Quan điểm Hồ Chí Minh về nhân cách người chiến sĩ quân đội nhân dân
Quân đội nhân dân Việt Nam là lực lượng vũ trang nòng cốt của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, có trách nhiệm bảo vệ tổ quốc, giữ vững độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ. Ngay từ những ngày đầu thành lập Quân đội, Chủ tịch Hồ Chí Minh rất quan tâm đến xây dựng, giáo dục và rèn luyện quân đội nhân dân từ tổ chức đến phương châm hành động, quan hệ giữa đội quân chủ lực và các lực lượng vũ trang địa phương.
Trong xây dựng Đội Việt Nam Tuyên truyền giải phóng quân (tiền thân của Quân đội nhân dân Việt Nam ngày nay), Chủ tịch Hồ Chí Minh yêu cầu phải có đầy đủ các thành phần dân tộc, vùng miền, người địa phương nào cũng có để nhằm phục vụ cho hoạt động sau này được thuận lợi. Người nói: “Phải dựa chắc vào dân thì không kẻ địch nào tiêu diệt được ta”(1).
Người căn dặn đồng chí Võ Nguyên Giáp nhiều điều sâu sắc từ những ngày đầu thành lập đội quân giải phóng như dùng hình thức vũ trang để gây ảnh hưởng cách mạng sâu rộng trong quần chúng; Tác chiến đội quân phải nhằm gây được ảnh hưởng tốt về chính trị do đó mà mở rộng cơ sở, phát triển lực lượng vũ trang. Tuy lúc đầu quy mô còn nhỏ nhưng tiền đồ rất vẻ vang. Đó là khởi điểm của giải phóng quân, có thể đi suốt từ Nam chí Bắc, khắp đất nước Việt Nam. Khi thời cơ tổng khởi nghĩa giành chính quyền đã tới, với tinh thần yêu nước sẵn có, với ý chí độc lập dân tộc cao hơn bao giờ hết, đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân dưới sự lãnh đạo của Ủy ban Dân tộc giải phóng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã cùng toàn thể nhân dân Việt Nam, triệu người như một, nhất tề đứng lên, đem sức ta mà tự giải phóng cho ta. Cuộc Tổng khởi nghĩa Tháng Tám năm 1945 đã nhanh chóng thắng lợi trong cả nước, vai trò nòng cốt của lực lượng vũ trang cách mạng đã sớm được khẳng định.
Trong Buổi chiêu đãi mừng quân đội ta 20 tuổi (22-12-1964), Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khen ngợi bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương, dân quân tự vệ trong cả nước đã lập nhiều thành tích và có nhiều tiến bộ trong học tập, công tác, chiến đấu và sản xuất. Người chỉ ra những phẩm chất đã trở thành chuẩn mực của bộ đội ta đó là: “Trung với Đảng, hiếu với dân, sẵn sàng chiến đấu hy sinh vì độc lập tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội. Nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng”(2). Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, “Trung” đối với chiến sĩ quân đội là trung thành tuyệt đối với Tổ quốc, với nhân dân, với cách mạng và Đảng là người sinh thành, và rèn luyện đội ngũ quân đội từng bước trưởng thành.
Lòng trung thành đó thể hiện ở tinh thần quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh, vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội, vì sự nghiệp bảo vệ Đảng, bảo vệ chính quyền và thành quả cách mạng. Còn chữ “Hiếu” đó là tinh thần tận tụy phục vụ nhân dân. Là người chiến sĩ thì dù cấp bậc cao hay thấp, dù ở cương vị nào cũng đều phải cố gắng xứng đáng là người đầy tớ trung thành và tận tụy của nhân dân.
Quân đội ta là quân đội nhân dân, từ dân mà nên, vì nhân dân mà chiến đấu cho nên bộ đội ta đánh giặc là vì nhân dân, có trách nhiệm phụng sự nhân dân. Chỉ có giữ gìn truyền thống “Trung với Đảng, hiếu với dân” thì mới giúp cho người chiến sĩ quân đội xác định đúng mục tiêu chiến đấu, phân biệt rõ bạn và thù, kiên định với lập trường giai cấp, đoàn kết tốt, kỷ luật nghiêm và luôn hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao.
Chủ tịch Hồ Chí Minh coi đạo đức cách mạng là gốc của nhân cách người chiến sĩ. Người yêu cầu, chiến sĩ quân đội phải rèn luyện những phẩm chất đạo đức tốt đẹp như cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư; nghiêm túc tự phê bình và phê bình, không chủ quan kiêu ngạo, có ý thức lo trước thiên hạ, vui sau thiên hạ, nói đi đôi với làm và là người chiến sĩ để mọi người noi gương. Đồng thời, kiên quyết đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân, tham ô lãng phí, quan liêu phải xử lý, kỷ luật thật nghiêm. Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn có tài mà không có đức thì trở nên vô dụng, thậm chí có hại, còn có đức mà không có tài thì làm việc gì cũng khó. Do đó, xây dựng, rèn luyện đạo đức cách mạng là nhiệm vụ suốt đời của người chiến sĩ.
Nhân dân là cội nguồn sức mạnh của quân đội, giúp quân đội trưởng thành, chiến đấu và chiến thắng mọi kẻ thù, cho nên quân đội phải gắn bó chặt chẽ với nhân dân như máu thịt của mình. Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Quân đội ta là quân đội nhân dân. Nghĩa là con em ruột thịt của nhân dân. Đánh giặc để tranh lại độc lập thống nhất cho Tổ quốc, để bảo vệ tự do hạnh phúc của nhân dân. Ngoài lợi ích của nhân dân, Quân đội ta không có lợi ích nào khác”(3). Trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (năm 1954 – 1975), theo đường lối chính trị, đường lối quân sự độc lập tự chủ, đúng đắn sáng tạo của Đảng và chân lý “Không có gì quý hơn độc lập, tự do” của Chủ tịch Hồ Chí Minh, lớp lớp cán bộ, chiến sĩ quân đội đã không quản ngại khó khăn, gian khổ, hy sinh, nêu cao tinh thần đoàn kết, gắn bó máu thịt với nhân dân để giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước. Như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ dạy: “Quân và dân như cá với nước, đoàn kết một lòng, học hỏi, giúp đỡ lẫn nhau”(4). Đoàn kết gắn bó mật thiết với nhân dân là bản chất cao đẹp của chiến sĩ quân đội. Chính từ sự kính trọng, yêu thương, giúp đỡ nhân dân đã hình thành nên hình ảnh cao đẹp “Bộ đội Cụ Hồ” -những người lính giản dị, gần gũi được nhân dân tin yêu, che chở và đùm bọc. Bộ đội Cụ Hồ, cái tên thân yêu mà nhân dân đã quen gọi, là biểu tượng tinh thần sẵn sàng hy sinh vì độc lập của Tổ quốc, tự do cho nhân dân, làm nòng cốt cho toàn dân đánh giặc trong thời chiến, giúp nhân dân tăng gia sản xuất nâng cao đời sống vật chất trong thời bình, cứu giúp nhân dân trong hoạn nạn, sẵn sàng nhường cơm sẻ áo khi nhân dân gặp bão lũ thiên tai… Nói đến Bộ đội Cụ Hồ là nói đến những gì đẹp đẽ, giản dị nhưng lại rất cao thượng, tiêu biểu cho phẩm chất cao đẹp, cốt cách mẫu mực tuyệt vời về người chiến sĩ cách mạng có đạo đức trong sáng, thực hiện xuất sắc chỉ thị, những lời căn dặn và niềm tin sâu sắc của Bác Hồ kính yêu.
Hồ Chí Minh đặc biệt chú trọng xây dựng quân đội có kỷ luật nghiêm minh và tổ chức cao, coi đó là động lực giữ sức mạnh dựa trên tinh thần tự giác, tuyệt đối phục tùng mệnh lệnh, cá nhân phục tùng tổ chức. Trong bài nói chuyện tại Hội nghị tổng kết chiến dịch Lê Hồng Phong II, họp từ ngày 23 đến ngày 28-10-1950 tại Lam Sơn, tỉnh Cao Bằng, Người nhấn mạnh: “Mệnh lệnh cấp trên đưa xuống thì phải tuyệt đối phục tùng và triệt để thi hành”(5). Người dạy các chiến sĩ bộ đội các cấp đều phải giữ kỷ luật. Phải kiểm thảo từ dưới lên, từ trên xuống. Cấp nào cũng phải kiểm thảo. Phải làm cho tất cả mọi người đội viên, cũng như cán bộ chiến sĩ đều thấm nhuần, thì mới có kết quả.
Tính kỷ luật trong quân đội đòi hỏi đảm bảo tính tập trung, chính xác, tinh thần chấp hành triệt để vô điều kiện để thực hiện tốt nhất mệnh lệnh, chỉ thị của đơn vị, của tổ chức. Đảm bảo kỷ luật trong quân đội là sự tuân thủ nghiêm ngặt và chính xác Hiến pháp, pháp luật Nhà nước, điều lệnh, điều lệ, chế độ quy định của cấp trên nhằm đảm bảo cho mọi hoạt động của quân đội, từng đơn vị trên mọi lĩnh vực được thống nhất, phát huy trí tuệ, tài năng tạo thành sức mạnh quân đội để thực hiện thắng lợi nhiệm vụ. Người khẳng định tầm quan trọng của kỷ luật quân đội “là nền tảng thắng lợi trong cuộc kháng chiến kiến quốc”. Bên cạnh đó phải một lòng kiên quyết chống lại thói hư tật xấu nhằm tạo ra quân đội chính quy tinh nhuệ sẵn sàng chiến đấu.
Cùng với rèn luyện đạo đức cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn căn dặn bộ đội phải không ngừng học tập, rèn luyện, nâng cao trình độ văn hóa, chính trị, quân sự để trở thành quân đội “văn hay võ giỏi”. Trong Thư khen ngợi toàn thể bộ đội khu II và khu III về thành tích xóa nạn mù chữ ngày 24-02-1948, ngay sau cách mạng Tháng Tám thành công, Người khẳng định: “Một quân đội văn hay võ giỏi, là một quân đội vô địch” (6), quân đội không chỉ giỏi chiến đấu mà còn phải nâng cao hiểu biết văn hóa, chính trị. Người nhấn mạnh “học mãi để tiến bộ mãi”, “học đi đôi với hành”, nâng cao bản lĩnh chiến đấu và trình độ chiến thuật.
Sự học hỏi là vô cùng cho nên đã biết đọc biết viết thì phải gắng sức học thêm, học làm tính, học chính trị, học lịch sử, học khoa học thường thức và gắng học cao hơn nữa, không được xao nhãng việc học tập. Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ dẫn cụ thể cán bộ chiến sĩ: “Cần tiếp tục học tập nâng cao giác ngộ xã hội chủ nghĩa. Có nâng cao giác ngộ xã hội chủ nghĩa thì sau này mới tránh được nhiều sai lầm khác. Tiếp tục học tập nâng cao lập trường tư tưởng và trình độ kỹ thuật của mình. Kỹ thuật hiện nay càng ngày càng tiến, không gắng học tập thì sẽ lạc hậu. Phải cố gắng xây dựng được nền nếp chính quy trong đơn vị. Có người nói: “Trước ta chẳng chính quy gì cũng đánh thắng!”. Không đúng. Tình thế ngày một tiến. Trước là thời kỳ khác, nay là thời kỳ khác. Quân đội ta nhất định phải tiến từng bước lên chính quy và hiện đại”(7). Người thường xuyên gửi thư, gửi điện thăm hỏi, khích lệ động viên các phong trào huấn luyện, học tập của cán bộ, chiến sĩ quân đội. Người dậy muốn trở thành người quân nhân mới, xứng đáng với vinh hạnh đứng trong đội quân nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa thì mỗi chiến sĩ ở các cấp bậc đều phải nghiên cứu, học tập luôn luôn cầu tiến bộ.
Với luận điểm “Quân đội mạnh là nhờ giáo dục khéo, nhờ chính sách đúng và nhờ kỷ luật nghiêm”(8) Hồ Chí Minh đã vận dụng một cách sáng tạo quan điểm của các nhà kinh điển Mác-Lênin về vai trò giáo dục đối với sự phát triển của con người trong xã hội vào trong môi trường quân đội nhân dân Việt Nam. Luận điểm này còn phản ánh một yêu cầu vừa cấp bách, vừa lâu dài trong việc xây dựng quân đội trong mọi giai đoạn cách mạng. Trong lúc cuộc kháng chiến chống Pháp còn gay go quyết liệt. Người đã khẳng định: “Huấn luyện là một công việc rất cần.
Tục ngữ có câu: “Không thầy đố mày làm nên” và câu “Học ăn, học nói, học gói, học mở”(9). Người dặn những việc dễ dàng còn phải học huống chi những công việc cách mạng, công việc kháng chiến không có huấn luyện thì không thể thành công. Người còn nhắc: “Phải tăng cường công tác quân sự, trước hết phải luôn luôn xem trọng việc huấn luyện bộ đội. Phải ra sức bồi dưỡng cán bộ, phải rèn luyện tư tưởng, nâng cao trình độ giác ngộ chính trị cũng như trình độ chiến thuật và kỹ thuật của cán bộ. Đó là khâu chính trong các thứ công tác”(10).
Quan điểm Hồ Chí Minh về nhân cách người chiến sĩ quân đội nhân dân Việt Nam là một hệ thống tư tưởng khoa học, toàn diện và có giá trị bền vững. Theo Người nhân cách của người chiến sĩ được hình thành trên nền tảng đạo đức cách mạng trong sáng, thể hiện ở lòng trung thành tuyệt đối với Tổ quốc, với Đảng và sự gắn bó máu thịt với nhân dân. Bên cạnh đó, người chiến sĩ phải có ý thức tổ chức, kỷ luật nghiêm minh, tinh thần đoàn kết, yêu thương đồng chí, đồng đội và ý chí sẵn sàng chiến đấu, hy sinh vì độc lập, tự do của dân tộc. Đồng thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh yêu cầu mỗi chiến sĩ không ngừng học tập, rèn luyện, nâng cao trình độ chính trị, quân sự, khoa học kỹ thuật để trở nên “vừa hồng vừa chuyên”. Việc quán triệt và vận dụng đúng đắn quan điểm của Người không chỉ góp phần xây dựng quân đội nhân dân Việt Nam ngày càng chính quy, tinh nhuệ, hiện đại mà còn giữ gìn, phát huy những giá trị cao đẹp của hình ảnh “Bộ đội Cụ Hồ” đáp ứng yêu cầu bảo vệ vững chắc Tổ quốc trong tình hình mới.
Chú thích:
1. Võ Nguyên Giáp: Từ nhân dân mà ra, Nxb, Quân đội nhân dân, Hà Nội 1969, tr.130-133
2, 4. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, H.2011, tập 14, tr.435
3, 8. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, H.2011, tập 7, tr.334, tr.483
5. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, H.2011, tập 6, tr.457
6, 9. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, H.2011, tập 5, tr.470, tr.287
7. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, H.2011, tập 10, tr.588
10. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, H.2011, tập 8, tr.29



