Cựu chiến binh

quân đội nhân dân Việt Nam phần 41

đảo Gạc Ma, Trường Sa

Phú Thọ27/03/2026Ban Biên tập tổng hợp3 lượt xem0 lượt chia sẻ

Bối cảnh sự kiện

Quần đảo Trường Sa nằm ở giữa Biển Đông trải trên một khu vực biển khá rộng chiều ngang từ đông sang tây khoảng 800 km chiều dọc từ Bắc xuống Nam khoảng 600 km. Quần đảo bao gồm hơn 100 đảo, bãi cạn, bãi đá ngầm với khoảng 140 vị trí.
Đầu năm 1986, Trung Quốc bắt đầu đưa các tàu quân sự giả dạng tàu cá xuống trinh sát các bãi đá ngầm, lén lút đặt một số cột bê - tông để “đánh dấu chủ quyền”. Ngày 3/9/1987 Quốc hội Trung Quốc thông qua văn bản tách đảo Hải Nam khỏi tỉnh Quảng Đông, thành lập tỉnh Hải Nam và trắng trợn sát nhập quần đảo Hoàng Sa (họ đặt tên là Tây Sa) và Trường Sa (họ gọi là Nam Sa) của Việt Nam vào tỉnh Hải Nam.
Sau đó hải quân Trung Quốc liên tục cho tàu chiến giả dạng tàu dân sự để khảo sát, trinh sát thăm dò quần đảo Trường Sa nhằm âm mưu xâm chiếm các đảo chìm. Trong các tháng 10 và 11/1987, Trung Quốc đưa Hải Dương 4, tàu trinh sát đội lốt tàu nghiên cứu khoa học và một số tàu chiến đi qua các đảo An Bang, Thuyền Chài, Trường Sa Đông, Trường Sa, Song Tử Tây; có lúc các tàu này vào sát đảo của Việt Nam ở khoảng cách 1 hải lý.

Ngày 6/11/1987, Bộ Quốc phòng Việt Nam giao nhiệm vụ cho Bộ Tư lệnh Quân chủng Hải quân đưa lực lượng ra giữ các bãi cạn, trước mắt đóng giữ các điểm đảo Đá Tây, Chữ Thập, Đá Lớn, Tiên Nữ.

Ngày 22/1/1988, Trung Quốc đưa 1 tàu hộ vệ tên lửa, 1 tàu khu trục, 1 tàu đổ bộ, 1 tàu chở dầu và một số tàu hậu cần xuống phía Nam; ngày 26/1/1988, hải quân Trung Quốc chiếm đóng Đá Chữ Thập rồi nhanh chóng đưa lực lượng xuống củng cố thành căn cứ đầu cầu ở Trường Sa. Ngày 18/2, Trung Quốc chiếm thêm đá Châu Viên, rồi sau đó đưa lực lượng lên các bãi ngầm Ga Ven (26/2), Tư Nghĩa (Hughes, 28/2). Trong khi đó, hải quân Việt Nam đóng giữ thêm các bãi ngầm và đá Tiên Nữ (26/1), Đá Lát (5/2), Đá Lớn (6/2), Đá Đông (18/2), Tốc Tan (27/2), Núi Le (2/3).

Đầu tháng 3/1988, Hải quân Trung Quốc huy động lực lượng lớn thuộc 2 hạm đội Nam Hải và Đông Hải xuống khu vực quần đảo Trường Sa, nâng số tàu chiến có mặt ở đây từ 9 lên 12 chiếc; ngoài ra còn có 3 tàu vận tải, 1 tàu đo đạc, 1 tàu kéo, 1 phao bè (ponton) lớn với ý đồ nhằm chiếm giữ cụm tam giác 3 bãi ngầm Gạc Ma – Cô Lin – Len Đao.

Mặc dù điều kiện phương tiện, trang bị của Hải quân nhân dân Việt Nam ở vùng IV thời điểm đó chủ yếu là tàu vận tải, sức chở hạn chế, hỏa lực yếu nhưng Bộ Tư lệnh Quân chủng vẫn hạ quyết tâm đóng giữ cụm tam giác Gạc Ma - Cô Lin - Len Đao.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn
quân đội nhân dân Việt Nam phần 41 | Câu chuyện thời hoa lửa