Quá khứ của ông tôi
Quá khứ của ông tôi
– Thời thơ ấu: Năm ông tôi lên 8, quân đại Hàn hành quân đến ngôi làng nơi ông sống. Chúng gom người dân lại thành từng nhóm, thành từng hàng. Lúc đó, những đứa trẻ đã được dặn phải dắt nhau đi trốn trên núi. Tuy nhiên, vẫn có những người ở lại: phần là người già không còn khả năng di chuyển, phần là người lớn muốn chết tại nơi mình sinh ra, phần vì không còn gia đình để hy vọng sống tiếp, và phần muốn ở lại để làm chậm tiến độ hành quân của chúng nhằm tranh thủ thời gian cho trẻ em di tản. Lúc này, chúng chẳng thèm bắt người dân đào hố như mọi khi mà trực tiếp xả súng. Khi đó, những người già tranh nhau đứng đầu hàng, theo sau là những người trung niên; họ cùng nhau che chắn cho những đứa trẻ không kịp di tản. Cả tốp người ngã xuống liên tiếp, nhưng chính nhờ sự đoàn kết này mà rất nhiều đứa trẻ đã sống sót dưới núi xác của người lớn. Ông tôi may mắn hơn khi đã kịp di tản cùng những người khác lên núi trốn. Tay ông dắt em trai, lưng cõng em gái nhỏ. Sau này khi về lại làng, những người kịp thời di tản phải nén đau để bới lên từng lớp xác người với hy vọng tìm được vài người còn sống. Ký ức năm ấy tàn khốc đến mức ông tôi vẫn nhớ rõ đó là năm 1966. Vào chính ngày hôm đó, ông bà cố của tôi (tức cha mẹ của ông) đã nằm lại nơi đây mãi mãi ở quê nhà. Ông vừa nói vừa rưng rưng, nhưng chỉ có thể kể lại những chi tiết rời rạc chắc hẳn vì quá đau lòng và tôi phải tự mình ghép lại thành câu chuyện này.
– Thời niên thiếu:. Sau này, ông cùng hai em phải nương nhờ nhà cô để sống. Một thời gian sau, vì không muốn tạo thêm áp lực cho gia đình cô cũng như muốn cuộc sống của 2 em đỡ cơ cự hơn, ông quyết định đi bỏ xứ. Ông đến với vùng đất Nhơn Hải sau thời gian dài đi bộ và đi nhờ xe, ông đã làm việc và sinh sống tại đó gần 10 năm. Sau này ông về quê, đến năm 18 tuổi thì nhập ngũ (1976). Lúc đó, ông được điều qua Campuchia để chống Pol Pot; đến cuối năm 1982, đầu năm 1983 thì về nước.
– Sau thời khói lửa: Cứ tưởng chiến tranh đã qua đi, nhưng những dấu vết của chiến tranh đã để lại cho ông những vết thương vô cùng tàn khốc. Bom dội liên hồi khiến ông suýt mất mạng vì bị hàng lọt mảnh đạn ghim vào thân. Nhưng đó không phải là cơn đau nặng nề nhất; thứ nặng nhất chính là những ký ức thời chiến trận. Lúc mới về, đêm nào ông cũng gặp ác mộng, ông mơ thấy mình vẫn còn ở chiến trường. Ông hô hào liên tục, lúc thì “tiến lên bắn chết bọn chúng”, khi thì “lùi lùi chờ viện binh”... Sau một thời gian dài, những cơn ác mộng có giảm đi nhưng vẫn luôn bám lấy ông. Cho đến nay đã gần 45 năm, nhưng mỗi khi ông say, những ký ức đó lại hiện về.
“Đây chỉ là những phần ký ức rời rạc mà ông kể cho tôi nghe. Ông chưa bao giờ kể cho tôi hay bất kỳ ai nghe hoàn toàn về quá khứ của mình cả. Phần vì đau, phần vì ông không muốn mọi người phải thương cảm cho quá khứ của mình. Ông chọn ôm hết những ký ức đau thương đó một mình để giữ lại tiếng cười cho đời sau.


