Bài viết

Quân dân Khu XI (Hà Nội) trong thời kỳ đầu kháng chiến chống thực dân Pháp (từ tháng 10-1946 đến tháng 1-1948)

Trong lịch sử chống Pháp của quân dân Thủ đô nói riêng, của quân dân cả nước nói chung, Khu XI có một vị trí quan trọng ở thời kỳ đầu cuộc kháng chiến. Do đó, chúng tôi muốn làm sáng rõ thêm những đóng góp của quân dân khu XI từ khi được thành lập đến khi sáp nhập vào Liên khu III (tháng 10/1946 đến tháng 1/1948)

Phú Thọ16/07/2026Đoàn Phúc yên (Đoàn Phúc yên)6 lượt xem0 lượt chia sẻ

* Xây dựng thế trận trong đánh ngoài vây

Sau khi ký Tạm ước 14/9/1946 với Chính phủ Pháp, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Trung ương Đảng nhận định: "Nhất định không sớm thì muộn, Pháp sẽ đánh mình và mình cũng nhất định phải đánh Pháp", do đó Đảng, Chính phủ đã lãnh đạo toàn dân gấp rút chuẩn bị kháng chiến.

Sau Hội nghị Quân sự toàn quốc (19/10/1946), thi hành quyết định của Trung ương, cả nước chia thành 12 chiến khu (sau đó thường gọi tắt là khu), trong đó, Bắc Bộ có ba chiến khu I, II, III, X, XII. Khu đặc biệt Hà Nội được gọi là Chiến khu XI. Hà Đông, Sơn Tây nằm trong Chiến khu II. Ở Hà Nội, đồng chí Nguyễn Văn Trân được cử làm Bí thư khu uỷ kiêm Chủ tịch Uỷ ban bảo vệ khu XI, đồng chí Lê Quang Đạo là Phó Bí thư, đồng chí Vương Thừa Vũ được cử làm Chỉ huy trưởng Mặt trận khu XI. Sự kiện này đã được đồng chí Vương Thừa Vũ ghi trong sách “Hà Nội 60 ngày khói lửa”: “Tháng 11 năm 1946, không khí Thủ đô Hà Nội vô cùng căng thẳng. Giữa lúc ấy, tại ngôi nhà ở gần đầu cầu (về phía Hà Nội) của thị xã Hà Đông, có một cuộc họp quan trọng… Đồng chí Trường Chinh nói: “Giặc Pháp chuẩn bị gấp rút lắm, trước sau thế nào nó cũng đánh ta. Trung ương giao cho đồng chí Vương Thừa Vũ làm Khu trưởng khu XI (Khu Hà Nội), tổ chức chuẩn bị sẵn sàng đề phòng chúng trở mặt gây chiến”(…). Bảy ngày sau, 19/11/1946, tại Lò Lợn, trụ sở của cơ quan chỉ huy Khu XI, đồng chí Lê Quảng Ba nguyên chỉ huy trưởng của Khu, chính thức bàn giao nhiệm vụ”(1). Chiến khu XI chính thức được ra đời.

Trung ương Đảng và Bộ tổng chỉ huy giao nhiệm vụ quan trọng cho khu uỷ và Ban chỉ huy mặt trận khu XI là: giành thế chủ động, chiến đấu tiêu hao và giam chân địch trong thành phố ít nhất là một tháng, tạo điều kiện cho cả nước đi vào cuộc kháng chiến lâu dài, đồng thời tạo điều kiện cho Trung ương Đảng và Chính phủ rút lên chiến khu Việt Bắc an toàn.

Thực hiện nhiệm vụ chiến lược trên, dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Trung ương Đảng, Khu uỷ và Ban chỉ huy khu XI đã gấp rút chuẩn bị mọi mặt cho cuộc Tổng giao chiến như Đại tướng Võ Nguyên Giáp viết trong tác phẩm Chiến đấu trong vòng vây - giữa ta và thực dân Pháp trên Mặt trận Hà Nội: “Trận đánh ở Thủ đô nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa phải tiêu biểu cho tinh thần kháng chiến của cả nước.”

Ngay trong tháng 11, các cơ quan Trung ương và thành phố, các nhà máy, xí nghiệp tiến hành công tác "tổng di chuyển" , đưa máy móc, hồ sơ kỹ thuật lên Việt Bắc để tiếp tục sản xuất. Nhân dân cũng được tản cư theo kế hoạch của Uỷ ban tản cư thành phố ra Hà Đông, lên Sơn Tây, Vĩnh Yên, sang Hưng Yên, Bắc Ninh... đảm bảo tính mạng của cả gia đình khi rời xa thành phố. Cán bộ, đảng viên, tự vệ và đông đảo nhân dân khu XI đã tham gia vận chuyển máy móc, kho tàng, nguyên vật liệu, hồ sơ từ nội thành theo các tuyến đường số 11, số 6, số 21 lên Hoà Bình, Phú Thọ, Việt Bắc; đồng thời giúp đỡ bà con nội thành tản cư chỗ ăn ở, nhường cơm sẻ áo trong lúc hoạn nạn, khó khăn. Các làng Vạn Phúc, Xuyên Dương, Hậu Ái, Cần Kiệm, Chúc Sơn... là nơi các cơ quan Trung ương và thành phố đặt trụ sở làm việc chỉ đạo cuộc kháng chiến của khu XI. Cuối tháng 11/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã rời nội thành về làm việc tại làng Hậu Ái, xã Thọ Nam (nay là xã Vân Canh, Hoài Đức).

Chỉ thị của Chính phủ về cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, ngày 20-12-1946

Đến cuối tháng 11, Mặt trận Hà Nội chia thành ba Liên khu I, II, III theo thế trận "trong đánh ngoài vây, trong ngoài cùng đánh". Do đó lực lượng vũ trang trong thành phố có 5 tiểu đoàn Vệ quốc đoàn với 2.500 cán bộ chiến sĩ, 4 trung đội pháo binh đóng ở 4 pháo đài (Láng, Xuân Tảo, Xuân Canh, Thổ Khối) và 9.000 Tự vệ thành, Tự vệ xí nghiệp, 7 trung đội Tự vệ chiến đấu Hoàng Diệu với 400 đội viên và Trung đội Công an xung phong có nhiệm vụ phối hợp với Vệ quốc đoàn bảo vệ các vị trí quan trọng ở ba liên khu nội thành theo cách bố trí lực lượng độc đáo do chính đồng chí Vương Thừa Vũ đề xuất với Bộ Tổng chỉ huy: “Tiểu đoàn 101 trụ ở Liên khu I như hạt nhân; quân địch ở bao quanh như cùi; bốn tiểu đoàn (77; 212;145;523) bọc xung quanh như vỏ. Ý định phòng thủ Hà Nội vô cùng độc đáo ấy được Trung ương trực tiếp chỉ đạo và Bộ chỉ huy mặt trận Hà Nội tiến hành, kẻ địch không bao giờ nghĩ tới” (2)

12 Đội cảm tử được thành lập ở nội thành để đánh xe tăng địch. Các làng xã ngoại thành đều tổ chức đại đội tự vệ với vũ khí thô sơ.

Hà Đông có trung đoàn Vệ quốc đoàn 35 và 37 bảo vệ vòng ngoài - đứng chân trên các cửa ô phía tây và tây bắc thành phố. Trung đoàn 56 từ thị xã Hà Đông được lệnh hành quân vào nội thành để chi viện cho liên khu II và III. Đầu tháng 12/1946 các huyện Từ Liêm, Hoài Đức, Đan Phượng, Thanh Trì đều có một trung đội Quyết tử quân, sẵn sàng chiến đấu. Các khu căn cứ ở Ba Vì thuộc Chiến khu II - hậu phương của mặt trận Hà Nội cũng được xây dựng để chuẩn bị cho Trung ương rút lên Việc Bắc theo bến Trung Hà.

Trong nội thành tự vệ đào hào, đắp ụ, đục tường từ nhà nọ sang nhà kia thành thế trận liên hoàn. Đến trung tuần tháng 12, về cơ bản, mọi công việc chuẩn bị đã hoàn thành. Ngày 15/12/1946, Khu uỷ và Ban chỉ huy Mặt trận khu XI họp kiểm điểm và bổ khuyết kế hoạch sẵn sàng chiến đấu. Ngày 16/12/1946, Vệ quốc quân làm lễ tuyên thệ "Quyết tử để bảo vệ Thủ đô". Ngày 17/12/1946, thực dân Pháp tiến công tự vệ, tàn sát nhân dân phố Hàng Bún, Yên Ninh. Ngày 18/12/1946 chúng đưa tối hậu thư đòi tước vũ khí tự vệ, chiếm Sở Công an Hà Nội, nắm quyền kiểm soát trong thành phố. Tự vệ thành Hoàng Diệu họp bất thường, ra quyết nghị: "Thề sống chết với Thủ đô”. Kế hoạch phá Nhà máy điện Yên Phụ và bắn đại bác từ pháo đài Láng làm hiệu lệnh chiến đấu cho toàn thể quân dân Thủ đô đêm 19/12/1946 đã được phê chuẩn.

* Bám trụ chiến đấu ở ba liên khu phố nội thành

Ngày 18 và 19-12-1946, Ban Thường vụ Trung ương Đảng họp hội nghị mở rộng tại Vạn Phúc (Hà Đông) đã quyết định cả nước kháng chiến lâu dài chống thực dân Pháp xâm lược.

Ngày 19-12-1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra “Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến”. Đài Tiếng nói Việt Nam đặt tại Chùa Trầm (Chương Mỹ) đã phát đi lời kêu gọi của Bác. Hịch cứu nước đã đi vào lòng mọi người, đồng lòng, quyết tâm chống thực dân Pháp xâm lược nước ta một lần nữa.

20 giờ 3 phút đêm 19-12-1946, công nhân nhà máy điện phá máy. Đèn điện trong thành phố phụt tắt, đó cũng là hiệu lệnh chiến đấu. Cả thành phố nổ tung. Từ các pháo đài Láng, Xuân Tảo, Xuân Canh, Thổ Khối, pháo binh ta bắn vào các vị trí trong thành và một số nơi khác. Các lực lượng Vệ quốc đoàn, Công an xung phong, Tự vệ đồng loạt tiến công các vị trí giặc theo kế hoạch đã phân công. Nhân dân các phố quẳng các kiện hàng, khênh bàn, tủ, giường, ghế làm ụ chiến đấu ở các ngã ba, ngã tư. Các trục đường giao thông chính trong thành phố bị chặt đứt nhiều đoạn. Nhân dân các khu phố tình nguyện chiến đấu bên cạnh lực lượng vũ trang. Bà con ngoại thành nổi trống liên hồi từ hàng này sang hàng khác gây thanh thế tiếp ứng cho nội thành.

Ở thị xã Hà Đông (nay là quận Hà Đông), đường tàu điện Hà Nội - Hà Đông bị bóc dỡ. Các trung đội tự vệ được huy động cho vùng Mọc - Ngã Tư Sở - Ô Chợ Dừa để chặn các mũi tấn công của địch.

Cả Hà Nội đã anh dũng đứng lên kháng chiến cứu nước. Địch bị giáng một đòn bất ngờ. Từ 19 đến 22/12/1946, cuộc chiến đấu diễn ra ác liệt ở ba liên khu phố nội thành, trong đó tập trung ở những vị trí quan trọng như: Bắc Bộ Phủ, trụ sở Bộ Quốc Phòng ở 40 Hàng Bài, trụ sở Ủy ban hành chính thành phố, trường Trưng Vương, Cửa Nam - Đấu Xảo, chợ Hôm, dốc Hàng Kèn, trụ sở Bộ Tổng Tham mưu (18 Nguyễn Du). Chiến đấu được 5 ngày thì đến 23/12. Ban chỉ huy Mặt trận Hà Nội điều động, tổ chức các lực lượng vũ trang, hình thành thế trận “trùng độc chiến”: các lực lượng vũ trang của ta chiến đấu ở liên khu phố 1 kiên cường trụ lại ở trung tâm Thành phố chiến đấu, trở thành các chốt thép giữa lòng địch. Các lực lượng chiến đấu ở liên khu phố 2 và 3, lui ra bám chắc các cửa ô, dựa vào ngoại thành tạo nên một vành đai vây hãm giặc, phối hợp tác chiến với Liên khu phố 1, thực hiện trong ngoài cùng đánh. Hà Nội chiến đấu được 5 ngày thì Bộ Tổng chỉ huy chỉ thị cho đồng chí Vương Thừa Vũ, nhận lệnh mới: “Sáp nhập khu XI vào Khu II. Mặt trận Hà Nội trở thành tiền phương của Khu II. Khu vực tiền phương của Khu II bao gồm Hà Nội, Hà Đông, Sơn Tây. Đồng chí Vương Thừa Vũ là Khu phó khu II, trực tiếp chỉ huy khu vực tiền phương(3)

Quyết tử quân thề kiên quyết sống chết giữ vững Thủ đô, 12-1946

Lực lượng tự vệ của 5 khu ngoại thành (Lãng Bạc, Đại La, Đống Đa, Mê Linh, Đề Thám), thị xã Hà Đông và các huyện Hoài Đức, Thanh Trì đã tăng cường cho Vệ quốc đoàn, bám trụ ở các vị trí quan trọng trên vành đai ven nội như Ngã Tư Vọng, nhà thương Bạch Mai, Sở Vô tuyến Điện Bạch Mai, chợ Mơ (phía nam), Đông Mác, Lò Lợn (phía đông nam), Thụy Khuê, Yên Phụ (phía đông bắc), Kim Mã, Ngọc Hà, Bưởi, Cầu Giấy (phía tây), Ngã Tư Sở, Ô Chợ Dừa (phía tây nam). Hình thái chiến tranh nhân dân, kết hợp “trong ngoài cùng đánh” thể hiện rất rõ trên trận địa ven nội. Kế hoạch “Chiến tranh chợp nhoáng” của địch bước đầu bị phá sản.Trong lúc chờ quân tiếp viện từ Hải Phòng lên, từ 30-12-1946 đến 6-1-1947, giặc Pháp cố dồn sức đánh ra các cửa ô. Quân ta đã chặn đánh địch quyết liệt giành đi giật lại từng tấc đất trên vành đai các cửa ô: Ô Chợ Dừa (30-12-1947), Vĩnh Tuy (3-1-1947), Giảng Võ (6-1-1947).

Được Trung ương Đảng và Bộ Tổng chỉ huy chỉ đạo sát sao, Khu ủy và Ban chỉ huy khu XI quyết tâm vừa chiến đấu vừa xây dựng, giữ vững thế trận, kéo dài thời gian kìm giữ chân địch.

Giữa tháng 1-1947, sau khi đánh thông đường số 5, có thêm quân từ Hải Phòng tiếp viện, địch quyết tiêu diệt lực lượng ta ở Hà Nội. Từ 15-1-1947, địch liên tiếp mở những đợt tiến công mới trên con đường vòng cung: Vĩnh Tuy, ngã tư Trung Hiền, Ngã Tư Vọng, Ngã Tư Sở, Ô Cầu Giấy, Bưởi, Nhật Tân. Đến 25-1-1947, chiếm được Nhật Tân, địch đã kiểm soát được con đường vòng cung bao quanh Thành phố.

Từ 6-2 đến 14-2-1947, thực dân Pháp huy động một lực lượng lớn bộ binh có xe tăng, trọng pháo, máy bay yểm trợ mở đợt tổng công kích vào Liên khu phố 1. Chúng đánh nhà Xôva (Sauvage), Trường Ke (Quai), Hàng Thiếc, chợ Đồng Xuân. Trong vòng vây của địch, quân dân Liên khu phố 1 không sờn lòng trước mọi khó khăn gian khổ, hy sinh, liên tục bẻ gẫy nhiều đợt tiến công của địch.

Ngày 15-2-1947, Ban chỉ huy Liên khu 1 nhận được Chỉ thị của Bác Hồ và lệnh của Bộ Tổng chỉ huy cho lực lượng chiến đấu rút khỏi Hà Nội trở về hậu phương xây dựng lực lượng lớn mạnh hơn nữa để kháng chiến lâu dài.

Đêm 17-2-1947, Đội liên lạc Nguyễn Ngọc Nại đã dẫn đường cho Trung đoàn Thủ đô bí mật rút theo con đường quen thuộc mà các anh vẫn đêm đêm vào tiếp tế cho Trung Đoàn: từ đình Phất Lộc ra cột Đồng Hồ - qua gầm cầu Long Biên - men chân đê đến Tứ Tổng - sang Bãi Giữa. Ở Bãi Giữa, bộ đội được dân Tứ Tổng chờ đò qua sông rồi đi tiếp lên Tam Lạc -Tàm Xá và tập trung ở chùa Tàm Xá. Sau đó, bộ đội được dân Tàm Xá chở bằng thuyền Tam ban và thuyền Đinh, vượt sông Hồng sang bến Dâu thuộc xã Xuân Canh (Đông Anh) để ra vùng tự do.

5 giờ sáng 18/12, khi cơ quan Trung đoàn bộ và hai Tiểu đoàn 101, 102 đã qua sông, sang bến Dâu an toàn, đồng chí Vương Thừa Vũ báo cáo lên Bộ Tổng chỉ huy, coi như đã giành thắng lợi cơ bản(4). Tiểu đoàn 103 đi sau cùng, một số bộ đội đã qua được sông, một số bị lạc trong xóm làng của Tàm Xá, được dân Tàm Xá đưa về bến đò, chờ sang sông trong đêm 18-2-1947. Đêm ấy, Tiểu đội Nguyễn Ngọc Nại vẫn cắm chốt ở chùa Tàm Xá để bảo vệ bộ đội(5).

Sáng 19-2-1947, phát hiện quân ta rút ra khỏi Liên khu phố I, địch huy động lực lượng đuổi theo. Đội liên lạc Nguyễn Ngọc Nại đã anh dũng chiến đấu trên bãi dâu Tàm Xá, diệt 17 tên địch. Đội trưởng Nguyễn Ngọc Nại và 7 đồng chí đã hy sinh.

Chiến sĩ Trung đoàn Thủ đô vượt sông Hồng, rút khỏi Hà Nội, sáng ngày 18-2-1947

Cuộc chiến đấu anh hùng của quân dân khu XI trong 60 ngày đêm bám trụ ở ba liên khu phố, có sự yểm trợ và chia lửa của quân dân các tỉnh Bắc Ninh, Hà Đông, Hưng Yên, Vĩnh Yên đã thắng lợi, là một điển hình thành công của chiến tranh nhân dân trên mặt trận đô thị và là bài ca bất tử của tinh thần quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh.

*Xây dựng hậu phương vững chắc, chặn bước tiến của địch, bảo vệ các cơ quan Trung ương Đảng và Chính phủ rút lên Việt Bắc an toàn

Trong khi cuộc chiến đấu diễn ra quyết liệt ở ba liên khu và trên các cửa ô thì ở vùng nông thôn Hà Đông, Sơn Tây, quân dân ta thực hiện nhiệm vụ chiến lược của Trung ương giao: Xây dựng hậu phương vững chắc, chặn bước tiến của địch, bảo vệ các cơ quan Trung ương Đảng và Chính phủ rút lên Việt Bắc an toàn.Từ đêm 18-12-1946, nhiều cơ quan của các Bộ, Ban, ngành Trung ương Đảng và Chính phủ và Bộ Quốc phòng đã rút ra khỏi nội thành, theo quốc lộ 6 và quốc lộ 11A về các vùng nông thôn: Từ Vạn Phúc về Xuyên Dương (Thanh Oai), ra Hậu Ái (Hoài Đức), lên chùa Trầm, chùa Một Mái (Chúc Sơn), Cần Kiệm (Thạch Thất)… Cứ thế, các cơ quan của Trung ương Đảng và Bộ Quốc Phòng vừa di chuyển dần lên Việt Bắc, vừa chỉ đạo kháng chiến. Những sự kiện quan trọng nhất của đất nước đã diễn ra ở các làng xã Hà Đông - Sơn Tây và được nhân dân bảo vệ cán bộ nghiêm ngặt, phục vụ chu đáo: Lời kêu gọi Toàn quốc kháng chiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã được phát trên làn sóng Đài Phát thanh Tiếng nói Việt Nam đặt ở hang núi chùa Trầm, xã Phụng Châu (Chương Mỹ). Ngµy 12-1-1947, Hội nghị quân sự toàn quốc họp ở thôn Chúc Đồng, xã Thụy Hương (Chương Mỹ) quyết định những vấn đề quan trọng về đường lối chiến tranh nhân dân và phát triển lực lượng dân quân du kích, trong đó có việc bảo tồn lực lượng để kháng chiến lâu dài. Hội nghị cũng quyết định đặt tên cho Trung đòan Liên khu I là Trung đòan Thủ đô. Đêm 30 Tết Đinh Hợi (21-1-1947), sau khi chủ trì phiên họp Hội đồng Chính phủ ở trụ sở Ủy ban hành chính phủ Quốc Oai và chúc tết cán bộ, nhân dân, Chủ tịch Hồ Chí Minh đi đến chùa Trầm (huyện Chương Mỹ) đọc thơ chúc mừng xuân Đinh Hợi đồng bào chiến sĩ cả nước kháng chiến. Tiếp đó, tối ngày 2-2-1947, Hồ Chủ tịch đã đi từ Cần Kiệm huyện Thạch Thất về Chúc Sơn để chủ trì cuộc họp của Hội đồng Chính phủ tại nhà thờ của chi họ Văn ở thôn Chúc Sơn, thảo luận các vấn đề tài chính, kinh tế, canh nông, tăng gia sản xuất, công tác quốc phòng, ngoại giao ngay trong đêm 2-2 rạng sáng ngày 3-2-1947. Ngày 16-2-1947, Hội đồng Chính phủ họp ở một địa điểm của Chương Mỹ, bàn bạc công tác chuyển lên Việt Bắc. Ngày 22-2-1947, trên đồng đất thôn Phan Long, xã Tân Hội, lễ mừng công của Trung uơng Đảng, Chính phủ, Bộ Quốc phòng tuyên dương công trạng Trung đòan Thủ đô đã diễn ra trong niềm hân hoan, xúc động tự hào. Ngày 27-2- 1947, ba tiểu đòan 145, 523 và 77 sáp nhập thành Trung đoàn Thăng Long và tổ chức lễ thành lập Trung đoàn tại đình Mậu Lương (Hà Đông). Cũng trong thời gian này, dọc đường quốc lộ 1, Pháp đã đánh xuống Yên Duyên, Sở Thượng, Đông Trạch, Văn Điển. Tự vệ khu Mê Linh kết hợp với du kích Thanh Trì, có sự hỗ trợ của lực lượng vũ trang Liên khu II đã chiến đấu anh dũng chặn bước tiến của địch. Dù vậy, sau khi thiết lập được phòng tuyến thứ nhất bao quanh nội thành (Nhật Tân - Cầu Giấy - Ngã Tư Sở - Ngã Tư Vọng - Vĩnh Tuy), từ ngày 2-3-1947, thực dân Pháp tiến hành tấn công ra phía tây - tây nam thành phố để mở rộng phạm vi chiếm đóng ở các vùng nông thôn, đồng thời, tìm diệt Chính phủ Hồ Chí Minh. Vì vậy, các khu ngoại thành: Lãng Bạc, Đống Đa, Mê Linh, Đề Thám được tổ chức lại thành ba quận IV, V, VI. Sau đó, để tạo chỗ đứng chân cho lực lượng vũ trang Thủ đô tiếp tục đánh địch trong lòng địch, theo đề nghị của Ủy ban kháng chiến khu XI, từ giữa tháng 3, địa giới khu XI mở rộng thêm 4 huyện của Hà Đông là: Thanh Oai, Thanh Trì, Hoài Đức, Đan Phượng(6). Các đơn vị bộ đội chủ lực từ nội thành ra, đóng quân ở các huyện, đã phối hợp với dân quân du kích địa phương, tiếp tục chiến đấu chặn đánh địch, lập nên những chiến công vang dội: ngày 2 và 3 -3-1947, trung đoàn Thăng Long đánh địch ở trận Mậu Lương - Đa Sĩ, Mai Lĩnh kết hợp với dân quân du kích và các đội cảm tử thị xã Hà Đông, diệt hàng trăm tên địch. Ngày 4-3, địch vượt sông Đáy, đánh qua Phụng Nghĩa lên Sài Sơn, qua thị trấn Phùng về Hà Nội. Để bảo vệ lực lượng, xưởng quân giới Phan Đình Phùng của khu XI đóng ở Tiên Lữ và đội pháo binh của đồng chí Doãn Tuế đóng làng Phụng Nghĩa (huyện Chương Mỹ) đã kịp thời rút lui an tòan. Tiếp đó, ngày 18 và 19-3-1947, các tiểu đoàn 56, 64, 523 mở cuộc phản kích, tiếp tục đánh địch tại thị xã Hà Đông, diệt gần 100 tên, phá hủy 1 xe jeep, rồi lui quân ra ngoài.Từ cuối tháng 3, chúng đánh thọc sâu xuống Thanh Oai, Chương Mỹ, Ứng Hòa, Hoài Đức, Đan Phượng, đồng thời, đánh rộng ra Chi Nê, Nho Quan (Ninh Bình), Hòa Bình. Ngày 27-3, một trung đội du kích tập trung của quận V (Hà Nội) do Trung đội trưởng Vũ Văn Sự chỉ huy, đã chốt giữ tại làng Cự Đà, diệt 40 tên, làm bị thương 15 tên khác, bẻ gãy 8 đợt xung phong của địch. Sau trận đánh oai hùng này, đồng chí Vũ Văn Sự được anh em khâm phục gọi là Con hùm xám của Hà Nội, còn nhà văn Thôi Hữu đã viết bài ký nóng hổi “Đợi giờ chết” nổi tiếng. Đồng chí Trường Chinh đã khen ngợi “Trận Cự Đà thật đáng nêu gương cho toàn quốc noi theo”. Các tiểu đoàn chủ lực của khu XI đứng chân ở bốn huyện của Hà Đông tiếp tục chặn đánh địch ngoan cường. Tháng 3 năm 1947, các chiến sĩ cảm tử quân đã ôm bom ba càng lao vào diệt xe tăng địch trên đê Đáy ở Sấu Giá (Hoài Đức). Tấm gương của liệt sĩ Tạ Văn Thả thật sáng ngời cho toàn quân học tập. Ngày 2-4-1947, du kích tập trung quận 4 phục kích đoàn xe cơ giới địch trên đê sông Đáy thuộc xã Yên Sở (nay thuộc Hoài Đức), phá hủy được một số xe vận tải, diệt 50 tên địch. Thời gian này, địch đã lập được phòng tuyến thứ hai từ Chèm - Diễn - Đại Mỗ - thị xã Hà Đông tới Văn Điển, Đông Trạch (Thanh Trì), mở rộng vùng kiểm soát của chúng ra hết đất Đại lý Hoàn Long (tên gọi của ngoại thành từ 1942 đến 1954), sau đó tiếp tục thọc sâu ra các vùng nông thôn của Hà Đông để bảo vệ đầu não của chúng ở nội thành. Các cuộc chiến đấu ác liệt đã diễn ra trên địa bàn các huyện Hoài Đức, Đan Phượng, Thanh Trì, Thanh Oai, Chương Mỹ, Quốc Oai. Ngày 15-6-1947, tại xã Mã Tân (Đan Phượng), tiểu đòan 26, trung đòan 35 phối hợp với du kích thôn Đắc Sở đánh địch giáp lá cà, giữ từng ngôi nhà, ngõ xóm, diệt hơn 100 tên, phá hủy 1 xe tăng. Chiến thắng vang dội này đã có tác động, ảnh hưởng lớn đến tinh thần dân quân du kích, củng cố quyết tâm kháng chiến lâu dài cho quân dân ta. Ngày 27-6-1947, hòng chụp bắt cơ quan của Chính phủ kháng chiến, địch tấn công vào Bồ Nâu - Uớc Lễ (Thanh Oai), bằng cả không quân và bộ binh, nhưng đã bị thất bại. * Củng cố lại tổ chức, trở về gây dựng cơ sở kháng chiếnTháng 7-1947, địch tấn công Phùng, sau đó lập đồn bốt và thiết lập phòng tuyến thứ ba bao quanh Hà Nội từ Phùng (đường 11 lên Sơn Tây) đến Mai Lĩnh (đường số 6) - Chùa Thông (đường số 1).Ngày 29-5-1947, theo Nghị định 76 của Liên bộ Bộ Nội vụ và Bộ Quốc Phòng, khu XI được tách ra khỏi khu II và thêm Hà Đông, Sơn Tây nhằm mở rộng thêm hậu phương cho mặt trận Hà Nội(7). Đầu tháng 9 năm 1947, sau khi đồng chí Trần Độ, Chính ủy Khu XI được điều động về Cục chính trị Bộ Quốc Phòng, đồng chí Đỗ Đức Kiên, nguyên Chính ủy Khu XII được trên điều về làm Chính ủy Khu XI(8). Do đó, từ tháng 9-1947, Khu ủy khu XI chủ trương sắp xếp lại tổ chức, đưa cán bộ đảng, các ngành, đoàn thể và lực lượng vũ trang về nội thành gây dựng lại cơ sở, phá phòng tuyến địch ở ngoại thành, từ đó phát triển chiến tranh du kích. Để có sự chỉ đạo sâu sát, Khu ủy khu XI quyết định lập lại Thành ủy Hà Nội và tổ chức lại hệ thống Đảng - Chính quyền - Dân quân du kích. Hà Nội được chia thành ba Liên quận huyện: liên quận huyện IV gồm quận IV cũ và Hoài Đức, Đan Phượng; Liên quận huyện V gồm quận V cũ và Thanh Oai; Liên quận huyện VI gồm quận VI cũ và Thanh Trì. Ủy ban hành chính hợp nhất với Ủy ban Kháng chiến thành Ủy ban Kháng chiến Hành chính từ Thành phố đến các liên quận huyện và các xã. Ngày 20-9-1947, Thành đội bộ dân quân Hà Nội được thành lập do đồng chí Vị Hải làm Thành đội trưởng. Bộ máy chỉ huy dân quân toàn thành được củng cố. 11 đại đội với 1600 dân quân du kích, hơn 400 súng các loại là lực lượng nòng cốt để gây dựng cơ sở ở ngoại thành, làm bàn đạp tiến vào nội thành(9).Ở các huyện và các xã, lực lượng dân quân du kích đã phát triển nhanh chóng duới sự chỉ huy thống nhất của Ban chỉ huy huyện đội và xã đội. Lực lượng bộ đội chủ lực của các trung đoàn 35, trung đoàn 48 đóng quân ở trên địa bàn các huyện Đan Phượng, Thanh Oai… đã huấn luyện cho dân quân du kích địa phương và hoạt động theo phương thức mới - vũ trang tuyên truyền, gây dựng cơ sở ở ngoại thành để tiến dần vào nội thành. Tiếng súng của quân dân Thủ đô vẫn rền vang, tiêu diệt địch ở các đồn bốt, các vị trí quân sự quan trọng: trong tháng 8-1947, ta đánh bốt Đông Trạch (Thanh Trì); chống những cuộc càn quét quy mô lớn ở Vân Canh - Diễn - Ngải Cầu (Từ Liêm và Hoài Đức); tập kích cầu Phùng, chợ Tre, Thụy Ứng, Tháp Thượng ở Đan Phượng. Đặc biệt, ở Thanh Oai, làng kháng chiến được xây dựng thí điểm ở Tam Hưng, rồi mở rộng ra Bối Khê, Hưng Giáo, Nga My. Huyện đã tổ chức cho cán bộ các xã đến học tập kinh nghiệm ở Tam Hưng, với những yêu cầu cơ bản của một làng kháng chiến là có hàng rào, cổng chống, vọng gác, hào, hầm chiến đấu bảo đảm sự liên hoàn giữa làng này với làng khác. Trong thời kỳ này, so với các huyện, chỉ có Thanh Oai xây dựng sớm nhất làng kháng chiến và đó cũng là nét nổi bật, thành công của Thanh Oai.Tháng 10 - 1947, phối hợp với quân chủ lực đánh địch trên chiến trường Việt Bắc, quân dân Hà Nội mở các trận đánh thọc sâu vào vùng địch chiếm đóng. Trung đoàn 48 phối hợp với dân quân du kích đánh địch ở các vị trí Đại Mỗ, Cầu Giấy, Đông Phù, Đông Trạch, Quang Tó, Văn Điển, Mễ Trì. Hơn thế, dân quân du kích các huyện còn có phong trào “địa lôi chiến”, đánh xe cơ giới của địch trên đê sông Hồng từ phía bắc (Chèm) đến phía nam thành phố (Đại Hà). Đến tháng 12 -1947, ta đã phá hủy được 89 xe cơ giới các loại.Trong khí thế của chiến tranh nhân dân đã và đang giành thắng lợi, Khu ủy khu XI quyết định cho tổng phá tề, bắt đầu từ ngày 13-11-1947 ở địa bàn huyện Thanh Trì. Ở quận IV, ta tổ chức phá lực lượng bảo an của địch ở Cổ Nhuế, Xuân Tảo, Cáo Đỉnh, Phú Mỹ. Từ những trận phá tề và bảo an đạt kết quả tốt, phong trào tổng phá tề đã lan ra toàn ngoại thành tháng 12/1947 - đầu năm 1948, gây cho địch tổn thất khi chúng dựng lên chính quyền tay sai, đồng thời, củng cố niềm tin cho nhân dân vững tay súng kháng chiến. Ở nội thành, ngày 10-10-1947, công an lọt vào giữa phố cổ, trừng trị tên Trương Đình Tri là tay sai gian ác của địch ngay tại Cổng Đục. Ngày 25-11-1947, chị em phụ nữ quận VI đã lôi kéo được 03 ngụy binh ra hàng, mang theo vũ khí. Những chiến công đầu tiên của phong trào diệt tề, trừ gian đã làm nức lòng quân dân Thủ đô.Trên đà thắng lợi, ngày 26-12-1947, hội nghị Khu ủy Khu XI quyết định phá các phòng tuyến của địch xung quanh Hà Nội, đẩy mạnh cơ sở ở ngoại thành để làm bàn đạp tiến vào nội thành. Đến đầu năm 1948, Thành ủy Hà Nội mạnh dạn đề ra chủ trương phát triển các đội tuyên truyền vũ trang, tổ chức ở mỗi quận huyện một trung đội có nhiệm vụ diệt tề, trừ gian, bảo vệ nhân dân, mở rộng ảnh hưởng kháng chiến. Ngày 25-1-1948, thực hiện sắc lệnh số 120/SL của Chủ tịch Hồ Chí Minh về việc hợp nhất các Khu thành Liên khu, Bộ quốc phòng đã tổ chức lại hệ thống các khu trong cả nước. Tại Bắc bộ, khu I và khu XII hợp lại thành Liên khu I; khu XI hợp nhất với khu II, III thành Liên khu III. Sau đó, Thành ủy Hà Nội cũng tổ chức lại: tách các quận ngoại thành IV, V, VI ra khỏi các Liên quận huyện; thành lập Ban cán sự Đảng ở ba quận này và Ban cán sự nội thành; sáp nhập huyện Hoài Đức và Đan Phượng thành Liên huyện Bắc; Thanh Trì và Thanh Oai thành Liên huyện Nam. Chủ tịch Hồ Chí Minh thăm một công binh xưởng trong kháng chiến chống PhápHơn một năm kháng chiến trên địa bàn cả thành thị và nông thôn; dưới sựu lãnh đạo của Khu ủy Khu XI (từ tháng 10-1946 - tháng 1-1948), quân dân khu XI đã chứng tỏ khả năng chiến đấu chống thực dân Pháp xâm lược để giữ lấy độc lập tự do của Tổ quốc. Trong khi nội thành là mặt trận ác liệt, thì ngoại thành và các vùng nông thôn của Hà Đông - Sơn Tây là căn cứ vững chắc cho các cơ quan của Đảng, Chính Phủ, bộ Quốc Phòng, Khu ủy, Thành ủy rút dần ra hậu phương để lên chiến khu an toàn. Làng kháng chiến ở Thanh Oai - một điển hình của chiến tranh nhân dân đã ra đời ngay từ trong máu lửa. Đây là một sáng tạo thần tình của nhân dân từ thực tiễn kháng chiến. Khi nội thành bị địch chiếm đóng, ngọn lửa kháng chiến lan rộng trên địa bàn khu XI, bùng cháy cả ở nông thôn và thành thị. Với lòng yêu nước cao độ và tinh thần hy sinh cao cả, quân dân khu XI đã góp phần to lớn vào cuộc kháng chiến của quân dân ta trên chiến trường Bắc bộ.Dù còn bỡ ngỡ khi đi vào cuộc kháng chiến lâu dài, nhưng thắng lợi ban đầu của cuộc chiến đấu anh dũng, ngoan cường, dựa vào sức mạnh của nhân dân trên chiến trường khu XI đã kiểm nghiệm và chứng minh đường lối kháng chiến toàn dân toàn diện của Đảng ta, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh, là đúng đắn.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn