Nhân chứng trực tiếp tham gia các sự kiện lịch sử

PHƯỚC LONG ĐẤT VÀ NGƯỜI - KHÁNG CHIẾN CHỐNG PHÁP

Năm 1946, quân Pháp đánh chiếm Bến Tre – Tán Kế và khủng bố dã man nhân dân Phước Long, khiến Chi bộ Phước Long lập Ủy ban kháng chiến, tổ chức tiêu thổ kháng chiến và xây dựng lực lượng tự vệ. Các đội du kích và bộ đội ông Đại liên tục chiến đấu, từ trận vàm Thủ Cửu đến trận phục kích ngày 25-6-1946, mở ra vùng giải phóng rộng lớn và trở thành nơi Tỉnh ủy đào tạo cán bộ. Giai đoạn 1947–1949, phong trào kháng chiến phát triển mạnh, du kích tấn công nhiều đồn bốt trong khi Pháp mở các cuộc càn qu

Vĩnh Long01/12/2025Võ Nguyễn Đức Huy (Đoàn TNCS Hồ Chí Minh xã Phước Long)3 lượt xem0 lượt chia sẻ

Ngày 8-2-1946, quân Pháp đánh chiếm tỉnh lỵ Bến Tre và quận Tán Kế, lập lại bộ máy cai trị, xây nhiều đồn bót và tiến hành khủng bố, giết hại nhiều người dân vô tội ở Phước Long, trong đó có các vụ thảm sát tại Cồn Ốc và việc sát hại hai đồng chí Hồ Biện, Từ Hải, Sử Văn Thường, Ba Thân.

Trước tình hình đó, Chi bộ Phước Long tái lập Ủy ban kháng chiến do đồng chí Võ Bá Phan làm Chủ tịch; vận động dân thực hiện tiêu thổ kháng chiến, tản cư, làm “vườn không nhà trống”, đắp cản, dựng ụ chiến đấu và củng cố lực lượng tự vệ.

Chi bộ chỉ đạo thành lập đội vũ trang Phước Long (bộ đội ông Đại – Hồ Văn Đại) phối hợp với lực lượng du kích do đồng chí Võ Bá Phan chỉ huy. Trận đánh mở màn tại vàm Thủ Cửu gây thiệt hại cho địch và cổ vũ tinh thần kháng chiến của nhân dân.

Ngày 25-6-1946, du kích Phước Long phối hợp các đơn vị bạn phục kích một đại đội Pháp từ Thạnh Phú Đông, tiêu diệt hai trung đội và thu nhiều vũ khí. Chiến thắng này mở ra vùng giải phóng liên hoàn gồm Thuận Điền, Phước Long, Long Mỹ, Thạnh Phú Đông và Tân Hào. Tỉnh ủy Bến Tre chọn Phước Long làm nơi mở lớp bồi dưỡng cán bộ.

Năm 1947–1948, phong trào phát triển mạnh; Tỉnh ủy mở hội nghị và lớp chính trị tại Phước Long, quán triệt đường lối “trường kỳ kháng chiến” của Trung ương. Lực lượng du kích lớn mạnh, tháng 6-1948 liên quân các xã tấn công đồn Ông Nhiễu, diệt địch và thu 20 khẩu súng.

Ngày 10-12-1948, theo chủ trương tổ chức lại hành chính, huyện Tán Kế bị giải thể; Phước Long trở về huyện Châu Thành.

Đầu 1949, xã thành lập xã đội do đồng chí Đặng Văn Kế phụ trách. Du kích tiếp tục chống càn, diệt lính đi lẻ, thu vũ khí, được nhân dân che chở mạnh mẽ.

Trước sự phát triển của phong trào, Pháp tăng cường quân, phối hợp bốn đồn trong xã càn quét, đốt phá, cướp bóc và khủng bố dã man Phước Long và vùng cánh Tây Giồng Trôm, gây thời kỳ hết sức ác liệt cho quân dân địa phương.

Để có thể sống được trên một vùng đất như vậy, cư dân Phước Long phải đoàn kết, thương yêu đùm bọc lẫn nhau và tính cần cù, chịu khó trong lao động, chông chọi với mọi khắc nghiệt; phải có ý chí quyết tâm vượt qua mọi khó khăn, thử thách để xây dựng cuộc sống mới, trên quê hương mới.

Lớp cư dân đến đất cù lao Bến Tre là những người thuộc nguồn gốc từ Miễn Trung và một số cư dân Miền Bắc) đến khai phá từ cuối thế kỷ thứ XVIII, riêng cư dân đến khai phá vùng đất Phước Long xưa không trực tiếp đên đây ma lưu cư tại Gò Công (Định Tường nay là Tiền Giang) sau chuyên cự vào Phước Long di chuyển bằng xuồng, chia thành 2 nhóm và hội tụ tại đất rừng lá (nay là ấp 6 Phước Mỹ) và vùng đất giồng Kè (nay là ấp 4 Mỹ Thanh), sau đó lập trại, dần dần rồi lập làng.

Đối chiếu với gia phả của những kiến họ lớn ở Phước Long hiện nay thì tiên hiền là hai anh em ruột ông Lê Phát Tân và Lê Phát Tạo, người anh Lê Phát Tạo khai phá vùng đất rừng lá trồng lúa nước, sau đó qua tỉnh Vĩnh Long mộ dân về thành lập làng Phước Mỹ. Việc thành lập các thôn ấp được hình thành ở vùng đất mới, nơi nào khai phá được trên 50 mâu và quy tụ được 50 dân đinh (ngày xưa khi tính đên nhân lực người ta thường lấy chuẩn là dân đinh hay tráng đinh tức là trai tráng đang trong độ tuổi lao đông hay binh dịch) trở lên thì được thành lập 1 thôn, ông Lê Phát Tạo mộ được 100 người dân ở Vĩnh Long về cùng khai phá đất lập làng Phước Mỹ.

Ông Lê Phát Tân lên vùng đất cao ráo để khai phá rừng hoang, mở ruộng, lên vườn lập ra 3 trại, gồm: trại Giồng Kè, trại Giồng Quýt, trại Giồng Ểnh sau đó sáp nhập các trại lại thành lập làng Long Hưng. Con gái thứ ba của ông Lê Phát Tạo lập gia đình với người họ Phạm sinh ra người con trai là Phạm Văn Ngọc (sau này là huyện Ngọc) cùng cha khai phá vùng đất cồn Ốc (Hưng Phong ngày nay).

Như vậy, từ rạch Thủ Cửu vào, cư dân Phước Long xưa đã khai phá nên vùng đất Giồng Quýt, sau lập thôn Long Hưng và phía Đông hạ lưu sông Hàm Luông, cư dân khai phá vùng đất rạch Lá, rạch Heo, lập thôn Phước Mỹ.

Khi vào khai phá vùng đất mới, cư dân mang ít công cụ sản xuất, họ dựng lò rèn thủ công để sản xuất ra dụng cụ khai phá như: rìu, búa, phảng và các loại dao chặt. Giống cây trồng được mang theo từ nơi cũ vào, vật nuôi

đem vào là gia câm, sức kéo trâu bò, sau này khi ôn định khu vực quân cư mới có. Vùng đât rừng lá ngay càng được cư dân khai phá mở rộng thành ruộng làm lúa và lên vườn trông dừa, sử dụng cây rừng cât nhà ở kín đáo hơn đê phòng tránh thú dữ như: cọp, heo rưng. Câu chuyện cư dân làm ruộng thời đó, chị em cấy lúa, thì ở trên bờ có người đàn ông cao to nói chuyện rất lớn tiếng ngồi đó vài mươi phút la to "cọp cọp" .. Mỗi lần tiếng

la vang lên, cọp sợ không dám đên. Những người lớn tuôi kê lại dân đi làm ruộng về để quên túi vải (túi đựng lương thực, thực phẩm mang theo ăn khi lao động), sáng ra, họ trở lại thấy có cọp con năm trong túi vải

Khai phá rừng lá, lập ruộng, mở sẻo, đưa nước từ các nhánh của sông Hàm Luông vào ruộng, phía trên ngọn đồng lá mịt mù nên gọi là rạch Lá, phía ngoài ngọn sẻo nhỏ bầy heo rừng đi thành lối mòn gọi là rạch Heo, các rạch này ngày càng rộng dần, cá sấu ở ngoài sông lớn rượt cá nhỏ vào rạch mắc cạn lại (mắc cạn tại vườn Phạm Hữu Vi (Mười Vi).

Người dân Phước Long xưa đã không ngại gian nan, khổ cực và hiểm nguy, phát huy tinh thần tương trợ, đùm bọc lẫn nhau, đoàn kết cùng chống chọi với thiên nhiên hoang dã, thú dữ trên cạn, dưới sông, họ gian khổ lao động cật lực, khai phá đất rừng hoang, mở rộng ruộng đất, thu hẹp dần đất rừng, biến vùng đất hoang sơ thành ruộng vườn trù phú, cư dân phát triển đông đúc.

Thuở lập làng Phước Mỹ tiền hiền vận động người dân chở đất bên cồn về đắp nền lập chợ Phước Mỹ và xây cất đình Phước Mỹ, làng Long Hưng, lập chợ Bến Tranh. Đình có 2 sắc phong 1 sắc ở đình Long Hưng là

"Phước Hưng Bảo An Thành hoàng Chi thần" thời Thiệu Trị ngũ niên năm 1845 và 1 sắc ở đình Phước Mỹ sắc phong "Thành hoàng Bổn Cảnh" thời Tự Đức ngũ niên. Ngoài thờ thần, nhân dân còn thờ các vị vua Hùng, tiền hiền có công khai khẩn đất đai lập làng, lập chợ, lập đình, hàng năm có lễ hội cúng kỳ yên là lễ thượng điền và lễ hạ điền cầu cho quốc thái dân an, phong hòa vũ thuận (tức là cầu cho mưa thuận gió hòa). Với truyền thống uống nước nhớ nguồn của dân tộc "Quảy đôn lòng thành kính, đèn chông, hương dốc trả ơn xưa/ Mặc lạt đĩa muối dưa, lễ kỵ ngày nay đền nghĩa cữ Nhân dân rất tin tưởng có Thành hoàng che chở để cuộc sống bình yên, đình là nơi sinh hoạt cộng đồng của cư dân xưa thời khai hoang lập trại, lập làng tương trợ với nhau trong đời sống và hình thành tập quán tín ngưỡng dân gian cho đến ngày nay.

Đất đai bước đầu thành khoảnh, bộ máy chính quyền hình thành, những người có tiền của dần dần thâu tóm ruộng đất về tay mình. Vào năm 1831, thời vua Minh Mạng, chính quyền vương triều nhà Nguyễn chia ra

6 tỉnh Nam kỳ sau này gọi là Nam kỳ lục tỉnh và thành lập bộ máy chinh quyền cơ sở tỉnh, phủ, huyện, tổng và các thôn, mở cuộc đo đạc đất đai, lập bộ đất để thu thuế trên các hạng ruộng đất và cũng có nhiều gia đình giàu có ở Châu Thành Bên Tre, Định Tường đến mua ruộng, mướn người làm, cho mướn lại và thu tô, còn lớp điền chủ thì móc nối với quan lại địa phương tạo cho họ thuận lợi trong việc cho vay nặng lãi đối với người nông dân nghèo khi mùa màng thất bát phải vay mượn của địa chủ, điền chủ, và dần dần ruộng đất vào tay họ.

Vay một trăm đồng mỗi năm phải đóng cho họ mười lăm đồng tiền lãi, người nông dân làm ruộng chỉ có một vụ trong năm lúa trúng được 10 giạ/1 công đât, lúa có mấy cắc một gia thì tính ra phải trả lời mấy chục gia lúa, không trả nôi thì hẹn nợ hay bán lúa non, cầm cố ruộng, đên mùa chủ nợ trừ nợ, hêt lúa, phải đi vay lại và khi đến hạn không trả được thì điền chủ dựa vào chính quyền thực dân phong kiến phát mãi ruộng đất và cướp đoạt đất đai của người nông dân, vậy là bao nhiêu mồ hôi công sức của cha ông khai phá nên những mảnh vườn, thửa ruộng đã thuộc về địa chủ, nông dân nhận cày thuê cho địa chủ gọi là tá điền, nộp tô, làm quần quật suốt ngày nhưng vẫn không khá lên được. Ở Phước Long, chỉ có địa chủ hội đồng Hùng là người ở địa phương, còn lại từ nơi khác đến như Trần Văn Muôn ở Mỹ Lồng (xã Mỹ Thạnh Giông Trôm) gọi là huyện Muôn. Phần lớn đất đai của nông dân thuộc về các địa chủ lớn là Trần Văn Muôn (huyện Muôn), Hội đồng Hùng, Trần Kỳ Hoa (cha là địa chủ Trần Kỳ Vương) có vựa lúa ở Giồng Kè và nhiều địa chủ khác ở Giồng Trôm có đất ở Phước Long như địa chủ Châu Văn Tường, địa chủ Võ Nhật Đôn và cũng có 1 phần đất của địa chủ Lê Thị Nghĩa (Ba Ngỡi) ở làng Phước Mỹ, theo tư liệu cũ để lại thì ở Giồng Trôm mỗi địa chủ bao chiếm hàng trăm hécta đất ruộng, trong đó nồi bật là địa chủ Lê Thị Nghĩa chiêm 828 hécta, địa chủ Mai Thị Nương chiếm 240 hécta. Địa chủ bóc lột người nông dân rất nặng nề, mỗi công đất ruộng mướn, tá điền phải nộp tô 5 giạ lúa (mỗi năm làm chỉ có một vụ lúa, trúng là 10 giạ) , còn vay lúa cứ 10 giạ lúa cuối vụ phải trả 20 giạ, ngoài bóc lột bằng thu tô, bọn địa chủ còn bắt tá điên phải làm công lê cho chúng, lao động không công mỗi năm 12 ngày và đến lễ, tết thì phải cống nạp gạo nếp thơm, thịt rượu ngon cho chúng nêu không thì sẽ không được mướn ruộng làm năm sau. Vì yếu thế và vì cuộc sống, tá điên phải nhịn nhục làm theo.

Dưới thời Pháp thuộc, thực dân Pháp thực hiện chính sách cai trị bắt người dân phải đóng thuế thân hàng năm, người có điền đất gọi là người hữu sản phải đóng 5,5 đồng/người/năm, người không có điền sản (vô sản) thì đóng 4,5 đồng/người/năm và nhiều thứ thuế khác như thuế nhà đất, trâu bò cũng phải tính đóng thuế, những người nông dân không có đất sản xuất phải đi làm thuê, làm mướn cho địa chủ, chủ đồn điền, tiền công lao đông mỗi ngày một cắc rưỡi đến hai cắc nên nhiều người nghèo không đủ tiên đóng thuế thân phải vay tiền địa chủ đề đóng và từ đó, làm nô lệ lao động cho bọn chúng suốt đời cha cho đên đời con, còn những người khác phải trốn qua nơi khác làm ăn sinh sống vì phải trốn thuế sống không hợp pháp gọi là dân lậu. Những người làm mướn, làm thuê cho địa chủ lao động suốt ngày nhưng địa chủ chỉ cho ăn cơm 2 buổi trưa và chiều, đời sống của người dân Phước Long xưa ngày càng lâm vào cảnh bần cùng. Chế độ thực dân phong kiến đã làm cho đời sống của nhân dân Phước Long đến bước lầm than, khổ cực, của cải làm ra bao nhiêu đều bị thuế má, tô tức vét sạch.

Từ chính sách phi nhân đạo vô cùng độc ác và tàn bạo của thực dân Pháp, có người khổ đến mức không đủ quần áo để mặc.

Thực dân Pháp không phát triên văn hóa, giáo dục và y tế, chính quyền thực dân còn khuyến khích người dân cờ bạc, rượu chè. Thời Pháp thuộc, ở Phước Long có 1 trường học ba lớp: Lớp năm, lớp tư, lớp ba (tức là lớp 1, lớp 2, lớp 3 hiện nay) muốn học lên lớp trên thì phải lên tỉnh ly (tức thành phố Bến Tre ngày nay). Trường học chỉ dành cho con các tầng lớp trung nồng, phú nông và địa chủ, con các tầng lớp cố nông, bần nông không có điều kiện học hành do chính sách bần cùng hóa của thực dân Pháp, thất học, dốt nát...

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn