Phương thức tổ chức làng chiến đấu và chiến thuật kết hợp vũ khí thô sơ chống càn tại Tây Nguyên giai đoạn 1950 – 1954
Từ năm 1935, trước các cuộc hành quân bắt phu, thu thuế của thực dân Pháp tại vùng rừng núi An Khê – Kbang, Đinh Núp đã dùng nỏ bắn trọng thương một lính Pháp đi càn, chứng minh cho dân làng thấy binh lính đối phương hoàn toàn có thể bị tiêu diệt bằng vũ khí bản địa. Sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, khi quân Pháp quay lại chiếm đóng Tây Nguyên, ông vận động toàn bộ người dân làng Stơr dời sâu vào rừng lập làng kháng chiến Kông Hoa, tổ chức phát rẫy trồng lúa, ngô, sắn tự túc lương thực gắn liền với huấn luyện du kích.
Để đối phó với các đơn vị bộ binh cơ động của Pháp được trang bị súng trường và tiểu liên hiện đại, Đinh Núp đã huy động dân làng chế tạo hàng chục vạn mũi chông tre, chông lồ ô (gồm chông bàn, chông thò, chông treo), kết hợp với hệ thống hầm sập, bẫy đá lăn trên các sườn dốc và dàn cung tên tự động có tẩm nhựa cây độc. Ông áp dụng chiến thuật phòng ngự di động: khi quân Pháp tiến vào làng cũ, du kích ẩn nấp trong giao thông hào rừng rậm dùng nỏ bắn tỉa từng tên rồi rút qua các lối mòn bí mật, nhử đối phương lọt vào khu vực bố trí bẫy đá và bãi chông liên hoàn.
Từ tháng 10/1950 đến đầu năm 1954, đội du kích xã Tơ Tung dưới sự chỉ huy của Đinh Núp đã đánh trả thắng lợi hơn 20 cuộc hành quân càn quét quy mô từ cấp đại đội đến tiểu đoàn của quân Pháp, tiêu diệt và làm bị thương hàng trăm binh sĩ đối phương, bảo vệ an toàn tuyệt đối tính mạng cho người dân trong suốt những năm kháng chiến. Mô hình kết hợp sản xuất tự túc với bố phòng liên hoàn bằng vũ khí tự tạo của làng Stơr nhanh chóng được phổ biến rộng rãi khắp chiến trường Liên khu 5. Ông được Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng Quân đội ngày 31/8/1955.



