Quân dân Khu XI (Hà Nội) trong thời kỳ đầu kháng chiến chống thực dân Pháp (từ tháng 10-1946 đến tháng 1-1948) (Phần 1)'Bám trụ chiến đấu ở ba liên khu phố nội thành''
Ngày 18 và 19-12-1946, Ban Thường vụ Trung ương Đảng họp hội nghị mở rộng tại Vạn Phúc (Hà Đông) đã quyết định cả nước kháng chiến lâu dài chống thực dân Pháp xâm lược. Ngày 19-12-1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra “Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến”. Đài Tiếng nói Việt Nam đặt tại Chùa Trầm (Chương Mỹ) đã phát đi lời kêu gọi của Bác. Hịch cứu nước đã đi vào lòng mọi người, đồng lòng, quyết tâm chống thực dân Pháp xâm lược nước ta một lần nữa.
Ngày 18 và 19-12-1946, Ban Thường vụ Trung ương Đảng họp hội nghị mở rộng tại Vạn Phúc (Hà Đông) đã quyết định cả nước kháng chiến lâu dài chống thực dân Pháp xâm lược.
Ngày 19-12-1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra “Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến”. Đài Tiếng nói Việt Nam đặt tại Chùa Trầm (Chương Mỹ) đã phát đi lời kêu gọi của Bác. Hịch cứu nước đã đi vào lòng mọi người, đồng lòng, quyết tâm chống thực dân Pháp xâm lược nước ta một lần nữa.
20 giờ 3 phút đêm 19-12-1946, công nhân nhà máy điện phá máy. Đèn điện trong thành phố phụt tắt, đó cũng là hiệu lệnh chiến đấu. Cả thành phố nổ tung. Từ các pháo đài Láng, Xuân Tảo, Xuân Canh, Thổ Khối, pháo binh ta bắn vào các vị trí trong thành và một số nơi khác. Các lực lượng Vệ quốc đoàn, Công an xung phong, Tự vệ đồng loạt tiến công các vị trí giặc theo kế hoạch đã phân công. Nhân dân các phố quẳng các kiện hàng, khênh bàn, tủ, giường, ghế làm ụ chiến đấu ở các ngã ba, ngã tư. Các trục đường giao thông chính trong thành phố bị chặt đứt nhiều đoạn. Nhân dân các khu phố tình nguyện chiến đấu bên cạnh lực lượng vũ trang. Bà con ngoại thành nổi trống liên hồi từ hàng này sang hàng khác gây thanh thế tiếp ứng cho nội thành.
Ở thị xã Hà Đông (nay là quận Hà Đông), đường tàu điện Hà Nội - Hà Đông bị bóc dỡ. Các trung đội tự vệ được huy động cho vùng Mọc - Ngã Tư Sở - Ô Chợ Dừa để chặn các mũi tấn công của địch.
Cả Hà Nội đã anh dũng đứng lên kháng chiến cứu nước. Địch bị giáng một đòn bất ngờ. Từ 19 đến 22/12/1946, cuộc chiến đấu diễn ra ác liệt ở ba liên khu phố nội thành, trong đó tập trung ở những vị trí quan trọng như: Bắc Bộ Phủ, trụ sở Bộ Quốc Phòng ở 40 Hàng Bài, trụ sở Ủy ban hành chính thành phố, trường Trưng Vương, Cửa Nam - Đấu Xảo, chợ Hôm, dốc Hàng Kèn, trụ sở Bộ Tổng Tham mưu (18 Nguyễn Du). Chiến đấu được 5 ngày thì đến 23/12. Ban chỉ huy Mặt trận Hà Nội điều động, tổ chức các lực lượng vũ trang, hình thành thế trận “trùng độc chiến”: các lực lượng vũ trang của ta chiến đấu ở liên khu phố 1 kiên cường trụ lại ở trung tâm Thành phố chiến đấu, trở thành các chốt thép giữa lòng địch. Các lực lượng chiến đấu ở liên khu phố 2 và 3, lui ra bám chắc các cửa ô, dựa vào ngoại thành tạo nên một vành đai vây hãm giặc, phối hợp tác chiến với Liên khu phố 1, thực hiện trong ngoài cùng đánh. Hà Nội chiến đấu được 5 ngày thì Bộ Tổng chỉ huy chỉ thị cho đồng chí Vương Thừa Vũ, nhận lệnh mới: “Sáp nhập khu XI vào Khu II. Mặt trận Hà Nội trở thành tiền phương của Khu II. Khu vực tiền phương của Khu II bao gồm Hà Nội, Hà Đông, Sơn Tây. Đồng chí Vương Thừa Vũ là Khu phó khu II, trực tiếp chỉ huy khu vực tiền phương”(3)
Quyết tử quân thề kiên quyết sống chết giữ vững Thủ đô, 12-1946
Lực lượng tự vệ của 5 khu ngoại thành (Lãng Bạc, Đại La, Đống Đa, Mê Linh, Đề Thám), thị xã Hà Đông và các huyện Hoài Đức, Thanh Trì đã tăng cường cho Vệ quốc đoàn, bám trụ ở các vị trí quan trọng trên vành đai ven nội như Ngã Tư Vọng, nhà thương Bạch Mai, Sở Vô tuyến Điện Bạch Mai, chợ Mơ (phía nam), Đông Mác, Lò Lợn (phía đông nam), Thụy Khuê, Yên Phụ (phía đông bắc), Kim Mã, Ngọc Hà, Bưởi, Cầu Giấy (phía tây), Ngã Tư Sở, Ô Chợ Dừa (phía tây nam). Hình thái chiến tranh nhân dân, kết hợp “trong ngoài cùng đánh” thể hiện rất rõ trên trận địa ven nội. Kế hoạch “Chiến tranh chợp nhoáng” của địch bước đầu bị phá sản.Trong lúc chờ quân tiếp viện từ Hải Phòng lên, từ 30-12-1946 đến 6-1-1947, giặc Pháp cố dồn sức đánh ra các cửa ô. Quân ta đã chặn đánh địch quyết liệt giành đi giật lại từng tấc đất trên vành đai các cửa ô: Ô Chợ Dừa (30-12-1947), Vĩnh Tuy (3-1-1947), Giảng Võ (6-1-1947).
Được Trung ương Đảng và Bộ Tổng chỉ huy chỉ đạo sát sao, Khu ủy và Ban chỉ huy khu XI quyết tâm vừa chiến đấu vừa xây dựng, giữ vững thế trận, kéo dài thời gian kìm giữ chân địch.
Giữa tháng 1-1947, sau khi đánh thông đường số 5, có thêm quân từ Hải Phòng tiếp viện, địch quyết tiêu diệt lực lượng ta ở Hà Nội. Từ 15-1-1947, địch liên tiếp mở những đợt tiến công mới trên con đường vòng cung: Vĩnh Tuy, ngã tư Trung Hiền, Ngã Tư Vọng, Ngã Tư Sở, Ô Cầu Giấy, Bưởi, Nhật Tân. Đến 25-1-1947, chiếm được Nhật Tân, địch đã kiểm soát được con đường vòng cung bao quanh Thành phố.
Từ 6-2 đến 14-2-1947, thực dân Pháp huy động một lực lượng lớn bộ binh có xe tăng, trọng pháo, máy bay yểm trợ mở đợt tổng công kích vào Liên khu phố 1. Chúng đánh nhà Xôva (Sauvage), Trường Ke (Quai), Hàng Thiếc, chợ Đồng Xuân. Trong vòng vây của địch, quân dân Liên khu phố 1 không sờn lòng trước mọi khó khăn gian khổ, hy sinh, liên tục bẻ gẫy nhiều đợt tiến công của địch.
Ngày 15-2-1947, Ban chỉ huy Liên khu 1 nhận được Chỉ thị của Bác Hồ và lệnh của Bộ Tổng chỉ huy cho lực lượng chiến đấu rút khỏi Hà Nội trở về hậu phương xây dựng lực lượng lớn mạnh hơn nữa để kháng chiến lâu dài.
Đêm 17-2-1947, Đội liên lạc Nguyễn Ngọc Nại đã dẫn đường cho Trung đoàn Thủ đô bí mật rút theo con đường quen thuộc mà các anh vẫn đêm đêm vào tiếp tế cho Trung Đoàn: từ đình Phất Lộc ra cột Đồng Hồ - qua gầm cầu Long Biên - men chân đê đến Tứ Tổng - sang Bãi Giữa. Ở Bãi Giữa, bộ đội được dân Tứ Tổng chờ đò qua sông rồi đi tiếp lên Tam Lạc -Tàm Xá và tập trung ở chùa Tàm Xá. Sau đó, bộ đội được dân Tàm Xá chở bằng thuyền Tam ban và thuyền Đinh, vượt sông Hồng sang bến Dâu thuộc xã Xuân Canh (Đông Anh) để ra vùng tự do.
5 giờ sáng 18/12, khi cơ quan Trung đoàn bộ và hai Tiểu đoàn 101, 102 đã qua sông, sang bến Dâu an toàn, đồng chí Vương Thừa Vũ báo cáo lên Bộ Tổng chỉ huy, coi như đã giành thắng lợi cơ bản(4). Tiểu đoàn 103 đi sau cùng, một số bộ đội đã qua được sông, một số bị lạc trong xóm làng của Tàm Xá, được dân Tàm Xá đưa về bến đò, chờ sang sông trong đêm 18-2-1947. Đêm ấy, Tiểu đội Nguyễn Ngọc Nại vẫn cắm chốt ở chùa Tàm Xá để bảo vệ bộ đội(5).
Sáng 19-2-1947, phát hiện quân ta rút ra khỏi Liên khu phố I, địch huy động lực lượng đuổi theo. Đội liên lạc Nguyễn Ngọc Nại đã anh dũng chiến đấu trên bãi dâu Tàm Xá, diệt 17 tên địch. Đội trưởng Nguyễn Ngọc Nại và 7 đồng chí đã hy sinh.
Chiến sĩ Trung đoàn Thủ đô vượt sông Hồng, rút khỏi Hà Nội, sáng ngày 18-2-1947Cuộc chiến đấu anh hùng của quân dân khu XI trong 60 ngày đêm bám trụ ở ba liên khu phố, có sự yểm trợ và chia lửa của quân dân các tỉnh Bắc Ninh, Hà Đông, Hưng Yên, Vĩnh Yên đã thắng lợi, là một điển hình thành công của chiến tranh nhân dân trên mặt trận đô thị và là bài ca bất tử của tinh thần quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh.



