.

Đến năm 1957, Phùng Văn Cung từng giữ chức Giám đốc Sở Y tế Châu Đốc – Rạch Giá, rồi làm Giám đốc Bệnh viện Phúc Kiến, nay là Bệnh viện Nguyễn Trãi tại Thành phố Hồ Chí Minh.

Bề ngoài, ông là một viên chức cao cấp trong hệ thống y tế của chính quyền Sài Gòn. Nhưng bên trong bệnh viện và phòng khám, một công việc khác vẫn âm thầm diễn ra.

Ông che giấu, chữa bệnh và bảo vệ những cán bộ cách mạng hoạt động bí mật trong nội thành. Gia đình vận động các nhà hảo tâm đóng góp tiền bạc, thuốc men và vật dụng y tế gửi vào căn cứ.

Có thời gian, bác sĩ Cung bị trưng tập vào lực lượng quân y của chính quyền Sài Gòn. Hoàn cảnh tưởng như bất lợi lại tạo cho ông một vỏ bọc đặc biệt. Dưới danh nghĩa sĩ quan quân y, ông có thể sử dụng xe công vụ và đi qua nhiều trạm kiểm soát. Theo tư liệu của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam, ông từng dùng chính phương tiện này để vận chuyển thuốc men và một số vật dụng phục vụ kháng chiến.

Nếu bị phát hiện, cả gia đình có thể bị bắt. Tuy nhiên, Phùng Văn Cung không hoạt động một mình. Người hỗ trợ ông gần gũi và bền bỉ nhất chính là bà Lê Thoại Chi.

Người vợ làm liên lạc giữa lòng Sài Gòn

Xuất thân trong một gia đình khá giả, bà Lê Thoại Chi hoàn toàn có thể lựa chọn cuộc sống bình yên bên chồng con. Nhưng bà đã trở thành người liên lạc, giúp chồng giữ mối quan hệ với tổ chức cách mạng.

Bà đi lại giữa các địa điểm, chuyển tin tức, vận động tiền bạc và thuốc men. Chính bà nhiều lần động viên chồng tiếp tục nhiệm vụ trong những lúc nguy hiểm.

Năm 1955, ông bà quyết định bí mật đưa hai người con trai là Phùng Ngọc Thạch và Phùng Ngọc Ấn tập kết ra miền Bắc. Đây là một quyết định nhiều đau đớn, bởi họ không biết khi nào gia đình có thể gặp lại nhau.

Sau khi học tập, hai người con đều trở về miền Nam tham gia kháng chiến: một người trở thành bác sĩ ngoại khoa trong quân y, người còn lại là bác sĩ thú y.

Đến năm 1960, hoạt động bí mật của bác sĩ Cung trong thành thị ngày càng khó bảo đảm an toàn. Đồng thời, phong trào cách mạng miền Nam cần những nhân sĩ, trí thức có uy tín đứng ra tập hợp lực lượng yêu nước.

Tổ chức đề nghị ông thoát ly vào chiến khu.

Phùng Văn Cung hiểu rất rõ ý nghĩa của lựa chọn này. Một khi rời Sài Gòn, ông không thể quay lại đời sống cũ. Nhà cửa và phòng khám có thể bị tịch thu. Người thân còn ở lại có thể bị theo dõi. Bản thân ông cũng trở thành mục tiêu truy bắt.

Sau khi bàn bạc, bà Lê Thoại Chi quyết định cùng chồng và hai con gái lên đường.

Gia đình không chỉ từ bỏ tài sản. Họ từ bỏ cả sự an toàn mà địa vị của một bác sĩ nổi tiếng từng mang lại.

Từ người thầy thuốc đến lãnh đạo Mặt trận

Chỉ hơn hai tháng sau cuộc vượt thoát khỏi Sài Gòn, ngày 20 tháng 12 năm 1960, đại diện các lực lượng yêu nước, nhân sĩ và trí thức tập trung tại một khu rừng ở Tây Ninh để thành lập Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam.

Bác sĩ Phùng Văn Cung được bầu vào Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận. Khi luật sư Nguyễn Hữu Thọ còn bị chính quyền Sài Gòn giam giữ, ông là một trong những nhân vật tiêu biểu đứng ra chủ trì những hoạt động đầu tiên của tổ chức.

Ngày 15 tháng 2 năm 1961, tại một cuộc mít tinh có hàng nghìn người tham dự giữa chiến khu, Phùng Văn Cung thay mặt Ủy ban Trung ương lâm thời trao cờ cho lực lượng vũ trang giải phóng.

Trước đó không lâu, ông vẫn là vị bác sĩ mặc áo blouse trong một bệnh viện lớn ở Sài Gòn. Giờ đây, giữa rừng Tây Ninh, ông đứng trước hàng nghìn chiến sĩ trong lễ ra mắt một lực lượng vũ trang mới.

Sự hiện diện của ông mang một ý nghĩa đặc biệt. Nó cho thấy phong trào cách mạng miền Nam không chỉ có công nhân, nông dân và lực lượng vũ trang mà còn quy tụ nhiều bác sĩ, luật sư, kiến trúc sư, giáo viên, chức sắc tôn giáo và nhân sĩ yêu nước.

Tại Đại hội Mặt trận lần thứ nhất vào tháng 3 năm 1962, luật sư Nguyễn Hữu Thọ được bầu làm Chủ tịch. Phùng Văn Cung đảm nhiệm cương vị Phó Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận và tiếp tục giữ trọng trách này trong nhiều năm.

Cuộc sống của một lãnh đạo Mặt trận giữa chiến khu hoàn toàn khác với cuộc sống tại Sài Gòn. Ông phải ở trong nhà lá, làm việc dưới hầm, di chuyển liên tục để tránh máy bay và những cuộc hành quân của đối phương.

Nhưng ông đã lựa chọn con đường ấy một cách dứt khoát.

Sự hy sinh của người bạn đời

Trong quá trình công tác, bà Lê Thoại Chi tiếp tục đảm nhiệm nhiệm vụ giao liên và hỗ trợ hoạt động của Mặt trận. Cuối năm 1966, trong một chuyến công tác, bà hy sinh và sau đó được công nhận là liệt sĩ.

Đối với Phùng Văn Cung, đó là mất mát đặc biệt lớn. Người vợ đã cùng ông xây dựng gia đình, mở phòng khám, nuôi dạy con cái và hoạt động bí mật giữa Sài Gòn nay không còn trở về.

Nhưng chiến trường không cho phép ông dừng lại quá lâu với nỗi đau riêng.

Năm 1967, quân đội Mỹ mở Chiến dịch Junction City, huy động lực lượng lớn tiến công căn cứ của Trung ương Cục và Mặt trận tại Tây Ninh. Cơ quan lãnh đạo phải liên tục di chuyển, vừa chiến đấu vừa bảo toàn lực lượng.

Phùng Văn Cung vẫn ở lại chiến khu, tiếp tục công việc vận động nhân sĩ, đoàn kết các tầng lớp nhân dân và tham gia chuẩn bị cơ sở chính trị cho những bước phát triển mới của cách mạng miền Nam.

Cái ôm nối liền hai miền

Tháng 3 năm 1969, bác sĩ Phùng Văn Cung dẫn đầu đoàn đại biểu Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam ra thăm miền Bắc.

Tại Hà Nội, ông được Chủ tịch Hồ Chí Minh đón tiếp. Một bức ảnh ghi lại khoảnh khắc hai người ôm nhau đã trở thành hình ảnh giàu xúc động về tình cảm giữa miền Bắc và miền Nam trong những năm đất nước còn chia cắt.

Phùng Văn Cung thay mặt đồng bào miền Nam chuyển lời cảm ơn tới nhân dân miền Bắc đã dành sức người, sức của cho tiền tuyến. Đoàn đến thăm nhiều nhà máy, trường đại học, đơn vị quân đội và địa phương.

Chỉ vài tháng sau chuyến thăm ấy, tháng 6 năm 1969, Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam được thành lập. Phùng Văn Cung được giao nhiệm vụ Phó Chủ tịch kiêm Bộ trưởng Bộ Nội vụ.

Ông tiếp tục hoạt động cho đến ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng năm 1975.

Sau thống nhất, bác sĩ Phùng Văn Cung sống và làm việc tại Thành phố Hồ Chí Minh, tham gia Mặt trận Tổ quốc và các hoạt động bảo vệ hòa bình, nhân đạo. Ông được trao Huân chương Độc lập hạng Nhất.

Ngày 7 tháng 11 năm 1987, ông qua đời tại Thành phố Hồ Chí Minh, hưởng thọ 78 tuổi.

Theo nguyện vọng để lại, thi hài ông được hỏa táng nhằm tiết kiệm đất đai và tránh để con cháu phải vất vả chăm nom phần mộ. Ngay cả khi chuẩn bị rời cuộc đời, người bác sĩ vẫn nghĩ đến một cách ra đi giản dị, ít làm phiền người ở lại.

Ngày nay, tên Phùng Văn Cung được đặt cho một con đường tại quận Phú Nhuận, Thành phố Hồ Chí Minh.

Đằng sau tên đường ấy là câu chuyện về một người đã có gần như mọi điều mà xã hội đương thời coi là thành đạt: học vấn, nghề nghiệp, tài sản và danh tiếng. Nhưng vào ngày 18 tháng 10 năm 1960, ông đã bỏ lại tất cả để cùng vợ con lội qua những vùng nước sâu, đi vào chiến khu.

Sự lựa chọn của Phùng Văn Cung cho thấy lòng yêu nước của một trí thức không chỉ nằm trong lời nói. Đôi khi, nó được đo bằng những gì một con người sẵn sàng từ bỏ để đi theo con đường mà mình tin là đúng.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn