Bài viết

QUÁ TRÌNH KHAI HOANG MỞ ĐẤT, LẬP LÀNG VĨNH HỰU ĐẾN CUỐI NĂM 1929.

Đồng Tháp16/05/2026Võ Thị Bích Tuyền (xã Vĩnh Hựu)1 lượt xem0 lượt chia sẻ

QUÁ TRÌNH KHAI HOANG MỞ ĐẤT,
LẬP LÀNG VĨNH HỰU ĐẾN CUỐI NĂM 1929.
Làng Vĩnh Hựu xưa, nay là xã Vĩnh Hựu, huyện Gò Công Tây, tỉnh Tiền
Giang nằm phía tả ngạn sông Cửa Tiểu, phía bắc giáp Thị trấn Vĩnh Bình, phía
đông giáp xã Long Vĩnh, phía tây giáp xã Thạnh Nhựt và xã Bình Ninh ( Huyện
Chợ Gạo), phía nam cách dòng Cửa Tiểu là xã Tân Thới. Xã Vĩnh Hựu hiện có
diện tích tự nhiên là 1860 ha, trong đó có 820 ha đất ruộng, 576 ha đất vườn,
còn lại là thổ cư; dân số 11.939 người.
Đến nay chưa có tư liệu thành văn xác định cụ thể niên đại những lớp
người Việt đầu tiên đặt chân tới khai phá vùng đất này, chỉ biết rằng khi kinh
lược sứ Nguyễn Hữu Cảnh được chúa Nguyễn cử vào Nam thành lập các đơn vị
hành chính năm 1698 đã có tên làng Vĩnh Hựu thuộc huyện Tân Hòa, tỉnh Gia
Định. Điều đó khẳng định chủ nhân người Việt của vùng đất này cách nay đã
trên 300 năm.
Thuở bấy giờ vùng đất Vĩnh Hựu nói riêng và nhiều vùng đất khác xứ Gò
Công nói chung còn là rừng ngập mặn, chỉ có một số gò, giồng cao. Nơi đây có
giồng cát trải dài từ bờ sông Cửa Tiểu về phía bắc xuyên qua những vùng rừng
ngập mặn, trở thành điểm dừng chân lý tưởng của dòng người di cư lập nghiệp.
Nghiên cứu địa thế Vĩnh Hựu, lịch trình khai hoang mở đất của các bậc tiền
nhân bắt đầu từ Vàm Giồng (tức ấp Thạnh Thới) ngược theo giồng ông Chủ ra
Bình An, Phú Quý tới ngọn Cai Đông, Ba Biền ... Đất giồng để làm nhà, lập
vườn. Đất thấp được tiền nhân khai mương, đắp bờ bao xả phèn, rửa mặn làm
ruộng. Đây là việc làm thuần thục của người dân nền văn minh lúa nước. Cũng
từ quan niệm phong thủy nền văn minh lúa nước khi quan sát địa thế vùng đất
này, các bậc tiền nhân hình dung giồng cát uốn lượn giống như thân rồng, đầu
rồng hướng ra sông lớn nên gọi đầu rạch là "Vàm Rồng", vùng địa linh sinh
nhân kiệt sẽ phát tích muôn đời. Vàm Rồng được các thế hệ sau dựa vào địa thế
đầu giồng nơi cửa sông gọi là Vàm Giồng 1 theo cách nói dân gian.
Buổi đầu định cư lập nghiệp trên vùng đất mới, con người đã phải đối mặt
với muôn trùng khó khăn, nguy hiểm: "xuống sông sấu cắn, vô rừng cọp tha";
đất đai nhiễm phèn mặn nặng; muỗi mòng nhiều vô số kể ... không ít người đã
phải làm mồi cho cọp , phải chết vì bệnh tật, đói rét. Chính điều kiện sinh sống
khắc nghiệt như vậy nên các bậc tiền nhân đã uyết tâm khai thác thế mạnh vùng
đất mới: tôm, cá dưới sông rạch; chim muông, gỗ củi trong rừng và cải tạo rừng
ngập mặn thành đồng ruộng trù phú, vườn cây trái xum xuê và bắt cả"chúa sơn
lâm" phải khuất phục. Theo tích cũ, chuyện xưa các bậc tiền hiền để lại, ngày
mới khai hoang, nơi đây cọp rất nhiều và hung dữ, chúng đã gây ra không biết
bao nhiêu tại họa cho con người. Bấy giờ trong làng có ông Trần Văn Là, thân
hình lực lưỡng, trí dũng và võ nghệ cao cường, hễ nghe tin nơi nào có cọp là ông
xách mác lao tới. Ông đã nhiều lần đánh cọp và thắng cọp, bảo vệ sự bình yên
cho dân làng. Sau nhiều phen giao tranh quyết liệt, cọp thua và sợ ông tới mức
chúng chỉ đánh hơn thấy mùi áo của ông cũng không dám bén mảng tới. Kính
phục bậc trí dũng, dân làng đã gọi ông bằng cái tên trìu mến: ông già Vĩnh
Hựu.Với tinh thần đó, các thế hệ thầy dạy võ như ông Bảy Bổn, Sáu Tập, Tư Ri,
Chín Huấn, Cọp Gấm…đã ra sức rèn luyện võ nghệ, trí dũng cho lớp lớp thanh
niên trai tráng trong làng để có đủ bản lĩnh, khả năng tự vệ trước bọn cướp bóc
và thú dữ. Ý chí mạnh mẽ của tiền nhân còn được biểu hiện rõ nét trong việc đặt
tên làng Vĩnh Hựu; tên các ấp Phú - Quý - An - Phong - Thạnh (Vĩnh Phú, Vĩnh
Qúy, Hựu An, Hựu Phong, Hựu Thạnh A, B ), thể hiện ước vọng xây dựng quê
hương Vĩnh Hựu giàu sang, an khang, thịnh vượng muôn đời đã được tiền nhân
đặt ra từ sớm để các thế hệ gắng sức vượt mọi gian khó vươn lên.
Vị trí tự nhiên của làng Vĩnh Hựu thuận lợi trong việc giao lưu với các
cộng đồng dân cư, các trung tâm kinh tế - văn hóa trong vùng: Phía nam là sông
Cửa Tiểu thông thương với trấn Định Tường và miền Tây Nam bộ; kênh Vàm
Giồng nối với hai hệ sông lớn (sông Cửu Long và sông Vàm Cỏ) thuận tiện giao
lưu với Sài Gòn - Gia Định và các tỉnh miền Đông Nam bộ. Giao thông thủy là
phương tiện quan trọng bậc nhất và chủ yếu thời bấy giờ, nên Vĩnh Hựu trở
thành điểm hội tụ của dòng người di cư. Cùng với những người đi tìm vùng đất
mới an cư lạc nghiệp còn có những sĩ phu, văn thân từ quan về đây ở ẩn. Tiêu
biểu là ông Huệ Tịnh (tức ông nội của Sư Thiện Chiếu), ông Bùi Đình Huỳnh
học rộng, tài cao nhưng từ chối không ra làm quan mà quyết chí rời quê hương
miền Trung cùng dòng người di cư vào đây mở trường dạy học. Nhiều lớp học
trò của thầy giáo Huệ Tịnh đã noi gương thầy, làm rạng danh mảnh đất này,
cống hiến lớn cho lịch sử dân tộc như Trần Văn Hiền, Đặng Công Khả, Nguyễn
Văn Tài (tức Sư Thiện Chiếu), Đặng Vương Tá, Nguyễn Văn Côn, Nguyễn
Thìn …Nên từ lâu làng Vĩnh Hựu đã có tiếng là đất học, nhiều người học rộng
tài cao so với các làng trong vùng. Tài trí của nhân dân Vĩnh Hựu đã được phát
huy từ rất sớm trong việc xây cất nhà cửa, khai mương lập ruộng, mở mang
ngành nghề ... và tiêu biểu là cuộc đấu tranh không nộp thuế với chính quyền
thực dân Pháp.
Năm 1913 dân làng Vĩnh Hựu bị thất mùa nặng do thiên tai, dịch bệnh
gây ra. Những người có học vấn rộng trong làng đã làm đơn gởi viên Chánh
tham biện Gò Công xin miễn thuế ruộng cho nhân dân. Khác với thông lệ của
viên Chánh tham biện cũ, các đơn không được y chấp thuận đều bị hủy bỏ, viên
Chánh tham biện mới nhận đơn, phê “không chấp thuận” và đóng triện, ký tên
trả lại cho người đại diện của dân làng. Người đại diện cầm đơn về bàn với các
vị trưởng lão và thống nhất vận động nhân dân không nộp thuế. Khi bị Chánh
tham biện hạch hỏi, nhân dân đều nói thấy trong đơn có phê, chúng tôi không
biết chữ Tây nên tưởng rằng đã được Chánh tham biện chấp thuận. Viên Chánh
tham biện thất lý, cuộc đấu tranh không nộp thuế của dân làng Vĩnh Hựu thắng
lợi
Để mưu sinh trên vùng đất mới, dân làng đã mở mang nhiều nghề truyền
thống từ các miền quê họ ra đi phục vụ nhu cầu sản xuất và tiêu dùng như: nghề
mộc, nghề rèn, nghề nuôi tằm dệt vải, nghề làm mắm, nghề chài lưới, đăng nò ...
Để có gạo ăn, người ta đổ thóc vào cối giã chày đôi, chày ba. Cối giã gạo được
đục, đẽo rất khéo từ khúc cây to, đặt ở hàng ba, hàng tư. Ban đêm, mọi nhà dùng
sáp ong, dầu dừa, dầu trai, dầu mù u làm đèn. Về đầu tóc, đàn ông hay đàn bà
đều để tóc dài, bới ngược về phía sau, bé gái để 3 vá, bé trai 1 vá. Cách chữa
bệnh của dân làng chủ yếu là dùng thuốc bắc, thuốc nam, kể cả thầy pháp, thầy
bùa; tính mạng người bệnh một phần nhờ vào may rủi. Về ẩm thực các món ăn
mộc mạc dân dã như cá lóc nướng trui, canh chua tôm đất bông so đũa; cua biển
um nước cốt dừa; nấm mối đùm là nghệ, lá mướp um nước cốt dừa, cổ hủ dừa
nhận chua ăn với thịt kho, cà kèo kho để cả ruột ăn với dưa leo ... tạo nên vị
ngon độc đáo được mọi người ưa dùng, đến nay vẫn còn hấp dẫn đối với khách
thập phương.
Cùng với quá trình phát triển của cộng đồng dân cư, dân làng đã chung
sức dựng đình, lập miễu, sáng tạo các lễ hội dân gian truyền thống để bồi bổ tinh
thần, cố kết cộng đồng bền chặt trong tình làng, nghĩa xóm. Đời sống sản xuất
và sinh hoạt của cộng đồng đã hình thành nền văn hóa làng Vĩnh Hựu giàu bản
sắc nhân văn. Nguồn gốc dân cư đa dạng đem đến cho Vĩnh Hựu nhiều ngành
nghề, kinh nghiệm sản xuất và đời sống sinh hoạt tinh thần phong phú. Đó là thế
mạnh của cộng đồng dân cư trong quá trình hòa nhập, chọn lọc, phát triển nền
văn minh làng xã. Nhiều tập quán đẹp của cộng đồng được hình thành, phát triển
như trong ấp, trong làng hễ ai gặp khó khăn hoạn nạn thì mọi người cùng chung
tay cưu mang, đùm bọc, giúp đỡ; khi thấy sự bất bình là cùng ra sức bênh vực,
bảo vệ lẽ phải, phê phán và lên án cái xấu, cái ác. Mọi người gắn bó mật thiết
với nhau trong nối quan hệ gia đình - làng - nước. Việc làng, việc nước luôn
được mọi nhà coi trọng. Cái nôi văn hóa làng như dòng sữa mẹ nuôi dưỡng, bồi
đắp cho con người đức tính Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín là cội nguồn nhân hòa ở
đời. Từ cái nôi văn hóa giàu nhân văn, nhân bản ấy; dân làng Vĩnh Hựu đã noi
gương và phát huy mạnh mẽ các giá trị truyền thống quý báu của dân tộc: yêu
6
nước, đoàn kết, tương thân tương ái, chết vinh hơn sống nhục; lao động cần cù,
sáng tạo ... suốt mấy trăm năm qua.
Cuộc khởi nghĩa Trương Định buổi đầu chống thực dân Pháp xâm lược
(1861 - 1864), làng Vĩnh Hựu có tới trên 300 người tình nguyện gia nhập nghĩa
quân. Họ đã hăng hái chiến đấu hy sinh vì đại nghĩa. Nhiều người tên tuổi đã trở
nên bất tử trong lòng nhân dân, trong lòng dân tộc như ông Đặng Khánh Tình
giữ chức Phó tướng và ông Nguyễn Thành Chung giữ chức Đốc binh của nghĩa
quân.Tấm gương của các ông đã được nhân dân viết thành câu đối: “Vĩnh Hựu:
Tình-Chung chơn nghĩa khí; Tân Niên: Hòa - Quới thị anh hùng” hoặc thành câu
ca dao:” Bao giờ hạc nọ xa đình, Hạc xa hương án Chung-Tình mới xa”.
Tiếp nối cuộc chiến đấu của nghĩa binh Trương Định, ông Trần Văn Hiền
là một điền chủ nhỏ nhưng có trình độ học vấn cao, hiểu rộng. Vì quá căm ghét
giặc cướp nước, ông đã tập hợp lực lượng gần 300 thanh niên trong làng dấy
binh chống Pháp (2-1885). Kế hoạch khởi nghĩa là tấn công đồn Gò Công cướp
chính quyền. Việc làm của ông hợp với lòng người Vĩnh Hựu, ông được dân
làng tin yêu tham gia ủng hộ rất đông và được nhân dân phong tặng chức " Ông
lớn Hiền". Cuộc chiến đấu giữa nghĩa quân và quân đội Pháp ngày 17-2-1885,
nghĩa quân của quan lớn Hiền đã tiêu diệt tại trận tên trung sĩ Pháp chỉ huy và
nhiều tên xâm lược khác. Nhưng do cuộc chiến đấu không cân sức giữa nghĩa
quân với địch, cuộc khổi nghĩa bị thực dân Pháp đàn áp đẫm máu; hơn 100
người bị thực dân Pháp tàn sát đã được dân làng tổ chức chôn cất long trọng tại
phần đất phía sau chùa Linh Tuyền (ngã ba Cá Chốt), 20 người khác bị địch bắt
đầy ra nhà tù Côn Đảo theo sắc lệnh của Nha Nội chính Nam kỳ 1 . Thất bại của
cuộc khởi nghĩa do ông Trần Văn Hiền lãnh đạo và sự đàn áp tàn bạo của thực
dân Pháp chẳng những không lay chuyển được tinh thần bất khuất của nhân dân
Vĩnh Hựu mà còn nung nấu, tôi luyện mạnh mẽ hơn lòng yêu nước và ý chí
không đội trời chung với giặc. Từ năm 1909 đến 1910, ông Đặng Công Khanh
(tức Khả, Đội Khả) ấp Hựu Phong, làng Vĩnh Hựu tiếp tục chiêu mộ nghĩa binh
chống Pháp. Gia đình ông là một điền chủ giàu về tiền của và cũng rất giàu lòng
yêu nước. Ông và gia đình đã bán phần lớn ruộng đất và dành hầu hết tài sản để
mua sắm vũ khí, tích trữ quân lương cho cuộc khởi nghĩa. Tiếc thay, mưu sự lớn
chưa thành kế hoạch đã bị lộ, thực dân Pháp đưa quân tới đàn áp. Ông Đặng
Công Khanh cùng 23 nghĩa binh thân tín của ông bị giặc pháp bắt giam tại khám
Mỹ Tho. Vì quá căm thù bọn giặc cướp nước và căm giận kẻ làm phản, buồn về
nghiệp lớn dở dang, ông Đặng Công Khanh đã uống thuốc độc tự vận để giữ
tròn khí tiết. Ba trong số 23 người thân tín của ông bị chính quyền thực dân đem
về Gò Công thi hành án tử hình hòng đe dọa, khủng bố tinh thần kháng chiến
chống Pháp của nhân dân ta. 20 người bị chúng đầy ra nhà tù Côn Đảo thì 18
người đã bị thực dân Pháp tra tấn đầy đọa đến chết, chỉ còn hai người sống sót
trở về .
1 Tµi liÖu l-u trö ký hiÖu 1A.14/011(15) Trung t©m l-u trö quèc gia II, TP Hå ChÝ Minh.
7
Qua nhiều cuộc khởi nghĩa vũ trang kể từ buổi đầu chống thực dân Pháp
xâm lược diễn ra ở Gò Công và các địa phương trong nước đến đầu thế kỉ XX,
những người có tư tưởng cứu nước đã nhận ra con đường khởi nghĩa chống
ngoại xâm truyền thống của dân tộc trước đây, nay tỏ ra không hiệu quả. Với
loại giặc mới này phải dùng một phương thức khác, nhưng phương thức mới là
gì ? Đó vẫn là câu hỏi lớn chưa có lời đáp. Ông Đặng Vương Tá người ấp Vĩnh
Quý, làng Vĩnh Hựu vốn là bạn tâm giao với ông Đặng Công Khanh, đã từ lâu
cùng nung nấu ý chí chống giặc, cứu nước. Sau nhiều lần bàn suy cân nhắc với
những người cùng chí hướng với mình, ông Đặng Vương Tá đã lấy tiền bạc của
gia đình quyết định xuất dương sang Xiêm rồi sang Nhật Bản tìm đường cứu
nước năm 1908. Lý do ông Đặng Vương Tá sang Nhật Bản được ông giải thích
với những người đồng sự: “ở đó đang có mặt một số chí sĩ yêu nước lớn như
Phan Bội Châu, Cường Để ... ông muốn gặp những người đồng chí lớn để học
tập, trao đổi thiết lập mối quan hệ bền chặt với phong trào chống Pháp ở quê nhà
hầu thúc đẩy sự nghiệp cứu nước mau đến thành công”. Sau chuyến xuất dương,
ông Đặng Vương Tá trở về mang đậm ảnh hưởng của các chí sĩ Phan Bội Châu,
Cường Để. Ông tích cực vận động và tổ chức phong trào Việt Nam Quang phục
Hội ở làng Vĩnh Hựu và các làng khác trong khu vực Gò Công. Hoạt động của
tổ chức Việt Nam Quang phục Hội đã gây được ảnh hưởng mạnh trong quần
chúng, thu hút từ tầng lớp người giàu, chức sắc tôn giáo tiến bộ đến người lao
động nghèo tham gia. Số hội viên của hội ngày một lớn mạnh. Hoạt động chủ
yếu của hội là tuyên truyền, khơi dậy truyền thống đoàn kết, yêu nước của dân
tộc, mài sắc chí căm thù, bất hợp tác với giặc và khuyến khích mọi người ủng hộ
quỹ hội giúp nhiều thanh niên tiến bộ xuất dương học làm cách mạng trở về
phụng sự đất nước. Mặt khác, quỹ hội còn nhằm xây dựng thực lực bên trong,
sắm sửa vũ khí, phát động quần chúng vùng dậy quật khởi, đuổi giặc cướp nước,
giành độc lập khi thời cơ đến.
Vốn có mối quen biết rộng với sĩ phu yêu nước đương thời, lại là người
có tư tưởng yêu nước tiến bộ, ảnh hưởng của Việt Nam Quang phục Hội do ông
Đặng Vương Tá tổ chức và lãnh đạo có sức lan tỏa mạnh không chỉ với các làng
xứ Gò Công mà còn đến các tỉnh Sài Gòn - Gia Định, Kiến Hòa, Vĩnh Long,
Long An, Cần Thơ ... Cụ Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc hay tin đã có dịp về Vĩnh
Hựu gặp gỡ, đàm đạo với ông Đặng Vương Tá về tư tưởng cứu nước. Uy tín và
ảnh hưởng cụ Phó bảng cùng các chí sĩ yêu nước đương thời đã thức tỉnh, khích
lệ đông đảo quần chúng làng Vĩnh Hựu nói riêng và các địa phương Nam bộ nói
chung tập hợp trong phong trào yêu nước những năm đầu thế kỉ XX.
Ông Nguyễn Văn Côn là người cộng sự đắc lực với ông Đặng Vương Tá,
phụ trách Phó Hội trưởng Việt Nam Quang phục Hội ở Vĩnh hựu. Hai ông đã
sáng kiến lập ra tổ chức Cộng hòa Hội năm 1910. Cộng hòa Hội được xác định
là tổ chức hạt nhân nòng cốt, để tập hợp những người tích cực, tiên tiến nhất của
Việt Nam Quang phục Hội nhằm đẩy mạnh hơn nữa hoạt động tuyên truyền
sách báo, tài liệu yêu nước của Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh, tập hợp thanh
niên tiến bộ đứng vào hàng ngũ cứu nước. Lo sợ trước ảnh hưởng ngày càng sâu
rộng của Việt Nam Quang phục Hội và Cộng hòa Hội, năm 1916 chính quyền
thực dân Pháp đã tìm cách bắt ông Đặng Vương Tá cùng một số thủ lĩnh tinh
thần khác của hội, đàn áp và ngăn chặn phong trào yêu nước đang dấy lên mạnh
mẽ ở Vĩnh Hựu và xứ Gò Công.
Kịp thời đối phó với âm mưu và thủ đoạn xảo quyệt của giặc, ông Nguyễn
Văn Côn kế tục xuất sắc sự nghiệp của người hội trưởng để lại đã tập hợp những
người có nghĩa khí trung can và có uy tín nhất trong Cộng hòa Hội như ông
Nguyễn Nho Lâm (Bộ Lâm), thầy giáo Nguyễn Văn Đăng, thầy giáo Bảy Tùng,
hương trưởng Hoài, Hội đồng Hai, Đặng Văn Phò ... thành lập hội cúng thánh
Khổng Tử (gọi tắt là Hội Thánh), lấy hình thức tổ chức tôn giáo để hoạt động
hợp pháp, che mắt giặc, duy trì phong trào yêu nước. Số hội viên Việt Nam
Quang phục Hội cũ được tập hợp lại trong các Hội đọc sách, Hội tương tế, Hội
ái hữu ... làm nòng cốt trong quần chúng.
Trong Hội Thánh, hầu hết là những người có chức vị xã hội, người giàu
có nhưng có tư tưởng yêu nước tiến bộ, nên họ có mối quan hệ quen biết và uy
tín rộng rãi với đồng bào các giới trong vùng. Đó là lợi thế lớn để hội khuch
trương thanh thế và tập hợp lực lượng. Mỗi lần cúng thánh Khổng Tử, những chí
sĩ yêu nước lớn từ Sài Gòn - Gia Định, Đồng Nai đến Bến Tre, Cần Thơ, Rạch
Giá đều quy tụ về chùa Vạn Bửu phật đường thuộc ấp Vĩnh Quý để đàm đạo và
bàn kế sách chống Pháp. Những dịp này thường có sự tham gia và đóng góp ý
kiến quý báu của Sư Thiện Chiếu 1, chí sĩ yêu nước Nguyễn An Ninh ... Mối
quan hệ giữa các tổ chức, nhân sĩ yêu nước ở hải ngoại với Hội Thánh tiếp tục
được duy trì, gắn bó mật thiết. Sau nhiều năm tháng hoạt động tìm kiếm con
đường cứu nước, giải phóng dân tộc, Hội Thánh đã tìm đến được với tổ chức
Việt Nam Thanh niên cách mạng đồng chí Hội do lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc sáng
lập ở Quảng Châu (Trung Quốc) vào năm 1925.
Xác lập được mối liên hệ với lớp huấn luyện của Việt Nam Thanh niên
cách mạng đồng chí Hội ở Quảng Châu, Hội Thánh đã lập tức cử ông Nguyễn
Thìn (tức Bảy Phòng) lên đường xuất dương. Sau hơn nữa năm tham dự khóa
huấn luyện ( từ tháng 3 đến tháng 9-1927), ông Nguyễn Thìn được phân công về
nước để vận động, tổ chức và phát triển hội viên, xây dựng tổ chức hội.
Hiểu rõ tâm trạng trông đợi của những người trong Hội Thánh ở quê nhà,
Nguyễn Thìn đã khẩn trương thay mặt Xứ bộ Việt Nam Thanh niên cách mạng
đồng chí Hội Nam kỳ đem tác phẩm "Đường Kách mệnh", chương trình, điều lệ
hội về Vĩnh Hựu phổ biến và kết nạp các ông: Nguyễn Văn Côn, Nguyễn Xuân
Đài, Phan Vĩnh Thế ... đồng thời thành lập Tỉnh bộ Việt Nam Thanh niên cách
mạng đồng chí Hội tỉnh Gò Công ngày 20.9.1927. Ông Nguyễn Văn Côn
phân công làm Bí thư Tỉnh bộ. Trụ sở Tỉnh bộ đặt tại nhà ông Nguyễn Văn Côn.
Từ đây, phong trào yêu nước của làng Vĩnh Hựu nói riêng và tỉnh Gò Công nói
chung đã chấm dứt thời kỳ mò mẫm, vượt qua hạn chế của tư tưởng phong kiến
và các trào lưu tư tưởng tư sản để hòa vào dòng chảy mới của lịch sử dân tộc
dưới ánh sáng của chủ nghĩa Mác-Lênin do lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc dẫn dắt.
Nhìn lại chặng đường mở đất lập làng, đấu tranh chống thiên tai địch họa
suốt mấy trăm năm của bao thế hệ, các bậc tiền nhân làng Vĩnh Hựu đã làm nên
một pho truyền thống thấm đậm mồ hôi, máu và nước mắt nhưng rất vẻ vang, tự
hào. Mỗi thời kỳ lịch sử, dân làng Vĩnh Hựu luôn hăng hái, nhiệt thành trong
đấu tranh và xây dựng, góp phần xứng đáng vào sự nghiệp chung của dân tộc.
Những giá trị vật chất , tinh thần quý báu đó mãi mãi là nguồn sức mạnh của các
thế hệ tiếp nối vươn lên tầm cao mới dưới ngọn cờ vẻ vang của Đảng

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn