THƯ CỦA ĐẠI TƯỚNG VÕ NGUYÊN GIÁP GỬI CUỘC HỘI THẢO “Quân và dân Phú Yên góp phần đánh bại chiến dịch Átlăng của thưc dân Pháp trong chiến cuộc Đông Xuân 1953-1954” Các đồng chí thân mến!
Trong giai đoạn cuối cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, vùng tự do Nam Trung Bộ (trong đó có tỉnh Phú Yên) là một mục tiêu trọng điểm của kế hoạch bình định miền Nam Đông Dương của địch và là một chiến trường phối hợp rất quan trọng của ta.
Thực hiện kế hoạch Nava, thực dân Pháp một mặt tập trung binh lực thành lập khối quân sự cơ động lớn ở đồng bằng Bắc Bộ, một mặt khẩn trương chuẩn bị lực lượng mở cuộc tiến công chiến lược ở Nam Đông Dương, trong đó hướng chiến lược là vùng tự do Liên khu 5. Ngày 20 tháng 1 năm 1954, chúng huy động 22 tiểu đoàn, trong đó có 4 tiểu đoàn cơ động và 2 tiểu đoàn dù ngụy chia làm 3 cánh mở cuộc tiến công đánh chiếm vùng tự do Phú Yên thực hiện bước một chiến dịch Átlăng.
Đúng thời điểm đó, theo kế hoạch tác chiến đã được Thường vụ Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh xác định, dưới sự chỉ đạo của Tổng Quân ủy và Bộ Tổng Tư lệnh, quân và dân Nam Trung Bộ đang gấp rút chuẩn bị mở cuộc tiến công chiến lược ở bắc Tây Nguyên.
Địch đánh ra Phú Yên, nhưng ta không bất ngờ bị động, không ảnh hưởng đến kế hoạch tiến công bắc Tây Nguyên của chủ lực ta. Nhiệm vụ đánh bại bước 1 chiến dịch Átlăng chủ yếu do quân và dân Phú Yên đảm nhiệm. Dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Liên khu ủy, Bộ Tư lệnh Liên khu 5, quân và dân Phú Yên đã dựa vào làng chiến đấu và thế trận đã được chuẩn bị sẵn, anh dũng đánh địch ngay từ khi chúng mới đặt chân tới; vừa chặn đánh địch ở phía trước, vừa tiến công chúng ở phía sau, tạo điều kiện cho các đơn vị chủ lực của Liên khu tiến công địch ở bắc Tây Nguyên. Quân và dân Liên khu 5 đã đánh bại chiến dịch Átlăng của địch tiêu diệt một lực lượng quan trọng quân cơ động của địch ở Tây Nguyên, đồng thời vùng tự do Phú Yên, đồng bằng Liên khu 5 được giữ vững.
Với chiến công xuất sắc đánh bại bước 1 cuộc tấn công ra vùng tự do của địch, quân và dân Phú Yên đã góp phần đánh bại chiến dịch Átlăng của địch. Chiến công vẻ vang ấy của quân và dân Liên khu 5 nói chung, của Phú Yên nói riêng là sự phối hợp tài tình với chiến trường chính, cùng quân và dân cả nước giành thắng lợi to lớn trong chiến cuộc Đông Xuân 1953-1954 mà đỉnh cao là chiến thắng Điện Biên Phủ lịch sử, kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp.
Tôi hoan nghênh lãnh đạo tỉnh Phú Yên đã tổ chức cuộc hội thảo khoa học quan trọng này. Cuộc hội thảo sẽ đánh giá đầy đủ hơn về những chiến công, thành tích chủ yếu, những phát triển sáng tạo và kinh nghiệm quý báu về chiến tranh nhân dân của Đảng bộ và quân dân Phú Yên trong kháng chiến. Tôi mong thành công của hội thảo sẽ góp phần động viên đồng bào, cán bộ, chiến sĩ, đặc biệt là thế hệ trẻ Phú Yên tiếp tục phát huy truyền thống quyết chiến quyết thắng trong kháng chiến vào sự nghiệp công nghiệp hóa - hiện đại hóa, làm cho Phú Yên trở thành một tỉnh giàu về kinh tế, mạnh về quốc phòng, an ninh, văn hóa xã hội phát triển, góp phần vào sự nghiệp đổi mới xây dựng đất nước vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh và bảo vệ vững chắc Tổ quốc.
Nhân dịp này, tôi thân ái gửi lời thăm hỏi ân cần đến các Bà mẹ Việt Nam Anh hùng, các gia đình liệt sĩ, các đồng chí thương binh, bệnh binh, các cựu chiến binh, lực lượng vũ trang và nhân dân tỉnh Phú Yên.
Chúc hội thảo thành công.
Chúc các đồng chí mạnh khỏe, hạnh phúc.
Chào thân ái Hà Nội, ngày 22 tháng 7 năm 2009 Đại tướng VÕ NGUYÊN GIÁP | |
Logged
| Tự hào thay, mác búp đa Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng. Thô sơ, gian khổ đã từng Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên. |
|
|
macbupda Trung tá  Bài viết: 11970  Lính của PTL | 
| Quân dân Phú Yên góp phần quyết định đánh bại cuộc hành quân Átlăng...« Trả lời #3 vào lúc: 09 Tháng Năm, 2021, 07:42:19 pm » | MỞ ĐẦU I. VỊ TRÍ CHIẾN LƯỢC CỦA PHÚ YÊN Phú Yên nằm ở duyên hải Nam Trung Bộ, có tọa độ địa lý từ 12o39’10” đến 13o45’20” vĩ độ bắc và 108o39’45” đến 109o29’20” kinh độ đông. Phía bắc giáp tỉnh Bình Định, phía nam giáp tỉnh Khánh Hòa, phía tây giáp tỉnh Gia Lai và tỉnh Đắc Lắc, phía đông tiếp liền với biển Đông. Toàn tỉnh có diện tích 5.045km2, trong đó phần lớn là rừng núi hiểm trở. Ba mặt đều có núi: dãy Cù Mông ở phía bắc, dãy đèo cả ở phía nam, phía tây là rìa phía đông của dãy Trường Sơn. Phú Yên có nhiều núi cao như Hòn Chữ Nhơn (huyện Đồng Xuân) cao 1.318m, Hòn Ông (Tuy Hoà) cao 1.010m, ngọn Chư Vinh (huyện Sông Hỉnh) cao 1.364m. Dãy núi Cù Mông và dãy Vọng Phu - đèo cả chạy sát ra biển. Đặc điểm địa hình nói trên tạo cho Phú Yên có một vị trí chiến lược hết sức quan trọng.
Suốt 30 năm kháng chiến, miền núi Phú Yên là căn cứ địa vững chắc của cuộc chiến tranh nhân dân trên địa bàn, đồng thời là nơi đứng chân của các cơ quan, đơn vị, các địa phương bạn trong những lúc khó khăn. Do vậy, địch luôn tìm mọi cách để đánh chiếm địa bàn này, song chúng đều chịu nhiều thất bại cay đắng. Dựa vào thế chiến lược “thiên thời, địa lợi, nhân hoà”, nhất là ở các huyện miền núi, quân và dân Phú Yên đã xây dựng nhiều căn cứ, bố trí nhiều trận địa hiểm hóc, thực hiện nhiều trận đánh tiêu hao, tiêu diệt địch đạt hiệu suất chiến đấu cao. Đây cũng chính là bàn đạp để quân và dân ta mở những đợt hoạt động tiến công địch trên nhiều hướng ở đồng bằng và thị xã.
Phía tây của tỉnh là sườn đông của dãy Trường Sơn tiếp liền với vùng núi rừng trùng điệp Tây Nguyên tạo thành một vòng cung khép kín bao quanh từ đèo Cù Mông đến đèo cả. Nhiều mỏm núi nhô ra sát biển tạo cảnh quan đẹp, môi trường tốt để phát triển kinh tế. Hệ thống hang động đa dạng, có sức chứa lớn có thể chịu đựng bom đạn của địch với cường độ cao, bảo vệ lực lượng tác chiến giành thắng lợi. Vùng trung du có một số cao nguyên rộng tương đối bằng phẳng, đất đai màu mỡ như ở các huyện Sơn Hòa, Sông Hinh thuận lợi cho việc phát triển nông trường, trang trại, phù hợp với các loại cây công nghiệp, cây thực phẩm, trang trại chăn nuôi gia súc.
Vùng ven biển của Phú Yên có đồi núi thấp phân bố chủ yếu ven đường quốc lộ 1 và rải rác dọc bờ biển, độ cao trung bình 150m - 300m, chia cắt vùng đồng bằng ven biển ra thành những đồng bằng nhỏ. Đây cũng là nơi có nhiều hang động rất thuận lợi cho trú ém quân, chứa hàng, lập công binh xưởng.
Vùng đồng bằng phân bố chủ yếu ở khu vực thành phố Tuy Hòa, huyện Tây Hòa, huyện Đông Hòa, huyện Phú Hòa thuộc hạ lưu sông Ba có núi xen kẽ rải rác như núi Một (Hòa Tân); núi Sặc, núi Hương (Hòa Phong); núi Sầm (Hòa Trị); núi Miếu (Hòa Quang); núi Hương (Hòa Định Đông); núi Chóp Chài (Hòa Kiến)... Đây cũng là những vị trí có tầm quan trọng đặc biệt về quân sự. Chính vì vậy, thực dân Pháp và đế quốc Mỹ luôn tìm mọi cách chiếm đóng những vị trí này nhằm khống chế, đánh phá ta.
Đồng bằng Phú Yên có diện tích khoảng 816km2, trong đó vùng đồng bằng Tuy Hòa (bao gồm các huyện Tây Hòa, huyện Đông Hòa, huyện Phú Hòa hiện nay) chiếm 500km2, là đồng bằng màu mỡ nhất do nằm ở hạ lưu sông Ba luôn được bồi đắp bởi phù sa từ các vùng đồi bazan ở thượng lưu mang lại, được tưới nước từ hệ thống thủy nông Đồng Cam tạo cho Phú Yên có ưu thế sản xuất lương thực, so với các tỉnh khác ở khu vực miền Trung. Trong kháng chiến chống Pháp, gạo Tuy Hòa không những nuôi quân dân trong tỉnh mà còn chi viện cho các chiến trường Khánh Hòa, Tây Nguyên và các tỉnh khác ở cực Nam Trung Bộ.
Phú Yên có bờ biển dài 189km, đường cơ sở trên biển dài 90km đi qua Hòn Ông Căn (Bình Định), mũi Đại Lãnh (điểm A9 - huyện Đông Hòa), Hòn Đôi (Khánh Hòa), tạo nên diện tích vùng nội thủy khoảng 1.100km2, đường biên giới quốc gia cách bờ biển nơi gần nhất 22km, nơi xa nhất 39km tạo nên vùng diện tích lãnh hải của tỉnh 2.000km2. Bờ biển có nhiều chỗ núi ăn thông ra biển tạo thành nhiều đầm, vịnh, vũng, mũi, đảo và bán đảo. Trong đó, Vịnh Xuân Đài và Vũng Rô là những nơi lý tưởng cho tàu thuyền neo đậu, tránh gió bão. Tại Mũi Nạy (còn gọi Cap Varella), từ cuối thế kỷ XIX người Pháp đã đặt một ngọn hải đăng để hướng dẫn tàu thuyền đi biển. Đặc biệt Phú Yên có Vũng Rô, nằm trong địa phận xã Hòa Xuân Nam, huyện Đông Hòa, tiếp giáp với Vịnh Văn Phong - Đại Lãnh (tỉnh Khánh Hòa), có diện tích mặt nước rộng 16,40km2, sâu từ 14 đến 19m, kín gió, đáy vịnh ổn định; cửa vào rộng 2km. Trong kháng chiến chống Mỹ, cuối năm 1964, đầu năm 1965, 4 lần tàu không số của ta từ miền Bắc theo đường Hồ Chí Minh trên biển đã đưa khoảng 240 tấn vũ khí, đạn dược vào Vũng Rô để chi viện cho chiến trường Nam Trung Bộ. Cuối năm 1965, đầu năm 1966, Mỹ xây dựng Vũng Rô thành cảng tiếp nhận xăng dầu và các loại khí tài quân sự, vật chất phục vụ chiến tranh. | |
Logged
| Tự hào thay, mác búp đa Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng. Thô sơ, gian khổ đã từng Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên. |
|
|
macbupda Trung tá  Bài viết: 11970  Lính của PTL | 
| Quân dân Phú Yên góp phần quyết định đánh bại cuộc hành quân Átlăng...« Trả lời #4 vào lúc: 09 Tháng Năm, 2021, 07:43:58 pm » | Do địa hình có nhiều núi đồi, nên Phú Yên có nhiều đèo dốc. Trong đó đáng chú ý là đèo Cù Mông nằm trên quốc lộ 1A có độ cao 245m (điểm phân ranh giữa hai tỉnh Bình Định và Phú Yên) và đèo Cả vượt qua dãy núi Đại Lãnh (còn gọi dãy Vọng Phu, một nhánh của dãy Trường Sơn nhô ra biển Đông) là ranh giới tự nhiên giữa hai tỉnh Phú Yên và Khánh Hòa, dài 11km, cao 417m. Đặc điểm của đèo Cù Mông và đèo Cả là có vách taluy cao, nhiều vòng cua hẹp, độ dốc lớn, hai bên là núi cao khá hiểm trở. Đây cũng là những vị trí hết sức thuận lợi cho lực lượng ta lập trận địa phục kích chặn đánh các đoàn xe cơ giới của địch. Trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và Mỹ đã diễn ra nhiều trận đánh nổi tiếng, tiêu biểu nhất là những trận đánh trên “Mặt trận đèo Cả” năm 1947 và trận đánh Mỹ đầu tiên của lực lượng vũ trang tỉnh năm 1965. Trên các tuyến đường tỉnh, huyện, xã, đèo dốc cũng dày đặc: Đèo Cây Cưa trên đường ĐT642 (Triều Sơn - La Hai), đèo Thị trên đường ĐT641 (Chí Thạnh - Mục Thịnh), đèo Dinh ông, dốc Đá Đề (quốc lộ 25), dốc Phường, đèo Bình Thảo (huyện Sông Hinh), dốc Đồng Tranh, dốc Lỗ Chài (huyện Phú Hòa), dốc Đá Mài, suối Bùn, dốc Đỏ, dốc Lau (huyện Sơn Hòa). Đặc biệt dốc Chanh, dốc Mõ thuộc huyện Tây Hòa là những địa danh gắn với cuộc kháng chiến chông thực dân Pháp của quân và dân Phú Yên.
Hang, gộp, hốc ở Phú Yên khá nhiều và phân bố khắp các huyện trong tỉnh. Đáng chú ý là các gộp bãi Xép, hốc Gạo, hốc Võ, hốc Răm, suối Cùng, suối Lạnh, Mòng Mòng, hốc Nhum (huyện Tuy Hoà); hang Trai Thủy (tục gọi là hang Dơi) ở núi Chóp Chài, gộp Đá Bàn (thị xã Tuy Hoà); hốc Bé, hốc Tạ (huyện Tuy An); hốc Bà Beo, gộp Hòa Lợi (huyện Sông cầu); hang Thuồng Luồng, gộp Hòn Huệnh (huyện Sơn Hòa), hốc Bà Chiền (huyện Đồng Xuân)... Các hang, gộp, hốc là nơi đứng chân của nhiều cơ quan, đơn vị, kho tàng, bệnh viện... trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.
Các con sông ở Phú Yên đều phát nguồn từ dãy núi Trường Sơn ở phía tây, đèo Cù Mông ở phía bắc và đèo Cả ở phía nam: sông Bàn Thạch, sông Hinh, sông Cà Lúi, sông Cầu, sông Krông Năng, sông Con, sông Đồng Bò, sông Thá... Trong đó, đáng chú ý là sông Ba (còn gọi là sông Đà Rằng) dài 360km chảy qua địa bàn tỉnh 90km, là con sông lớn của miền Trung, có diện tích lưu vực 13.220km2, chủ yếu tập trung ở Gia Lai, Kon Tum.
Phần diện tích lưu vực nằm ở Phú Yên là 2.420km2, chiếm 18,3%. Ngoài ra còn có sông Kỳ Lộ, sông lớn thứ hai ở Phú Yên có chiều dài 120km, phần nằm trong tỉnh là 76km. Do hướng chính của các sông là tây bắc - đông nam hoặc tây - đông nên dọc theo bờ biển có nhiều cửa sông. Đường sá có mật độ cầu khá lớn, trung bình 2km có 1 cầu.
Suối ở Phú Yên có mật độ tương đối dày, đặc biệt là các huyện miền núi và vùng núi của những huyện đồng bằng. Đáng chú ý là suối Bà Năm, suối Bà Bông (huyện Sông Cầu); suối Cay, Đồng Dài, Đồng Sa (huyện Tuy An); suối Cái, suối Muồng (huyện Phú Hoà). Mật độ sông, suối dày tạo điều kiện thuận lợi lớn cho lực lượng ta trú quân, sản xuất, sinh hoạt. Sông, suối nhiều cũng góp phần chia cắt địa hình, đường giao thông khi bị đánh phá cầu, cống. Những năm đầu kháng chiến chống thực dân Pháp, ta phá hủy hầu hết các cầu để ngăn chặn xe cơ giới địch. Từ năm 1949, nhân dân Phú Yên lại sửa chữa các cầu tạm và các đường quốc lộ, tỉnh lộ, đường sắt để bộ đội cơ động đánh giặc và phục vụ sản xuất.
Thời tiết Phú Yên có 2 mùa rõ rệt. Mùa khô từ tháng 1 đến tháng 8. Mùa mưa từ tháng 9 đến tháng 12, tập trung vào 2 tháng cao điểm (tháng 10 và tháng 11). Thời tiết có ảnh hưởng nhất định đến kế hoạch hoạt động quân sự của ta và địch.
Thiên nhiên tạo cho Phú Yên một hệ thực vật, động vật phong phú không những cung cấp lương thực, thực phẩm cho bộ đội và nhân dân mà còn cung cấp nhiều vị thuốc quý để chữa bệnh.
Là một tỉnh nằm trên trục đường giao thông Bắc - Nam, Phú Yên có hệ thống đường bộ khá phát triển. Ngoài tuyến đường sắt, Phú Yên có quốc lộ 1A dài 124km chạy xuyên qua các thị xã Sông Cầu, huyện Tuy An, thành phố Tuy Hòa, huyện Đông Hòa nối liền Phú Yên với các tỉnh trong cả nước. Quốc lộ 25 dài 168km (phần qua Phú Yên dài 68km), từ thành phố Tuy Hòa đi Tây Nguyên, giao nhau với quốc lộ 14 trên địa bàn tỉnh Gia Lai. Đường Quy Nhơn - Sông cầu dài 30km chạy dọc bờ biển từ thành phố Quy Nhơn (Bình Định) vòng tránh đèo Cù Mông vào thị xã Sông Cầu, tỉnh lộ ĐT645 nối liền với vùng Tây Nguyên rộng lớn. Mạng lưới đường của 8 huyện, thị trong tỉnh nối liền đến tất cả các xã trên tất cả các vùng; đường ô tô đến tận trung tâm các xã.
Dân số Phú Yên tính đến năm 2009 (1-4-2009) là 861.993 người. Có 30 thành phần tộc người sinh sống, trong đó chủ yếu là người Việt (Kinh) chiếm 93%, Trong 30 thành phần tộc người kể trên, cư dân Việt, Chăm, Êđê, Bana, Hoa là những tộc người đã sinh sống lâu đời. Các tộc người khác do chuyển cư, di cư hoặc quan hệ hôn nhân (chủ yếu là từ các tỉnh miền núi phía Bắc) mà đến Phú Yên cư trú. Đặc tính chung của nhân dân Phú Yên là cần cù sáng tạo trong lao động, sản xuất, sông tương thân, tương ái giàu lòng yêu nước, kiên cường, bất khuất, tin tưởng tuyệt đối vào đường lối đổi mới của Đảng, vào sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. | |
Logged
| Tự hào thay, mác búp đa Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng. Thô sơ, gian khổ đã từng Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên. |
|
|
macbupda Trung tá  Bài viết: 11970  Lính của PTL | 
| Quân dân Phú Yên góp phần quyết định đánh bại cuộc hành quân Átlăng...« Trả lời #5 vào lúc: 09 Tháng Năm, 2021, 07:46:45 pm » | II. TRUYỀN THỐNG YÊU NƯỚC CỦA NHÂN DÂN PHÚ YÊN Trải qua hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước, nhân dân Phú Yên đã góp phần xây dựng nên những truyền thống quý báu của dân tộc, trong đó nổi bật là truyền thống yêu nước, kiên cường bất khuất chống ngoại xâm.
Ngay khi thực dân Pháp xâm lược Nước ta, nhân dân Phú Yên đã nổi lên chống Pháp. Từ năm 1885, hưởng ứng chiếu Cần Vương của vua Hàm Nghi, nhiều sĩ phu yêu nước đã lãnh đạo nhân dân khởi nghĩa. Ngày 15 tháng 8 năm 1885, Lê Thành Phương cùng các sĩ phu kéo cờ khởi nghĩa tại núi Một, thôn Tân An, tổng Xuân Vinh, phủ Tuy An. Chỉ trong một thời gian ngắn, Lê Thành Phương đã chiêu tập được một lực lượng nghĩa quân khoảng vài nghìn người. Dưới khẩu hiệu “Bình Tây sát tả”, nghĩa quân chia nhau đi bắt những kẻ làm tay sai cho giặc, đánh chiếm, làm chủ thành Phú Yên nhiều ngày.
Sau khi cuộc khởi nghĩa do Lê Thành Phương khởi xướng và lãnh đạo bị thất bại (1887), phong trào chống Pháp của nhân dân Phú Yên tiếp tục với cuộc vận động cứu nước của Nguyễn Hào Sự.
Năm 1892, cũng tại miền Tây huyện Đồng Xuân, hàng nghìn nông dân các làng Phú Xuân, Phú Hội, Triêm Đức, Kỳ Lộ dưới sự lãnh đạo của ông Nguyễn Hào Sự, nổi dậy đấu tranh chống sưu thuế, chống đi lính.
Phong trào cần Vương thất bại, thực dân Pháp tăng cường đàn áp, bóc lột nhân dân. Trong tình hình đó, tại Phú Yên lại bùng lên với cuộc khởi nghĩa của Võ Trứ và Trần Cao Vân (năm 1900). Đội quân khởi nghĩa có tới 1.000 người gồm cả người Kinh, người dân tộc ít người ở Đồng Xuân, Tuy An, Sơn Hòa.
Năm 1908 dưới sự lãnh đạo của Nguyễn Hữu Dực và Lê Hanh phong trào chống sưu cao thuế nặng, chông cường hào, cổ động dùng hàng nội hóa, mở trường dạy học chữ Quốc ngữ tiếp tục bùng lên mạnh mẽ. Tuy bị đàn áp dã man, nhưng phong trào chống sưu thuế ở Phú Yên, cùng với phong trào đấu tranh khắp các tỉnh miền Trung đã làm rung động bộ máy thống trị của thực dân.
Trong hơn 20 năm, kể từ lúc thực dân Pháp đặt ách cai trị ở Phú Yên, nhân dân Phú Yên đã nổi dậy chống lại rất quyết liệt, liên tục. Nhưng do thiếu một đường lối lãnh đạo đúng đắn nên những cuộc đấu tranh đó vẫn chưa giành được thắng lợi. Tuy vậy, nó đã tô đậm truyền thông yêu nước - di sản tinh thần quý giá để nhân dân Phú Yên viết tiếp những trang sử vẻ vang trong thời đại mới.
Sau sự ra đời của một vài tổ chức yêu nước, ngày 5 tháng 10 năm 1930, tại thôn Đồng Bé, xã Xuân Long (Đồng Xuân) chi bộ Đảng tại Phú Yên được thành lập. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân Phú Yên đã kiên cường bất khuất, hăng hái tham gia các phong trào cách mạng. Cuối năm 1944, đầu năm 1945, tình hình thế giới và trong nước có những chuyển biến quan trọng. Đêm 9 tháng 3 năm 1945, Nhật đảo chính Pháp. Ngày 12 tháng 3 năm 1945, Trung ương Đảng ra chỉ thị “Nhật - Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta”. Phong trào Việt Minh phát triển mạnh mẽ ở nhiều địa phương trong tỉnh. Ngày 12 tháng 6 năm 1945, tại làng Hòa Đa, Tỉnh ủy lâm thời Phú Yên được thành lập. Các hội cứu quốc: Thanh niên, Phụ nữ, Nông dân, Công nhân ra đời dưới sự tổ chức lãnh đạo của Mặt trận Việt Minh có hàng chục nghìn quần chúng tham gia. Sau khi nhận lệnh của Xứ ủy Trung kỳ, cuộc Tổng khởi nghĩa tháng Tám năm 1945 nổ ra trên địa bàn tỉnh. Tối 24 tháng 8 năm 1945, khởi nghĩa thành công tại tỉnh lỵ Sông cầu. Chính quyền nhân dân được thành lập từ tỉnh đến khắp các huyện, xã.
Thắng lợi của cuộc khởi nghĩa giành chính quyền cách mạng trong toàn tỉnh là thắng lợi hết sức quan trọng trong lịch sử đấu tranh cách mạng lâu dài trên địa bàn Phú Yên. Đây là thắng lợi của việc kết hợp đúng đắn hai nhiệm vụ chống đế quốc và phong kiến, đoàn kết các lực lượng yêu nước, các dân tộc, trên nền tảng khối công nông liên minh. Thắng lợi của Cách mạng tháng Tám đã tạo cho nhân dân Phú Yên có một động lực mới, khí thế mới trong đấu tranh cách mạng.
Thắng lợi của Cách mạng tháng Tám năm 1945 đã đưa nhân dân ta từ một dân tộc bị nô lệ, bị áp bức nay được giải phóng, trở thành người làm chủ đất nước. Song vừa mới ra đời, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã bị chủ nghĩa đế quốc và các thế lực phản động liên kết với nhau bao vây, chống phá quyết liệt. Với danh nghĩa giải giáp quân đội Nhật, các đội quân đồng minh dồn dập kéo vào Việt Nam. Ngày 23 tháng 9 năm 1945, quân Pháp nổ súng đánh chiếm Sài Gòn, mở đầu cuộc xâm lược Việt Nam lần hai. Ngày 6 tháng 10 năm 1945, quân Pháp đổ bộ chiếm đóng thị xã Nha Trang, làm địa bàn đứng chân đánh chiếm toàn tỉnh Khánh Hoà và mở rộng ra các tỉnh Nam Trung Bộ. Cùng với cả nước, nhân dân Phú Yên bước vào cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp trong suốt 9 năm lập nên nhiều chiến công oanh liệt mà đỉnh cao là chiến thắng đánh bại bước 1 cuộc hành quân Átlăng, mở đầu kế hoạch Nava của thực dân Pháp trên địa bàn Phú Yên. | |
Logged
| Tự hào thay, mác búp đa Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng. Thô sơ, gian khổ đã từng Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên. |
|
|
macbupda Trung tá  Bài viết: 11970  Lính của PTL | 
| Quân dân Phú Yên góp phần quyết định đánh bại cuộc hành quân Átlăng...« Trả lời #6 vào lúc: 09 Tháng Năm, 2021, 07:49:58 pm » | Chương một
TÌNH HÌNH CHIẾN TRƯỜNG CẢ NƯỚC VÀ CHỦ TRƯƠNG CỦA TRUNG ƯƠNG ĐẢNG TRONG ĐÔNG XUÂN 1953-1954 I. CUỘC HÀNH QUÂN ÁTLĂNG VỚI THAM VỌNG ĐÁNH CHIẾM VÙNG TỰ DO LIÊN KHU 5 CỦA THỰC DÂN PHÁP Trải qua gần 8 năm tiến hành cuộc xâm lược nước ta, đến mùa hè năm 1953, thực dân Pháp đã đổ vào cuộc chiến tranh xâm lược Đông Dương 2.130 tỷ phơrăng. Nhưng hàng chục vạn quân viễn chinh vẫn bị giam chân ngày càng bị sa vào “đường hầm không lối thoát” trong cuộc chiến tranh xâm lược tàn bạo và bẩn thỉu. Cuộc chiến tranh hao người tốn của này không chỉ làm cho các tầng lớp nhân dân lao động Pháp - những người phải hứng chịu gánh nặng thuế khoá và binh dịch - thêm khốn khổ, mà còn làm cho giới cầm quyền Pháp ngày càng mâu thuẫn gay gắt do không giải quyết được những khó khăn chồng chất. Trong chính giới Pháp, những kẻ ngoan cố chủ trương tiếp tục cuộc chiến tranh xâm lược Đông Dương còn chiếm ưu thế, nhưng những người đứng về phía đòi chấm dứt chiến tranh ngày càng tăng. Chính phủ Pháp do Rơnê Mayơ (Réné Mayer) đứng đầu - Chính phủ thứ 18 của nước Pháp trong vòng 8 năm - mới tồn tại chưa được 4 tháng đã đứng trước nguy cơ sụp đổ. Tuy nhiên với bản chất hiếu chiến và ngoan cố, những kẻ hiếu chiến trong giới cầm quyền Pháp đã dựa vào Mỹ tiếp tục đẩy mạnh cuộc chiến tranh xâm lược.
Sau những thất bại liên tiếp trên chiến trường chính Bắc Bộ và Bắc Đông Dương, tháng 5 năm 1953, Chính phủ Pháp một lần nữa buộc phải thay thế viên chỉ huy quân sự cao nhất ở Đông Dương. Tướng Raun Xalăng bị triệu hồi; cử tướng Hăngri Nava - được coi là viên tướng tài năng nhất của nước Pháp sang làm Tổng chỉ huy đội quân viễn chinh Pháp. Sau hơn hai tháng thị sát tình hình, ngày 24 tháng 7 năm 1953, Nava đệ trình bản kế hoạch (sau này mang tên ông ta) lên Hội đồng quốc phòng Pháp và được thông qua. Đây là một kế hoạch chính trị - quân sự đầy tham vọng, là cố gắng cao nhất của giới thực dân hiếu chiến Pháp và sự viện trợ lớn nhất của Mỹ hòng đảo ngược tình thế, kết thúc chiến tranh theo điều kiện có lợi nhất cho thực dân Pháp.
Tư tưởng chủ đạo về tác chiến của kế hoạch Nava là: “Trong chiến cục 1953-1954, coi như một thời kỳ nguy hiểm, phải tránh tổng giao chiến và xây dựng khối cơ động tác chiến. Ngược lại, trong chiến cục 1954-1955, khi khối cơ động tác chiến của chúng ta (Pháp) đạt được số lương và được huấn luyện đầy đủ, ta phải tìm cách giao chiến”(1).
Nội dung chính của kế hoạch Nava bao gồm hai phần: chính trị và quân sự. Về chính trị, yếu tố hàng đầu là phải xác định rõ mục đích của cuộc chiến tranh ở Đông Dương. Nước Pháp, các chính phủ bù nhìn ở Đông Dương và Mỹ hợp thành một liên minh chống Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Mỹ coi Việt Nam Dân chủ Cộng hoà là cộng sản nên sẽ là mục tiêu của Mỹ ngăn chặn chủ nghĩa cộng sản ở Đông Nam Á. Đối với chính phủ bù nhìn (ngụy quyển) ba nước Việt Nam, Lào, Campuchia, mục đích của cuộc chiến tranh nhằm tiêu diệt “kẻ thù bên trong”, là Việt Nam Dân chủ Cộng hoà và các lực lượng kháng chiến Lào, Campuchia. Còn đối với Pháp là “ở lại Đông Dương và xây dựng một khối liên hiệp vững chắc”; muốn vậy phải có sự lãnh đạo thống nhất về chính trị và quân sự, kể cả ở Sài Gòn và Pari; phải bằng mọi cách thúc đẩy các chính phủ bù nhìn ở Đông Dương dốc sức vào cuộc chiến tranh, phải cho các chính phủ ấy (ngụy quyền) “nền độc lập rộng rãi nhất”.
Nava xác định phải tìm một lối thoát, giải quyết sự bế tắc ở Đông Dương. Lối thoát đó khó lòng là một thắng lợi bằng quân sự, mà chỉ có thể bằng chính trị, muốn vậy phải tạo nên những thắng lợi quân sự làm cơ sở cho một giải pháp chính trị. |
|
|