Anh hùng Lực lượng vũ trang

"Quả lựu đạn cuối cùng" và khoảng lặng sau tầm ngắm của người anh hùng cao xạ

Ghé thăm ngôi nhà bình yên của Anh hùng Đỗ Văn Chuyền để lắng nghe lời tự sự đầy lay động về một thời "bão lửa" của lực lượng pháo cao xạ Quân khu 4. Bài viết bóc tách những góc khuất rất con người phía sau hào quang chiến công — nơi lồng ngực người lính có cả nỗi sợ, niềm căm thù giặc và lời thề giữ lại quả lựu đạn cuối cùng để quyết không rơi vào tay giặc.

Quảng Trị09/06/2026Chi đoàn 10 Anh 23 lượt xem0 lượt chia sẻ

Nép mình sau một vườn rau xanh mướt tại tổ dân phố 4 Đông Minh, phường Đông Sơn, tỉnh Thanh Hóa là ngôi nhà cấp 4 mộc mạc của Anh hùng Lực lượng vũ trang (AHLLVT) nhân dân Đỗ Văn Chuyền. Trước sân nhà ông, một cây chanh trĩu cành đổ bóng bên cạnh gốc đào vừa qua mùa nở rộ. Không gian giản dị và tĩnh lặng đến mức ngỡ ngàng, khiến bước chân người ghé thăm khó lòng hình dung nổi nơi đây lại là chốn dừng chân của một con người từng đi dọc chiều dài cuộc chiến khốc liệt, viết nên những chiến công lẫy lừng cùng lực lượng pháo cao xạ Quân khu 4. Bước qua bậc cửa, những tấm huân chương, bằng khen và loạt ảnh kỷ niệm treo kín các khoảng tường như những chứng nhân im lặng, lưu dấu cả một thời thanh xuân rực lửa đạn.

Năm nay, AHLLVT nhân dân Đỗ Văn Chuyền đã bước sang tuổi 80. Mái tóc ông bạc trắng như mây trời, đôi mắt đã vẩn đục màu thời gian, nhưng lạ thay, hễ dòng hồi tưởng chạm đến những ngày tháng trên chiến trường, ánh nhìn ấy bỗng chốc rực sáng, giọng nói lại trở nên rõ ràng, mạch lạc kỳ lạ. Lật lại ký ức, ông nhập ngũ vào tháng 9-1965, biên chế vào Trung đoàn 218, Quân khu 4. Thuở ấy, cũng như bao chàng trai mười mươi rời lũy tre làng, Đỗ Văn Chuyền chỉ trải qua vỏn vẹn 15 đến 20 ngày huấn luyện cấp tốc, học thuộc lòng “10 lời thề danh dự” là lập tức khoác ba lô ra trận, vừa đánh giặc vừa tự rèn luyện bản thân.

Sở hữu sức vóc của chàng thanh niên bẻ gãy sừng trâu, hễ đào xong công sự của mình, ông lại xắn tay áo đào tiếp cho đồng đội. Mọi phần việc nặng nhọc, gai góc nhất trong trung đội, ông đều tự nguyện giành lấy về mình khiến ai nấy đều yêu mến, nể phục. Sự thiện chiến và nhiệt huyết ấy giúp ông nhận được Huân chương Chiến công hạng Ba chỉ sau đúng 3 tháng tuổi quân. Nghe nhắc lại chuyện cũ, người anh hùng già nở nụ cười hiền hậu: “Ngày đó học bảng bắn súng máy 12,7mm, tôi chỉ mất hai ngày là thuộc lòng”.

Thế nhưng, đằng sau hai chữ “thuộc lòng” nhẹ tênh ấy lại là vô số đêm dài thức trắng, là áp lực sinh tử căng như dây đàn luôn rình rập trên mỗi mâm pháo. Ông nhớ mãi những ngày đóng quân tại đèo Phà Ròn, một địa danh hiểm trở thuộc Quảng Bình cũ (nay thuộc Quảng Trị). Có những đêm, còi báo động rú vang liên hồi tới 60-70 lần, hễ bóng dáng máy bay địch xuất hiện là anh em lại lao như tên bắn ra trận địa. Đang dở bữa cơm, bom giội xuống ầm đoành, đất cát bay mù mịt phủ xám cả mâm, anh em chỉ kịp gạt vội lớp bụi đi rồi lại nghẹn ngào ăn tiếp. Giai đoạn cao điểm, có tháng trời người lính chỉ chợp mắt được vỏn vẹn 6 đến 7 đêm.

Trải qua thực tế chiến đấu, ông trưởng thành vượt bậc từ một pháo thủ số 2 rồi trở thành Khẩu đội trưởng pháo cao xạ 37mm thuộc Đại đội 43, Tiểu đoàn 5, Trung đoàn 218. Suốt dọc chiều dài cuộc chiến, ông đã can trường tham gia gần 300 trận đánh lớn nhỏ, trực tiếp chỉ huy trận địa giữ vững bầu trời quê hương. Giữa làn mưa bom bão đạn dày đặc, dù nhiều lần bị mảnh đạn găm vào người bị thương, ông vẫn kiên quyết không rời vị trí mâm pháo, kiên cường bám trụ để điều khiển lưới lửa tầm cao bắn rơi và bắn bị thương nhiều máy bay phản lực của Mỹ. Với những cống hiến đặc biệt xuất sắc, năm 1970, ông vinh dự được Đảng và Nhà nước phong tặng danh hiệu Cao quý: Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân.

Ngồi đối diện với người nhân chứng lịch sử, tôi khẽ hỏi một câu hỏi mà có lẽ bất cứ người trẻ thời bình nào cũng tò mò: “Ngày đó, bác có biết sợ không?”. Ông lặng đi một chút rồi cười, nụ cười bao dung đầy trải nghiệm: “Có chứ cháu, sợ chết, sợ đau chứ. Con người bằng xương bằng thịt ai mà không biết sợ. Nhưng lúc bấy giờ, lòng căm thù giặc và tình thương đồng đội, khát vọng về một ngày mai hòa bình đã át đi tất cả. Nghĩ thế là lại đứng dậy chiến đấu thôi”. Lời tự sự mộc mạc ấy khiến lồng ngực tôi thắt lại. Hóa ra, đằng sau những chiến công thần kỳ được ghi vào sử sách là những con người bằng xương bằng thịt vô cùng chân thật, biết đớn đau và biết đối diện với nỗi sợ hãi của chính mình.

Ông bùi ngùi nhớ về những năm tháng nếm mật nằm gai ở "đất lửa" Vĩnh Linh — nơi mà người ta vẫn bảo nhau “ở lại là chết”, thế nhưng từ trên xuống dưới chẳng một ai lùi bước, tất cả đều xung phong ở lại giữ trận địa. Giữa lòng chảo ấy, máy bay địch gầm rú điên cuồng trên đỉnh đầu, pháo từ hạm đội biển bắn vào, từ các căn cứ Cồn Tiên, Dốc Miếu câu sang, kết hợp với bộ binh càn quét dữ dội. Bom napalm và bom bi trút xuống xối xả như muốn san phẳng, xóa sổ mọi sự sống.

"Ngày đó đạn cao xạ của ta vô cùng khan hiếm. Một xe đạn chở đến trận địa, anh em bắn căng thẳng tầm hai tiếng là cạn sạch. Vì thế, chúng tôi bảo nhau phải thật bình tĩnh, ngắm bắn thật trúng, tuyệt đối không được bắn bừa bãi. Bom nổ sát sạt bên sườn pháo, đất đá hất tung văng đầy vào người, mắt vẫn phải dán vào kính ngắm. Có đồng chí bị mảnh bom phạt cụt chân vẫn nghiến răng bám trận địa tiếp đạn. Bị thương chưa ai chịu băng bó ngay, cứ phải đánh cho xong trận cái đã," vị cựu khẩu đội trưởng bồi hồi nhớ lại.

Chiến tranh tàn khốc đến mức, ông kể rằng mỗi khi đơn vị nhận lệnh vượt sông vào vùng nguy hiểm, có bao nhiêu tiền bạc, tư trang anh em đều đem tặng hết cho người dân bản xứ. Bởi lẽ, trong tâm khảm của những người lính năm ấy, không một ai dám nghĩ đến ngày mình sẽ trở về. Đỉnh điểm là lần đơn vị của ông bị quân địch bủa vây cô lập hoàn toàn tại điểm cao 300 Lèn Đá (Quảng Trị). Trong tình thế hiểm nghèo ngàn cân treo sợi tóc, ông đã quay sang nói với vị chính trị viên một câu nói mà cho đến tận hôm nay, khi lặp lại, bờ môi người anh hùng già vẫn run lên bần bật: “Chính trị viên yên tâm, anh em chúng tôi luôn giữ lại cho mình một quả lựu đạn cuối cùng, quyết không bao giờ để chúng bắt sống”.

Nói dứt câu, ông im lặng nhìn ra khoảng sân vắng, đôi mắt nhòe lệ. Tôi cũng lặng người đi, không ngăn được giọt nước mắt xúc động dâng trào. Trong khoảnh khắc linh thiêng ấy, chiến tranh dường như không còn là những trang sách hay câu chuyện kể của quá khứ xa xôi, mà nó đang hiện hữu một cách sống động, gai góc ngay trước mắt chúng tôi.

Được ngồi lắng nghe AHLLVT nhân dân Đỗ Văn Chuyền kể lại những năm tháng đánh Mỹ trong một buổi chiều tháng Tư lịch sử, tôi mới càng thấm thía sâu sắc cái giá mà đất nước và các thế hệ cha anh đã phải đánh đổi bằng xương máu để đổi lấy sự bình yên hôm nay. Thứ tôi mang theo khi rời khỏi ngôi nhà cấp 4 ấy không đơn thuần là tư liệu cho một bài viết, mà là một niềm xúc động và lòng biết ơn vô hạn về con người, về sự khốc liệt của chiến tranh và giá trị thiêng liêng của hai chữ "Hòa bình".

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn