Quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về khởi nghĩa vũ trang toàn dân
Quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về khởi nghĩa vũ trang toàn dân

Chủ tịch Hồ Chí Minh là lãnh tụ vĩ đại của cách mạng Việt Nam, anh hùng giải phóng dân tộc, nhà văn hóa lớn, chiến sĩ xuất sắc trong phong trào cộng sản và công nhân quốc tế; Người tìm ra chân lý cứu nước và con đường giải phóng dân tộc; Người sáng lập ra Đảng Cộng sản Việt Nam, lãnh đạo nhân dân giành thắng lợi vẻ vang trong sự nghiệp giải phóng dân tộc và xây dựng chủ nghĩa xã hội. Người đã để lại một di sản tư tưởng vô cùng to lớn, trở thành nền tảng, kim chỉ nam soi sáng con đường cách mạng Việt Nam.
Khởi nghĩa vũ trang là nhân dân nổi dậy dùng vũ khí đánh đuổi quân cướp nước để giành chính quyền, là một cuộc đấu tranh về chính trị và quân sự. Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Khởi nghĩa thì phải có vũ khí. Đó là một trong những vấn đề rất quan trọng của cách mạng”(1). Tư tưởng của Người về khởi nghĩa vũ trang toàn dân chính là sự kế thừa kinh nghiệm lịch sử hàng nghìn năm đấu tranh bất khuất của dân tộc, cùng với sự tiếp thu quan điểm bạo lực cách mạng của chủ nghĩa Mác- Lênin. Để từ đó, Người vận dụng vào thực tiễn cách mạng Việt Nam, dẫn dắt toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta giành thắng lợi trong công cuộc giải phóng dân tộc.
Tháng 5/1941, Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ trì Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ 8. Hội nghị xác định nhiệm vụ giải phóng dân tộc là nhiệm vụ cấp bách nhất của cách mạng Việt Nam. Quyền lợi của bộ phận, của giai cấp được đặt dưới sự sinh tử, tồn vong nếu không giải quyết được vấn đề dân tộc giải phóng, không đòi được độc lập, tự do cho dân tộc thì quyền lợi của dân tộc đó cũng không đòi lại được. Hội nghị khẳng định rõ: “Cuộc cách mạng Đông Dương phải kết liễu bằng một cuộc khởi nghĩa võ trang”(2).
Chủ tịch Hồ Chí Minh xác định khởi nghĩa vũ trang là một cuộc khởi nghĩa bằng sức mạnh của toàn dân Việt Nam tiến hành lấy liên minh công nông làm lực lượng nòng cốt. Trong bài viết Kính cáo đồng bào (6/6/1941), Người đã kêu gọi các bậc phụ huynh, các bậc hiền huynh chí sĩ, các bậc phú hào yêu nước thương nòi, các bạn công, nông, binh, thanh niên, phụ nữ, công chức, tiểu thương hãy nêu cao truyền thống yêu nước, đoàn kết toàn dân đánh đuổi Pháp – Nhật, ai là người Việt Nam đều phải kề vai gánh vác việc cứu nước giành độc lập tự do. Người chỉ rõ: “Trong lúc này quyền lợi dân tộc giải phóng cao hơn hết thảy. Chúng ta phải đoàn kết lại đánh đổ bọn đế quốc và bọn Việt gian đặng cứu giống nòi ra khỏi nước sôi lửa nóng… giành tự do độc lập” và “Việc cứu quốc là việc chung.
Ai là người Việt Nam đều phải kề vai gánh vác một phần trách nhiệm: Người có tiền góp tiền, người có của góp của, người có sức góp sức, người có tài năng góp tài năng”(3). Bức thư vạch rõ tình cảnh khổ nhục của nhân dân dưới ách thống trị của thực dân Pháp và phát xít Nhật, đồng thời Người ca ngợi những tấm gương của các bậc tiền bối trong cuộc đấu tranh giành quyền độc lập, tự do. Có thể nói tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh thể hiện trong bài viết Kính cáo đồng bào, cũng như trong các văn kiện của Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương Đảng (5/1941) là sự tiếp nối và phát triển cao của tư tưởng độc lập tự do và đại đoàn kết toàn dân của Người được nêu lên trong các tác phẩm Bản án chế độ thực dân Pháp (1925), Đường cách mệnh (1927) và các văn kiện chính trị của Hội nghị thành lập Đảng (1930). Đây là sự phát triển sáng tạo về tư tưởng, lý luận và thực tiễn về cách mạng giải phóng dân tộc.
Ngoài ra, Người còn chủ trương tuyên truyền vận động giác ngộ quần chúng phát triển lực lượng chính trị rộng rãi lập các đoàn thể cứu quốc, Mặt trận Việt Minh. Trên cơ sở đó lựa chọn những người ưu tú, thành lập các đội tự vệ, tổ du kích cứu quốc, lực lượng vũ trang quần chúng để kết hợp đấu tranh chính trị với đấu tranh vũ trang, huy động sức mạnh toàn dân tộc đứng lên khởi nghĩa vũ trang. Đây là bước phát triển mới trong tư duy của Người về lực lượng vũ trang và khởi nghĩa vũ trang, đặt nền tảng để toàn dân Tổng khởi nghĩa giành chính quyền.
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ con đường giành chính quyền phải bằng một cuộc khởi nghĩa vũ trang.
Khởi nghĩa vũ trang là “nhân dân nổi dậy dùng vũ khí đánh đuổi quân cướp nước để giành chính quyền. Đó là một cuộc đấu tranh về chính trị và quân sự, là việc quan trọng làm đúng thì thành công làm sai thì thất bại”(4). Vấn đề quan trọng là phải có đường lối chiến lược và sách lược cách mạng đúng đắn, đặc biệt là phải chuẩn bị lực lượng, tạo thời cơ và nắm vững thời cơ cách mạng. Từ thực tiễn lịch sử dân tộc, Hồ Chí Minh đã phân tích các cuộc khởi nghĩa trước đó chưa thành công vì hai nguyên nhân: Một là, vì cơ hội chưa chín. Hai là, vì nhân dân chưa đồng tâm hiệp lực. Năm 1944, khi quyết định đình chỉ cuộc khởi nghĩa từng phần của Cao – Bắc – Lạng, Người phân tích trong nước nhiều nơi chưa sẵn sàng khởi nghĩa, vũ khí còn phân tán, thiếu một lực lượng nòng cốt. Trước tình hình đó, nếu phát động chiến tranh du kích thì sẽ thất bại, vì bọn đế quốc tập trung lực lượng đàn áp. Người chỉ rõ lúc này thời kỳ cách mạng phát triển hòa bình đã qua nhưng thời kỳ khởi nghĩa toàn dân chưa đến. Nếu chỉ hoạt động trong vùng chính trị thì không đủ để đẩy mạnh phong trào cách mạng đi tới. Nhưng nếu phát động khởi nghĩa thì sẽ bị quân địch làm cho nguy khốn.
Từ đó, Người đã đề ra phương châm kết hợp hình thức đấu tranh chính trị và quân sự để đẩy mạnh phong trào, tạo điều kiện tới khởi nghĩa vũ trang. Người căn dặn: Chủ trương phát động chiến tranh du kích ở Cao – Bắc – Lạng chưa căn cứ vào tình hình cụ thể trong cả nước, mới thấy bộ phận mà chưa thấy toàn cục, thời kỳ cách mạng hòa bình phát triển đã qua, nhưng thời kỳ toàn dân khởi nghĩa chưa tới.
Năm 1945, sau khi quân phát xít Đức và Ý bại trận, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhắc nhở về tính chủ động của cuộc cách mạng giải phóng dân tộc: “Lúc này thời cơ thuận lợi đã tới, dù hy sinh tới đâu, dù phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn cũng phải kiên quyết giành cho được độc lập”(5). Quá trình thực hiện cuộc Cách mạng Tháng Tám năm 1945 là sự kết hợp chặt chẽ giữa đấu tranh chính trị với đấu tranh vũ trang, giữa phát triển phong trào quần chúng xây dựng căn cứ địa cách mạng, chuẩn bị lực lượng chính trị và vũ trang nhạy bén, chớp đúng thời cơ phát động nhân dân cả nước vùng dậy tiến hành tổng khởi nghĩa giành chính quyền về tay nhân dân.
Về phương thức tiến hành khởi nghĩa, Hồ Chí Minh nêu rõ: “Ở các nước Âu Mỹ, cuộc khởi nghĩa thường hay bắt đầu từ những cuộc bãi công chính trị rồi mới tiếp đến các cuộc võ trang bạo động. Ở Đông Dương khởi nghĩa có thể bùng ra ở một vài nơi rồi lan dần khắp nước. Khởi nghĩa bùng ra ở nơi nhiều rừng núi tiện cho lối đánh du kích”(6). Trong phong trào đấu tranh kháng Nhật cứu nước năm 1940 đến năm 1945, phong trào đấu tranh kháng Nhật được đẩy mạnh từ sau Hội nghị Ban Thường vụ Trung ương Đảng họp từ ngày 09 đến ngày 12/03/1945, trong lúc Nhật làm cuộc đảo chính hất cẳng Pháp ở Đông Dương. Hội nghị đã nhận
định: Cuộc đảo chính sẽ tạo ra một tình thế khủng hoảng chính trị sâu sắc, đẩy nhanh tới thời cơ nổ ra Tổng khởi nghĩa. Hội nghị nêu khẩu hiệu “Đánh đuổi phát xít Nhật” thay cho khẩu hiệu “Đánh đuổi Nhật – Pháp” đồng thời phát động cao trào “chống Nhật, cứu nước”, gấp rút chuẩn bị về mọi mặt để tiến tới tổng khởi nghĩa giành chính quyền. Hội nghị kết thúc bằng việc ra Chỉ thị: Nhật – Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta. Chỉ thị đã có tác dụng chỉ đạo rất kịp thời đối với các địa phương và phong trào cách mạng của quần chúng. Sau Hội nghị, phong trào chống phát xít Nhật nổi lên mạnh mẽ. Từ cuối tháng 03-1945, cách mạng Việt Nam đã trở thành cao trào. Những cuộc khởi nghĩa từng phần liên tiếp nổ ra ở nhiều địa phương, các căn cứ cách mạng được thành lập. Trong khoảng từ tháng 04 đến tháng 06/1945, các lực lượng vũ trang được thống nhất thành Việt Nam Giải phóng quân, khu giải phóng Việt Bắc ra đời, Uỷ ban nhân dân cách mạng các cấp được thành lập đã đẩy tới cao trào cứu nước, tạo tiền đề thắng lợi cho Cách mạng Tháng Tám năm 1945.
Từ kinh nghiệm thực tiễn các cuộc khởi nghĩa vũ trang ở các nước, nhất là kinh nghiệm đấu tranh chống Nhật của nhân dân Trung Quốc, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã xác định rõ vị trí chiến lược của chiến tranh du kích trong thời kỳ khởi nghĩa giành chính quyền. Trong bài Cách đánh du kích (01/01/1941), Người viết: “Chuyến này chúng ta vũ trang khởi nghĩa đánh Tây – Nhật, chính dùng lối du kích mà đánh. Biết đánh du kích thế nào cũng thắng lợi”(7).
Người nói du kích là đánh úp hay đánh lén, đánh lúc kẻ thù không ngờ, không phòng, là cách đánh giặc của dân tộc bị áp bức chống đế quốc. Ngoài ra, Người còn căn dặn muốn đánh thắng du kích cần phải có con đường chính trị đúng, phải dựa trên cơ sở quần chúng, phải có tổ chức vững chắc và nghiêm mật, phải có một lối đánh rất tài giỏi. Du kích là cách chiến tranh của dân chúng dùng khí giới ít và kém chống với đế quốc có khí giới tốt và nhiều. Khởi nghĩa thắng lợi hay không, một phần là do du kích tổ chức vững hay không, phát triển có rộng rãi hay không. Kết hợp đấu tranh chính trị với đấu tranh vũ trang thực hiện khởi nghĩa từng phần đã tạo nên các căn cứ cách mạng, các khu giải phóng, chuẩn bị căn cứ địa tiến lên tổng khởi nghĩa.
Tháng 8 năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết Thư kêu gọi Tổng khởi nghĩa kêu gọi toàn thể đồng bào “không thể chậm trễ”, “Toàn quốc đồng bào hãy đứng dậy đem sức ta mà tự giải phóng cho ta”(8). Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công chính là biểu hiện sinh động của tư tưởng Hồ Chí Minh về nghệ thuật khởi nghĩa vũ trang giành chính quyền, xây dựng một chính quyền hợp hiến của dân, do dân và vì dân, ra mắt quốc dân và thế giới. Tiếp đó, về đối nội, khẩn trương củng cố chính quyền nhân dân các cấp, tổ chức tổng tuyển cử, lập Chính phủ chính thức, xây dựng Hiến pháp, thi hành ngay các chính sách kinh tế – xã hội thiết thực, mang lại lợi ích cho nhân dân, phát triển lực lượng vũ trang, xây dựng và mở rộng Mặt trận đoàn kết dân tộc để tập hợp lực lượng quần chúng. Về đối ngoại, đã thực hiện một số chính sách ngoại giao đúng đắn và sáng tạo, thêm bạn bớt thù, khẳng định vị thế Việt Nam trên trường quốc tế, tranh thủ sự đồng tình ủng hộ của thế giới.
Thắng lợi của cuộc tổng khởi nghĩa Tháng Tám năm 1945 khẳng định tính đúng đắn, sáng tạo, chủ động của chủ tịch Hồ Chí Minh về nghệ thuật chỉ đạo từ khởi nghĩa từng phần, giành thắng lợi ở các địa phương, tiến lên tổng khởi nghĩa giành chính quyền trên phạm vi cả nước. Trong đó, hình thức khởi nghĩa từng phần là khâu trung gian chuyển tiếp lên tổng khởi nghĩa. Đây chính là hình thức vận động mang tính đặc thù, quy luật khởi nghĩa vũ trang giành chính quyền cách mạng đã thành công ở Việt Nam.
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã cống hiến trọn đời cho cách mạng, nhân dân và Tổ quốc Việt Nam, Người đã vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác- Lênin vào hoàn cảnh cụ thể của Việt Nam, giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội kết hợp truyền thống tốt đẹp của dân tộc Việt Nam với tư tưởng cách mạng của giai cấp công nhân, kết hợp chặt chẽ chủ nghĩa yêu nước với chủ nghĩa quốc tế vô sản, đề ra đường lối đúng đắn, đưa cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Quan điểm của Hồ Chí Minh về khởi nghĩa vũ trang toàn dân không
chỉ là ngọn cờ dẫn dắt nhân dân giành thắng lợi trong cách mạng và kháng chiến chống thực dân, đế quốc xâm lược mà còn là ánh sáng soi đường cho công cuộc bảo vệ Tổ quốc.



