Bài viết

Phùng Văn Khầu – Người Anh hùng “ngắm bắn qua nòng pháo” làm nên kỳ tích Điện Biên Phủ

Phạm Anh Thư

Cao Bằng22/08/2026phường Kiến An (phường Kiến An)2 lượt xem0 lượt chia sẻ

Ngày 31-8-1955, khi mới 26 tuổi, Phùng Văn Khầu được Đảng và Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân. Phần thưởng ấy đến sau những năm tháng chiến đấu đầy gian khổ, đặc biệt là 36 ngày đêm ông cùng đồng đội bám trụ trên đồi E1 trong Chiến dịch Điện Biên Phủ. Nhưng để trở thành người pháo thủ nổi tiếng ấy, Phùng Văn Khầu đã phải đi qua một tuổi thơ đầy cơ cực và một hành trình dài rèn luyện trong quân đội.

Phùng Văn Khầu sinh năm 1929, là người dân tộc Nùng, quê ở xã Đức Hồng, huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng. Ông sinh ra trong một gia đình thuần nông nhưng tuổi thơ lại sớm thiếu vắng tình thân khi mồ côi cả cha lẫn mẹ. Cậu bé Phùng Văn Khầu phải đi ở đợ cho địa chủ, tận mắt chứng kiến cảnh người dân bị thực dân đô hộ, áp bức và những người nghèo bị bóc lột. Chính những năm tháng ấy đã khiến ông sớm hình thành khát vọng thoát khỏi cuộc sống nô lệ và tìm đến cách mạng.

Năm 1946, khi mới 17 tuổi, Phùng Văn Khầu quyết định trốn khỏi nhà địa chủ, tình nguyện nhập ngũ và được biên chế vào Trung đoàn Pháo binh 675. Ngay từ khi lựa chọn binh chủng, ông đã có một suy nghĩ rất giản dị: “Bộ binh có súng nhỏ bắn một phát chỉ được một thằng Pháp thôi, còn pháo binh bắn một phát nhưng diệt được nhiều thằng Pháp, đất nước sẽ mau hết giặc và sớm được giải phóng”. Đó là cách nghĩ mộc mạc của một chàng trai mới 17 tuổi, nhưng cũng cho thấy quyết tâm muốn góp sức nhanh nhất vào cuộc chiến đấu của đất nước.

Tuy nhiên, những năm đầu trong quân ngũ, Phùng Văn Khầu chưa được trực tiếp đứng bên khẩu pháo. Từ năm 1948 đến năm 1950, do còn trẻ và thể lực hạn chế, ông được giao phụ trách bếp ăn và tiếp phẩm tại Đại đội 755, Tiểu đoàn 275, Trung đoàn 675. Công việc tưởng như không liên quan nhiều đến chiến đấu nhưng lại đặt ông trước một khó khăn rất lớn: Phùng Văn Khầu không biết chữ. Mỗi ngày, ông phải đi chợ mua thực phẩm cho hơn 120 cán bộ, chiến sĩ, trong khi tiền bạc ngày càng nhiều và việc ghi chép, tính toán lại là điều ông không thể thực hiện theo cách thông thường.

Không chịu để sự thiếu hụt về chữ nghĩa trở thành trở ngại, Phùng Văn Khầu tự nghĩ ra một phương pháp đặc biệt. Ông nhặt những viên sỏi có kích thước khác nhau rồi quy ước chúng thành các mệnh giá tiền: viên sỏi lớn tương ứng một đồng, viên vừa là năm hào, những viên nhỏ lần lượt đại diện cho hai hào, một hào và năm xu. Sau đó, ông chuyển sang sử dụng những hạt ngô có màu sắc khác nhau để thuận tiện phân biệt các khoản chi tiêu. Nhờ cách làm ấy, trong 3 năm đảm nhiệm công tác hậu cần, ông không để xảy ra thất thoát, tính toán chính xác và còn tiết kiệm cho đơn vị hơn 300 đồng Đông Dương. Tháng 4-1950, ông được tặng Huân chương Chiến công hạng Ba và vinh dự được đứng trong hàng ngũ của Đảng.

Câu chuyện ấy sau này khiến nhà văn Phùng Văn Khai nhận xét: “Quân đội ta không chỉ anh hùng, mà còn vô cùng độc đáo ở chỗ có những người chiến sĩ, dẫu rằng không biết chữ, vẫn biết cách tính toán hết sức sáng tạo để góp vào chiến công chung”.

Năm 1950, mong muốn được trực tiếp ra trận của Phùng Văn Khầu cuối cùng cũng trở thành hiện thực. Ông được cử đi học pháo thủ. Nhưng một lần nữa, ông phải đối mặt với một hạn chế tưởng như rất khó vượt qua: không biết chữ và không sử dụng được máy ngắm. Thay vì bỏ cuộc, Phùng Văn Khầu tự tìm cách ngắm bắn trực tiếp qua nòng pháo, dùng mắt thường để ước lượng hướng và tầm bắn. Qua nhiều lần thử nghiệm, điều chỉnh và rút kinh nghiệm, ông dần làm chủ được phương pháp của mình và trở thành một pháo thủ giỏi.

