Khác

Quân dân Khu XI (Hà Nội) trong thời kỳ đầu kháng chiến chống thực dân Pháp (từ tháng 10-1946 đến tháng 1-1948)'Củng cố lại tổ chức, trở về gây dựng 'cơ sở kháng chiến

Tháng 7-1947, địch tấn công Phùng, sau đó lập đồn bốt và thiết lập phòng tuyến thứ ba bao quanh Hà Nội từ Phùng (đường 11 lên Sơn Tây) đến Mai Lĩnh (đường số 6) - Chùa Thông (đường số 1).

Phú Thọ19/03/2026Ban Biên tập tổng hợp3 lượt xem0 lượt chia sẻ

Củng cố lại tổ chức, trở về gây dựng cơ sở kháng chiến

Tháng 7-1947, địch tấn công Phùng, sau đó lập đồn bốt và thiết lập phòng tuyến thứ ba bao quanh Hà Nội từ Phùng (đường 11 lên Sơn Tây) đến Mai Lĩnh (đường số 6) - Chùa Thông (đường số 1).

Ngày 29-5-1947, theo Nghị định 76 của Liên bộ Bộ Nội vụ và Bộ Quốc Phòng, khu XI được tách ra khỏi khu II và thêm Hà Đông, Sơn Tây nhằm mở rộng thêm hậu phương cho mặt trận Hà Nội(7). Đầu tháng 9 năm 1947, sau khi đồng chí Trần Độ, Chính ủy Khu XI được điều động về Cục chính trị Bộ Quốc Phòng, đồng chí Đỗ Đức Kiên, nguyên Chính ủy Khu XII được trên điều về làm Chính ủy Khu XI(8). Do đó, từ tháng 9-1947, Khu ủy khu XI chủ trương sắp xếp lại tổ chức, đưa cán bộ đảng, các ngành, đoàn thể và lực lượng vũ trang về nội thành gây dựng lại cơ sở, phá phòng tuyến địch ở ngoại thành, từ đó phát triển chiến tranh du kích. Để có sự chỉ đạo sâu sát, Khu ủy khu XI quyết định lập lại Thành ủy Hà Nội và tổ chức lại hệ thống Đảng - Chính quyền - Dân quân du kích. Hà Nội được chia thành ba Liên quận huyện: liên quận huyện IV gồm quận IV cũ và Hoài Đức, Đan Phượng; Liên quận huyện V gồm quận V cũ và Thanh Oai; Liên quận huyện VI gồm quận VI cũ và Thanh Trì. Ủy ban hành chính hợp nhất với Ủy ban Kháng chiến thành Ủy ban Kháng chiến Hành chính từ Thành phố đến các liên quận huyện và các xã. Ngày 20-9-1947, Thành đội bộ dân quân Hà Nội được thành lập do đồng chí Vị Hải làm Thành đội trưởng. Bộ máy chỉ huy dân quân toàn thành được củng cố. 11 đại đội với 1600 dân quân du kích, hơn 400 súng các loại là lực lượng nòng cốt để gây dựng cơ sở ở ngoại thành, làm bàn đạp tiến vào nội thành(9).

Ở các huyện và các xã, lực lượng dân quân du kích đã phát triển nhanh chóng duới sự chỉ huy thống nhất của Ban chỉ huy huyện đội và xã đội. Lực lượng bộ đội chủ lực của các trung đoàn 35, trung đoàn 48 đóng quân ở trên địa bàn các huyện Đan Phượng, Thanh Oai… đã huấn luyện cho dân quân du kích địa phương và hoạt động theo phương thức mới - vũ trang tuyên truyền, gây dựng cơ sở ở ngoại thành để tiến dần vào nội thành. Tiếng súng của quân dân Thủ đô vẫn rền vang, tiêu diệt địch ở các đồn bốt, các vị trí quân sự quan trọng: trong tháng 8-1947, ta đánh bốt Đông Trạch (Thanh Trì); chống những cuộc càn quét quy mô lớn ở Vân Canh - Diễn - Ngải Cầu (Từ Liêm và Hoài Đức); tập kích cầu Phùng, chợ Tre, Thụy Ứng, Tháp Thượng ở Đan Phượng. Đặc biệt, ở Thanh Oai, làng kháng chiến được xây dựng thí điểm ở Tam Hưng, rồi mở rộng ra Bối Khê, Hưng Giáo, Nga My. Huyện đã tổ chức cho cán bộ các xã đến học tập kinh nghiệm ở Tam Hưng, với những yêu cầu cơ bản của một làng kháng chiến là có hàng rào, cổng chống, vọng gác, hào, hầm chiến đấu bảo đảm sự liên hoàn giữa làng này với làng khác. Trong thời kỳ này, so với các huyện, chỉ có Thanh Oai xây dựng sớm nhất làng kháng chiến và đó cũng là nét nổi bật, thành công của Thanh Oai.

Tháng 10 - 1947, phối hợp với quân chủ lực đánh địch trên chiến trường Việt Bắc, quân dân Hà Nội mở các trận đánh thọc sâu vào vùng địch chiếm đóng. Trung đoàn 48 phối hợp với dân quân du kích đánh địch ở các vị trí Đại Mỗ, Cầu Giấy, Đông Phù, Đông Trạch, Quang Tó, Văn Điển, Mễ Trì. Hơn thế, dân quân du kích các huyện còn có phong trào “địa lôi chiến”, đánh xe cơ giới của địch trên đê sông Hồng từ phía bắc (Chèm) đến phía nam thành phố (Đại Hà). Đến tháng 12 -1947, ta đã phá hủy được 89 xe cơ giới các loại.

Trong khí thế của chiến tranh nhân dân đã và đang giành thắng lợi, Khu ủy khu XI quyết định cho tổng phá tề, bắt đầu từ ngày 13-11-1947 ở địa bàn huyện Thanh Trì. Ở quận IV, ta tổ chức phá lực lượng bảo an của địch ở Cổ Nhuế, Xuân Tảo, Cáo Đỉnh, Phú Mỹ. Từ những trận phá tề và bảo an đạt kết quả tốt, phong trào tổng phá tề đã lan ra toàn ngoại thành tháng 12/1947 - đầu năm 1948, gây cho địch tổn thất khi chúng dựng lên chính quyền tay sai, đồng thời, củng cố niềm tin cho nhân dân vững tay súng kháng chiến. Ở nội thành, ngày 10-10-1947, công an lọt vào giữa phố cổ, trừng trị tên Trương Đình Tri là tay sai gian ác của địch ngay tại Cổng Đục. Ngày 25-11-1947, chị em phụ nữ quận VI đã lôi kéo được 03 ngụy binh ra hàng, mang theo vũ khí. Những chiến công đầu tiên của phong trào diệt tề, trừ gian đã làm nức lòng quân dân Thủ đô.

Trên đà thắng lợi, ngày 26-12-1947, hội nghị Khu ủy Khu XI quyết định phá các phòng tuyến của địch xung quanh Hà Nội, đẩy mạnh cơ sở ở ngoại thành để làm bàn đạp tiến vào nội thành. Đến đầu năm 1948, Thành ủy Hà Nội mạnh dạn đề ra chủ trương phát triển các đội tuyên truyền vũ trang, tổ chức ở mỗi quận huyện một trung đội có nhiệm vụ diệt tề, trừ gian, bảo vệ nhân dân, mở rộng ảnh hưởng kháng chiến. Ngày 25-1-1948, thực hiện sắc lệnh số 120/SL của Chủ tịch Hồ Chí Minh về việc hợp nhất các Khu thành Liên khu, Bộ quốc phòng đã tổ chức lại hệ thống các khu trong cả nước. Tại Bắc bộ, khu I và khu XII hợp lại thành Liên khu I; khu XI hợp nhất với khu II, III thành Liên khu III. Sau đó, Thành ủy Hà Nội cũng tổ chức lại: tách các quận ngoại thành IV, V, VI ra khỏi các Liên quận huyện; thành lập Ban cán sự Đảng ở ba quận này và Ban cán sự nội thành; sáp nhập huyện Hoài Đức và Đan Phượng thành Liên huyện Bắc; Thanh Trì và Thanh Oai thành Liên huyện Nam.

Chủ tịch Hồ Chí Minh thăm một công binh xưởng trong kháng chiến chống Pháp

Hơn một năm kháng chiến trên địa bàn cả thành thị và nông thôn; dưới sựu lãnh đạo của Khu ủy Khu XI (từ tháng 10-1946 - tháng 1-1948), quân dân khu XI đã chứng tỏ khả năng chiến đấu chống thực dân Pháp xâm lược để giữ lấy độc lập tự do của Tổ quốc. Trong khi nội thành là mặt trận ác liệt, thì ngoại thành và các vùng nông thôn của Hà Đông - Sơn Tây là căn cứ vững chắc cho các cơ quan của Đảng, Chính Phủ, bộ Quốc Phòng, Khu ủy, Thành ủy rút dần ra hậu phương để lên chiến khu an toàn. Làng kháng chiến ở Thanh Oai - một điển hình của chiến tranh nhân dân đã ra đời ngay từ trong máu lửa. Đây là một sáng tạo thần tình của nhân dân từ thực tiễn kháng chiến. Khi nội thành bị địch chiếm đóng, ngọn lửa kháng chiến lan rộng trên địa bàn khu XI, bùng cháy cả ở nông thôn và thành thị. Với lòng yêu nước cao độ và tinh thần hy sinh cao cả, quân dân khu XI đã góp phần to lớn vào cuộc kháng chiến của quân dân ta trên chiến trường Bắc bộ.

Dù còn bỡ ngỡ khi đi vào cuộc kháng chiến lâu dài, nhưng thắng lợi ban đầu của cuộc chiến đấu anh dũng, ngoan cường, dựa vào sức mạnh của nhân dân trên chiến trường khu XI đã kiểm nghiệm và chứng minh đường lối kháng chiến toàn dân toàn diện của Đảng ta, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh, là đúng đắn.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn