Nhân chứng trực tiếp tham gia các sự kiện lịch sử

Qua miền Tây Bắc

Từ khi còn nhỏ, tôi đã được nghe những bài hát về miền Tây Bắc qua những sáng tác của các nhạc sĩ An Thuyên, Nguyễn Thành, Đỗ Nhuận... với những lời thôi thúc như: "Đường lên Tây Bắc vút xa mờ. Đường lên Tây Bắc mây trắng bồng bềnh như mơ... Vượt sông Lô, ngược sông Hồng. Đường lên Tây Bắc đi trong mênh mông đất trời yêu thương. Gặp lại dấu chân cha ông. Gặp lại chín năm gian khổ. Những dấu chân mang hình mũi tên, còn đây chí hướng chúng ta đi tới. Kìa Điện Biên! Non cao Hoàng Liên! Sáng niềm ti

Lai Châu05/07/2026Nguyễn Công Huy (xã nậm mạ)3 lượt xem0 lượt chia sẻ
CHUYẾN ĐI ĐẦU TIÊN
Thời gian Trung đoàn của tôi đóng quân ở sân bay Yên Bái thì sân bay Nà Sản của tỉnh Sơn La được chỉ định là sân bay dự bị và cũng là sân bay cơ động của Trung đoàn tôi.

Theo đúng quy định, trước ban bay huấn luyện nào cũng phải tổ chức bay trinh sát thời tiết. Sau khi bay trinh sát qua các không vực bay của Trung đoàn, kiểu gì tôi cũng bay cắt qua sông Hồng, vòng về sân bay Nà Sản để xem xét khí tượng ở khu vực đó ra sao, sau đó bay rẹt dọc đường cất hạ cánh của sân bay Nà Sản ở độ cao thấp, thậm chí cực thấp rồi bật tăng lực, kéo ngược lên, lật máy bay quay về hướng Yên Bái, vào hạ cánh.

Một điều như hiển nhiên, thời tiết ở khu vực Sơn La gần như khác hoàn toàn với khu vực Yên Bái 180 độ. Khi ở Yên Bái "trời quang mây tạnh" thì ở Sơn La trời đầy mây. Khi ở Yên Bái trời u ám, mây phủ dầy thì Sơn La lại quang đãng không một gợn mây nào. Dòng sông Hồng tựa như biên giới phân định thời tiết hai nơi một cách rõ rệt. Rất nhiều lần thấy được sân bay Nà Sản từ trên không, nhưng chưa một lần nào tôi đi bằng đường bộ đến đó.

Vì là sân bay cơ động, sân bay dự bị của Trung đoàn nên tôi phải tìm cách lần tới đó để "mục sở thị" bằng được mới thôi...

Có một lí do rất đơn giản và rất thiết thực, đấy là nếu phải đi cơ động thì các thành phần như cơ quan tham mưu, kỹ thuật, hậu cần, thông tin... bắt buộc phải di chuyển bằng đường bộ, chỉ có thành phần phi công là chuyển máy bay bằng đường không tới đó. Vậy thì phải biết cụ thể tuyến đường ấy nó thế nào, có những khó khăn, thuận lợi gì khi chuyển quân để còn tính toán cho tốc độ di chuyển cùng trăm thứ kèm theo đảm bảo an toàn.

Theo tuyến đường quốc lộ số 6, tính điểm đầu là cầu sông Nhuệ (thị xã Hà Đông), qua Hòa Bình thì từ Hòa Bình lên Sơn La là 256 cây số. Nếu như tình trạng đường xá được như bây giờ và các phương tiện vận chuyển hiện đại như bây giờ thì thời gian di chuyển cho việc chuyển quân thực sự chẳng đáng là bao và chuyến hành quân chắc chắn là nhàn nhã hơn nhiều. Nhưng vào những năm đầu 1980 thì đấy là cả một vấn đề. Ngay như chuyện vượt dốc thôi cũng đã phải tính toán cho thật cẩn thận rồi. Xe cộ đều thuộc dạng "cà tàng", nhất là cái "anh" Ru-ma-ni sản xuất thì đúng là "vừa đi vừa đẩy" thật. Lên xuống dốc như vậy đâu có dễ. Cái dốc Cun ở Hòa Bình một thời đã là nỗi run sợ của nhiều lái xe: đường hẹp, dốc núi quanh co, cây cối rậm rạp, vực sâu, tầm nhìn hạn chế, rất nhiều nơi bị che khuất chẳng biết đằng trước sẽ có gì. Mối nguy hiểm luôn rình rập không biết sẽ xảy ra lúc nào. Các dốc lại liền nhau, tiếp nối nhau liên tục: hết dốc Cun lại đến dốc Quy Hậu... Lơ mơ là "ăn đòn" ngay! Vậy nhưng vẫn phải đi!

Chuyến đi đầu tiên của tôi được xuất phát từ Sư đoàn, qua thị xã Hà Đông, ngược phía Hòa Bình theo tuyến đường quốc lộ số 6 để đến Nà Sản - Sơn La đầy âu lo và căng thẳng.

Chuyển bánh từ 4-5 giờ sáng, xe cứ rù rì chạy nhích từng cây số một. Có lẽ cần phải nói rằng: di chuyển trên tuyến đường dài chính là sự rèn luyện tính kiên nhẫn và sự dẻo dai, bền bỉ cả về sức khỏe lẫn tinh lực. Nóng vội cũng hỏng việc mà trễ nải cũng hỏng việc...

Mục tiêu đầu tiên là phải vượt dốc Cun sao cho an toàn. Cứ phải tính từng đoạn một theo kiểu sâu đo.

Qua thị xã Hòa Bình!... Dốc Cun đây rồi! Đây là con dốc con đèo đầu tiên trên chặng đường lên Tây Bắc để rồi từ đây, càng đi thì đèo dốc càng cao hơn, ngoắt ngoéo hơn, hiểm trở hơn, nguy hiểm hơn và sự thử thách cho các "tay lái" càng tăng hơn. Ai cũng hít một hơi thật dài để trấn an tinh thần và chuẩn bị cho cuộc vượt dốc.

Đúng là gian nan thực. Tuy độ dốc không lớn nhưng tuyến đường nhỏ, ngoắt ngoéo với cả chục khúc cua tay áo ôm sát vách núi, phía bên kia là vực sâu với tầm nhìn hạn chế, cây cối rậm rạp che khuất nhiều phần đường thì đúng là sự thử thách lớn của "cánh lái". Lên dốc được một đoạn, có người đã thấy tai mình bị ù, phải bịt mũi thở mạnh để đẩy màng nhĩ trở lại trạng thái bình thường mới nghe rõ những gì cần nghe. Tuyến đường vắng lặng cùng khung cảnh âm u, tĩnh mịch càng làm tăng thêm sự căng thẳng cho chuyến đi.

Từ trước cho tới giờ, dốc Cun là con dốc có nhiều tai nạn nhất với đủ các loại xe từ xe khách đến xe tải, xe con, xe máy... nên không thể chủ quan, lơ là được.

Logged

Giangtvx

Thượng tá
*
Bài viết: 25560

Re: Qua miền Tây Bắc« Trả lời #3 vào lúc: 19 Tháng Hai, 2020, 04:20:53 am »

Sau khi xe ì ạch lên đến đinh dốc Cun, chúng tôi dừng lại cho xe nguội máy một chút và bản thân chúng tôi cũng "xả chét" một chút, hít thở không khí nơi rừng núi, "ăn" một điếu thuốc cho tâm trạng nhẹ nhõm một chút rồi tiếp tục hành quân.

Kim Bôi gần ngay đâu đây trên tuyến đường đi (thực ra là phải rẽ trái đi thêm một đoạn dài nữa mới đến). Tôi chợt nhớ đến bài "Nụ cười sơn cước" với lời hát "Ai về sau dãy núi Kim Bôi..." rồi lại nhớ đến câu:

"Thương nhau cho thịt cho xôi
Ghét nhau đưa đến Kim Bôi, Hạ Bì..."

Vùng này xưa kia là vùng "rừng thiêng nước độc", những người qua lại đây dễ bị "ngã nước" lắm nên tôi cũng thấy hơi chờn chọn...

Vượt một loạt dốc, về đến Mẫn Đức là khu vực bằng phẳng rồi. Nơi đây nổi tiếng nhiều mía tím, mềm và ngọt, lại lắm nước nữa...

Nghỉ đã!... Cứ đi từng chặng, nghỉ từng chặng rồi lại đi thì mới ổn.

Qua Mẫn Đức là đến chợ Lồ. Một cái chợ với cái tên rất lạ mà mãi sau này tôi mới được nghe "sự tích" của nó cùng gắn với dốc Cun.

Đường vẫn uốn lượn quanh co liên tục, mềm như dải lụa vắt qua các chân đồi chân núi, ẩn hiện dưới những tán cây rừng...

Đây rồi Dốc Thung Khe (đèo Thung Khe). Nó còn có tên là "Đèo đá trắng". Anh bạn người Mường thì nói với tôi đấy là "Thung Nhái" vì nơi. này rất nhiều nhái. Từ Tân Lạc, con đèo bắt đầu đi mãi dần lên cùng cảnh sắc của Hòa Bình thay đổi không ngừng. Đèo Thung Khe không hùng vĩ như các đèo Ô Quy Hồ của vùng đất Lao Cai hay đèo Mã Pì Lèng của đất Hà Giang, hoặc Pha Đin của Sơn La - Điện Biên, Khau Phạ của Yên Bái nên có nhiều người đi qua không để ý, không nhớ tên nhưng nó chứa đựng vô vàn hiểm nguy bất ngờ. Rất nhiều tai nạn đã xảy ra ở nơi này, tháng nào năm nào cũng có. Độ dốc nhất của đèo chỉ 10% thôi nhưng con đèo chạy xuyên qua những dãy núi chập chùng nối đuôi nhau không dừng. Ta bỗng trở nên nhỏ bé, lọt thỏm giữa những ngọn núi thẳng đứng, trùng trùng điệp điệp ấy.

Đèo Thung Khe chừng như một ngày có 4 mùa rõ rệt. Sáng sớm, mây trời giăng bảng lảng, bồng bềnh như sóng biển và những giọt nắng xiên qua cái biển mây yên ả ấy rọi xuống, rắc muôn ngàn đốm hoa trên mặt đất. Buổi trưa thì nắng nóng. Cái nắng vàng như mật ong chảy trên các ngả đường hắt lên bầu trời xanh trong với những đám mây trắng trôi lững lờ. Chiều về, không khí dịu hẳn. Những làn gió mát lành khiến cho nơi đây mát mẻ, với cái lạnh hắt hiu theo ánh hoàng hôn cùng chút le lói của mặt trời nhảy nhót sau những khúc cua trước khi lặn hẳn sau dãy núi. Tối đến, mây sà thấp xuống giăng kín mọi ngả đường, có khi trong vòng một mét thôi mà cũng không nhìn thấy nhau. Mà cũng không hẳn chỉ là tối, chiều hơi muộn đã vậy rồi. Về sau này, có lần qua đây, chúng tôi "lò dò" lên đến đỉnh thì vừa gặp một người đeo gùi trên vai, tôi hỏi: "Già đi đâu đấy?". Người kia trả lời: "Đi hái thuốc thôi!".

Miền núi thường có những cây thuốc quý chữa được nhiều thứ bệnh. Tôi nhớ, ngày trước có những bà mế hay ngồi ở góc chợ bán những loại thuốc nam bằng lá cây, nhiều người đến mua lắm. Loại thì sắc uống, loại thì đắp, loại thì ngâm chân... Giá cả cũng hợp với túi tiền của người dân quê và bệnh cũng thấy chuyển lại không có tác dụng phụ nên nhiều người ưa dùng...

Mới suy nghĩ một chút vậy thôi mà thoắt cái, bóng dáng người đi hái thuốc đã mất hút. Sương mù che khuất hết. Cả mây, cả sương mù tạo thành một biển màu trắng đục nhờ nhờ quyện vào nhau, mờ mờ ảo ảo, mọi vật cứ như thực như mơ...

Mấy câu thơ cổ của Giả Đảo lại hiện lên trong đầu tôi:

"Tùng hạ vấn đồng tử
Ngôn sư thái dược khứ
Chi tại thử sơn trung
Vân thâm bất tri xứ..."


Tạm dịch là:

Hỏi chú nhỏ dưới gốc tùng
Đi đâu vắng mặt mà không thấy thầy
Loanh quanh hái thuốc đâu đây
Chắc là bóng lẫn vào mây mất rồi!...


Đúng thật! Con người miền núi luôn hòa lẫn với thiên nhiên, với mây gió, với mù sương, với ngàn cây, với đồi với núi, với dốc với đèo... cứ thoắt ẩn thoắt hiện. Họ sống thật hồn nhiên, hiền hậu, chất phác, thật thà, nói và làm luôn đi đôi với nhau, không xảo trá, không bon chen, đố kỵ... Giá mà ai ai trên hành tinh này cũng được như vậy thì hay biết mấy!...

Nói đến Thung Khe không thể không nói đến sương mù. Sương mù đến ma mị. Nó làm ta như lạc vào cõi mê, không biết đường biết lối. "Mù quá hóa mưa" - câu ngạn ngữ này đúng với nghĩa đen của nó. Suốt chặng đường đèo, mây mù giăng đặc tạo thành mưa phùn, tầm nhìn kém vô cùng, xe cộ phải bật đèn vàng, bật gạt nước liên tục, bò nhích từng bước một. Vào mùa Đông thì chân tay lạnh cóng phải biết.

Logged

Giangtvx

Thượng tá
*
Bài viết: 25560

Re: Qua miền Tây Bắc« Trả lời #4 vào lúc: 20 Tháng Hai, 2020, 04:31:53 am »

Đỉnh đèo nằm bên dốc đá trắng. Tại đây, bên ven đường có những lán nứa xiêu vẹo với những chiếc bàn được ghép lại từ những mảnh gỗ cây xù xì bày bán ngô luộc, cơm lam, rêu đá, rau rừng... Nét đẹp thật bình dị. Đến đây không thể không dừng để ăn vài bắp ngô luộc đang bốc khói nghi ngút. Ngô ở đây là loại ngô nếp được trồng trên đất rừng, giữa những kẽ đá, đất màu mỡ, nó ăn sương đêm nên bắp to, hạt chắc và rất mềm, thơm. Chỉ cần nếm qua một lần là nhớ mãi không quên và kiểu gì khi đi qua đây cũng phải dừng để thưởng thức lại cái hương vị đặc biệt ấy.

Gặp những ngày trời quang, đứng trên đỉnh đèo, ta có thể ngắm toàn bộ thung lũng dưới chân đèo với màu xanh đầy sức sống quyến rũ. Ta ngửa mặt ngắm bầu trời thăm thẳm cùng những đám mây nhàn tản trôi lững lờ để đón những làn gió mát lạnh thổi xua tan những mệt nhọc căng thẳng của chặng đường vừa để lại phía sau, để rồi lại tiếp tục cuộc hành trình với những gian nan mới...

Đèo Thung Khe kết thúc ở ngã ba Tòng Đậu. Rẽ trái đi bản Lác, vòng phải tiếp tục ngược về Sơn La...

Qua Tòng Đậu đến Đồng Bảng, qua Đồng Bảng đến đèo 46. Vượt qua đèo 46 sẽ đến Lóng Luông.

Cứ qua mỗi địa danh là lại một lần thở phào nhẹ nhõm.

Lóng Luông trước mặt đây rồi.

Thời đó, từ khu vực Lóng Luông trở lên đến Mộc Châu, hai bên đường dân trồng cây anh túc (cây thuốc phiện) rất nhiều. Hoa anh túc đủ sắc màu sặc sỡ đung đưa theo gió dưới cái nắng chang chang vàng óng đến lạ lùng.

Tôi không thông hiểu lắm về loài hoa này, chỉ biết rằng theo Thần thoại Hy Lạp thì hoa anh túc được nữ thần Ceres tạo ra để xoa dịu nỗi đau của mình bằng những giấc ngủ khi đi tìm con gái Proserpine bị thất lạc.

Trong một câu chuyện khác liên quan đến loài hoa này là có một mụ phù thủy độc ác đã hóa phép biến một phụ nữ thành một bông hoa anh túc. Kể từ đó, người phụ nữ ấy phải sống trên cánh đồng cùng với những bông hoa anh túc khác và chỉ được về thăm nhà vào ban đêm mà thôi. Vào một đêm nọ, người phụ nữ kia bảo với chồng mình rằng nếu anh tìm và hái được bông hoa anh túc chính là cô thì lời nguyền của mụ phù thủy sẽ bị hóa giải và không còn hiệu lực nữa. Sáng hôm sau, người chồng đi ra cánh đồng và thấy hàng trăm ngàn bông hoa anh túc ở đó, tất cả đều giống nhau y hệt. Sau khi kiên nhẫn xem xét từng bông, anh đã vui mừng tìm được một bông chính là vợ mình - đó là bông hoa duy nhất không bị ướt sương đêm bởi đêm qua nàng đã ở nhà. Khi anh hái bông hoa đó, lời nguyền lập tức mất hiệu lực. Họ được sống với nhau rất hạnh phúc...

Rồi hoa anh túc còn được chú ý tới trong suốt những cuộc chiến tranh của Napoleon vì những bông hoa kỳ bí này nở xung quanh những ngôi mộ mới của những chiến binh tử trận. Sau cuộc chiến 1914-1918, hoa anh túc mọc ngập tràn trên những ngôi mộ ở bãi chiến trường Flanders. Người ta nói rằng những bông anh túc mọc lên từ máu đã nhỏ xuống. Nó là biểu tượng tưởng nhớ những người đã chết trong chiến tranh...

Rồi nữa, hoa anh túc còn được chạm khắc vào những chiếc ghế dài trong một số nhà thờ Thiên Chúa Giáo. Hoa anh túc ở đấy biểu hiện cho niềm tin rằng chúng ta đang "yên nghỉ" trong khi biết trước về Ngày Tận Thế...

Còn ở các chân cột của nhà Vua Mèo Vương Chí Sình trên Hà Giang thì lại đưa biểu tượng quả của cây anh túc. Mỗi chân cột là một quả tạc bằng đá khối, được đánh bóng bằng những đồng bạc hoa xòe...

Tôi không biết loài hoa anh túc du nhập vào nước mình, vào vùng Tây Bắc này từ khi nào và bằng con đường nào, nhưng tôi được nghe kể khi gieo hạt cây anh túc vào tầm khoảng tháng 10 tháng 11 âm lịch thì thường phải gieo lẫn với hạt cải, gọi là cải Mèo vì cây anh túc khi nhỏ rất yếu ớt, ẻo lả, cần có chỗ dựa. Vậy là nó dựa vào cây cải để cùng lớn. Khi cây cải đến độ ăn được, người ta thu hoạch cải và lúc ấy thì cây anh túc cũng đã cứng cáp, tự đứng vững trong gió mưa, ra hoa kết trái. Tôi cảm nhận là cây cải đó khi ăn (chủ yếu là luộc) thì có vị ngọt lạ hơn các cây cải khác trồng riêng biệt không xen kẽ với cây anh túc. Sau này, khi ta có những chiến dịch tuyên truyền và hủy bỏ cây anh túc, những vạt cải Mèo ven đường vẫn trồng như xưa, nhưng ăn thì không "chất" bằng, nó cứng hơn, không mềm và ngọt như trước đây nữa.

Đấy chỉ là cảm nhận của riêng cá nhân tôi thôi. Chẳng biết thực hư thế nào.

Logged

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn
Qua miền Tây Bắc | Câu chuyện thời hoa lửa