Sau khóa huấn luyện, Phùng Văn Khầu được phân công làm Khẩu đội phó kiêm pháo thủ số 2 thuộc Đại đội 755, Tiểu đoàn 275, Trung đoàn 675, Đại đoàn 351. Từ đó, ông lần lượt tham gia các chiến dịch Biên Giới, Trần Hưng Đạo, Hoàng Hoa Thám, Quang Trung, Hòa Bình, Tây Bắc, Thượng Lào… Những trận đánh liên tiếp đã tôi luyện người chiến sĩ trẻ, chuẩn bị cho ông bước vào chiến trường Điện Biên Phủ.

Tháng 3-1954, đơn vị Phùng Văn Khầu nhận lệnh hành quân gấp lên Điện Biên Phủ. Ngày 19-3-1954, đoàn quân lên đường với 7 xe ô tô, 3 khẩu sơn pháo, 90 viên đạn và 42 người. Phùng Văn Khầu lúc này được đề bạt làm Khẩu đội trưởng.

Ngày 30-3, trong đợt tiến công thứ hai, khẩu đội của ông được giao nhiệm vụ tiêu diệt 4 lô cốt trên đồi E1 với 30 viên đạn. Đây là một nhiệm vụ đòi hỏi độ chính xác rất cao bởi pháo phải bắn trực tiếp ở cự ly gần. Phùng Văn Khầu bình tĩnh quan sát, tự điều chỉnh hướng bắn và lần lượt đưa những quả đạn xuyên trúng lỗ châu mai. Chỉ với 22 viên đạn, cả 4 mục tiêu đã bị phá hủy, tiết kiệm được 8 viên. Hỏa lực ấy góp phần tạo điều kiện để Trung đoàn 209 đánh chiếm đồi E1 sau gần một giờ chiến đấu. Sau trận đánh, Phùng Văn Khầu được tặng Huy hiệu Bác Hồ và Huân chương Chiến công hạng Ba.

Nhưng đồi E1 chưa bao giờ thực sự yên tiếng súng. Từ đầu tháng 4 đến cuối tháng 4-1954, Đại đội 755 liên tục phải bám trụ tại đây trong những cuộc phản kích dữ dội của quân Pháp. Thương vong ngày càng tăng, trận địa ngày càng khốc liệt, nhưng Phùng Văn Khầu vẫn cùng đồng đội giữ lấy khẩu pháo và vị trí chiến đấu.

Ngày 23-4-1954 trở thành một trong những ngày chiến đấu ác liệt nhất. Đại đội Phùng Văn Khầu nhận nhiệm vụ tập kích trận địa pháo 105 ly của quân Pháp bên bờ sông Nậm Rốm. Những khẩu pháo này đang liên tục bắn vào đội hình bộ binh Việt Nam trong lúc quân ta tiến công cắt sân bay Mường Thanh.

Khi quân ta vừa mở lỗ châu mai để chuẩn bị khai hỏa, xe tăng địch phát hiện trận địa và lập tức tập trung hỏa lực. Khẩu đội 2 và 3 bị bắn trúng, hai khẩu pháo bị phá hỏng. Bảy chiến sĩ hy sinh, 11 người bị thương. Khẩu đội 1 của Phùng Văn Khầu vốn có 4 người cũng nhanh chóng bị tổn thất. Một đồng chí bị thương gãy tay, Phùng Văn Khầu cử đồng chí Chài dìu người bị thương ra phía sau.

Cuối cùng, chỉ còn Phùng Văn Khầu và Lý Văn Pao ở lại bên khẩu pháo. Hai người vẫn tiếp tục chiến đấu, lần lượt bắn hạ hai khẩu đại liên của địch. Sau đó, Phùng Văn Khầu lệnh cho Pao rút đi báo tin, còn mình ở lại trận địa. Một mình ông thực hiện tất cả các công việc của cả khẩu đội: quan sát, ngắm bắn, nạp đạn, hiệu chỉnh rồi khai hỏa. Ba phát đạn liên tiếp đã đánh trúng và tiêu diệt khẩu pháo thứ ba.

Pao quay trở lại và báo tin Chài đã bị thương. Trước tình thế chỉ còn một khẩu pháo địch, Phùng Văn Khầu vẫn không rời trận địa. Ông quả quyết: “Chúng ta là hai đảng viên, phải chiến đấu đến giọt máu cuối cùng. Địch còn một khẩu nữa thôi…”.

Quân Pháp tiếp tục dùng xe tăng bắn dữ dội vào trận địa. Sức ép khiến Phùng Văn Khầu ngất lịm, nhưng ông nhanh chóng tỉnh lại. Đúng lúc ấy, ông phát hiện quân địch đang kéo khẩu pháo thứ tư vào hầm. Phùng Văn Khầu lập tức lệnh cho Pao vào vị trí, rồi tự mình khai hỏa. Quả đạn lao thẳng vào mục tiêu và phá hủy khẩu pháo thứ tư.

Sau trận đánh, Phùng Văn Khầu và Lý Văn Pao chỉ sử dụng 15 viên đạn nhưng đã tiêu diệt 4 khẩu pháo 105 ly cùng 2 khẩu đại liên của địch. Chiến công ấy tạo điều kiện quan trọng để bộ đội ta tiếp tục tiến công.

Từ ngày 26-4, trên đồi E1 chỉ còn lại ba người: Đại đội trưởng, Chính trị viên và Phùng Văn Khầu. Cùng với khẩu sơn pháo 75 ly, họ tiếp tục ở lại giữa trận địa đầy bom đạn. Không còn đông người, không còn điều kiện thuận lợi, nhưng họ vẫn không rời vị trí. Niềm tin vào Đảng, vào Bác Hồ và quyết tâm của người chiến sĩ đã giúp họ tiếp tục bám trụ.

Sau này, khi nhìn lại 36 ngày đêm chiến đấu trên đồi E1, Phùng Văn Khầu viết trong hồi ký: “Trong 36 ngày đêm chiến đấu trên đồi E1 trong Chiến dịch Điện Biên Phủ, Khẩu đội tôi đã chiến đấu dũng cảm, tiêu diệt 4 lô cốt, 5 khẩu pháo 105 ly, 6 khẩu đại liên, 1 kho đạn và nhiều sinh lực địch, hoàn thành nhiệm vụ chi viện cho bộ binh chiến đấu tiến công và phòng ngự thắng lợi. Tôi được tặng thưởng 3 Huân chương Chiến công (2 hạng Ba, 1 hạng Hai).”

Chiến dịch Điện Biên Phủ kết thúc bằng thắng lợi. Phùng Văn Khầu trở thành một trong hai đồng chí được Đại đoàn Công pháo 351 cử lên Chiến khu cách mạng chúc thọ Bác Hồ. Chỉ vài tháng sau, ngày 31-8-1955, khi mới 26 tuổi và có 5 năm tuổi Đảng, ông được tặng thưởng Huân chương Quân công hạng Ba và danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.

Điều khiến người ta nhớ đến Phùng Văn Khầu không chỉ là những trận đánh trên đồi E1. Trong Chiến dịch Điện Biên Phủ, người chiến sĩ không biết chữ ấy đã tạo nên một thành tích đặc biệt: 22 phát bắn trúng 21 mục tiêu bằng phương pháp ngắm trực tiếp qua nòng pháo. Ông không có máy ngắm hiện đại, nhưng có đôi mắt được tôi luyện qua chiến trường, có sự bình tĩnh và kinh nghiệm được tích lũy qua từng trận đánh.

Sau Điện Biên Phủ, Phùng Văn Khầu tiếp tục chiến đấu trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Ông tham gia nhiều chiến trường và trận đánh lớn tại Tà Cơn, Cồn Tiên, Dốc Miếu, Đường 9 - Khe Sanh, Hạ Lào, Quảng Trị và Tổng tiến công, nổi dậy Xuân Mậu Thân (1968). Từ một Binh nhì không biết chữ, ông từng bước học tập, trưởng thành trong quân đội, đến năm 39 tuổi trở thành Phó chính ủy Trung đoàn Pháo binh 675B tại mặt trận năm 1968 và sau này nghỉ hưu với quân hàm Đại tá.

Cuộc đời Phùng Văn Khầu là hành trình từ một cậu bé mồ côi phải đi ở đợ trở thành người chiến sĩ pháo binh được cả đất nước ghi nhận. Ông từng dùng những viên sỏi để tính tiền khi làm hậu cần, từng tự tìm cách ngắm bắn qua nòng pháo khi không thể sử dụng máy ngắm, từng một mình vận hành khẩu pháo giữa trận địa chỉ còn lại hai người, rồi cùng đồng đội bám trụ suốt 36 ngày đêm trên đồi E1.

Từ những viên sỏi nhỏ bé trong những năm tháng hậu cần đến khẩu sơn pháo 75 ly giữa chiến trường Điện Biên Phủ, Phùng Văn Khầu luôn tìm được cách vượt qua những điều tưởng như không thể. Và chính sự sáng tạo, lòng quả cảm cùng ý chí không lùi bước ấy đã làm nên hình ảnh một người Anh hùng pháo binh Phùng Văn Khầu, một trong những chiến sĩ tiêu biểu của Điện Biên Phủ.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn