Khác

QUÂN KHU 4 LỊCH SỬ KHÁNG CHIẾN CHỐNG MỸ, CỨU NƯỚC (1954-1975)

Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược kết thúc thắng lợi, Hiệp định Giơ-ne-vơ được ký kết, song nhiệm vụ giải phóng dân tộc của cách mạng Việt Nam chưa hoàn thành trọn vẹn. Đất nước ta tạm chia làm hai miền. Khu 4 là địa bàn trực tiếp chịu sự chia cắt đó.

25/02/2026Ban Biên tập tổng hợp2 lượt xem0 lượt chia sẻ

Quảng Trị, Thừa Thiên - nam vĩ tuyến 17 còn chịu ách thống trị của đế quốc Mỹ và tay sai của chúng. Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình và huyện Vĩnh Linh (Quảng Trị) – bắc vĩ tuyến 17 được hoàn toàn giải phóng.

Từ đó, quân và dân Khu 4 cùng lúc làm cả hai nhiệm vụ chiến lược của cách mạng Việt Nam trong giai đoạn mới. Quảng Trị, Thừa Thiên vừa làm nhiệm vụ giải phóng miền Nam, vừa làm nhiệm vụ bảo vệ miền Bắc xã hội chủ nghĩa, trực tiếp là Quân khu 4. Các tỉnh phía bắc quân khu vừa làm nhiệm vụ xây dựng, bảo vệ miền Bắc xã hội chủ nghĩa, vừa làm nhiệm vụ hậu phương cho cách mạng miền Nam, trực tiếp là Trị - Thiên - Huế.

Để phù hợp với ý đồ chiến lược chung, những năm đầu của thời kỳ kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, phần bắc vĩ tuyến 17, từ Vĩnh Linh đến Nghệ An được tổ chức thành Quân khu 4, có Đảng ủy và Bộ Tư lệnh quân khu, đặt dưới sự lãnh đạo và chỉ huy trực tiếp của Quân ủy Trung ương và Bộ Tổng tư lệnh
1. Quảng Trị, Thừa Thiên là phân khu Bắc, thuộc Khu 5, do Khu ủy Khu 5 và Bộ Tư lệnh Quân khu 5 lãnh đạo, chỉ huy.

Đến giữa năm 1966, thực hiện chủ trương chiến lược của Trung ương, chiến trường phía nam quân khu có sự thay đổi lớn: Khu ủy, Quân khu Trị - Thiên (B4) và mặt trận Đường số 9 – bắc Quảng Trị (B5) được thành lập. Quân khu Trị - Thiên, do Khu ủy Trị - Thiên lãnh đạo, về mặt quân sự chịu sự chỉ đạo, chỉ huy trực tiếp của Quân ủy Trung ương và Bộ Tổng tư lệnh. Mặt trận Đường số 9 - bắc Quảng Trị, do Bộ Tư lệnh Quân khu 4 phụ trách, trực tiếp là Bộ Tư lệnh tiền phương của quân khu.

Từ năm 1968 đến năm 1972, trên hướng đường số 9 - bắc Quảng Trị, Khu ủy và Quân khu ủy Trị - Thiên chỉ đạo mọi mặt, nhưng khi mở những chiến dịch tác chiến quy mô lớn như: chiến dịch Đường 9 - Khe Sanh (1968), chiến dịch Đường 9 - Nam Lào (1971) và chiến dịch giải phóng Quảng Trị (1972) đều do Bộ Tổng tư lệnh trực tiếp chỉ huy.

Sau chiến thắng Quảng Trị năm 1972, mặt trận B5 đã hoàn thành nhiệm vụ và nhập vào Quân khu Trị - Thiên. Toàn bộ chiến trường Trị - Thiên được thống nhất do Khu ủy và Quân khu Trị - Thiên trực tiếp chỉ đạo, chỉ huy.

Ngoài việc lãnh đạo, chỉ huy lực lượng vũ trang quân khu trên hai chiến trường trong nước, Quân khu ủy và Bộ Tư lệnh Quân khu 4 còn chỉ huy lực lượng tình nguyện Việt Nam ở chiến trường Trung Lào và Hạ Lào trong một thời gian dài.

Xuất phát từ vị trí có tầm quan trọng chiến lược, do yêu cầu nhiệm vụ, nên ở địa bàn Quân khu 4 (miền Nam cũng như miền Bắc) không chỉ có lực lượng địa phương mà luôn có những đơn vị chủ lực của Bộ, của nhiều quân chủng, binh chủng trực tiếp chiến đấu và lực lượng của các địa phương khác trên miền Bắc chi viện tích cực. Suốt 21 năm chống Mỹ, cứu nước, tiền tuyến - hậu phương Quân khu 4 đã thực hiện các nhiệm vụ chiến lược sau:

- Mười năm đầu của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954 - 1964), quân và dân Quân khu 4 tập trung khắc phục hậu quả chiến tranh, cải cách ruộng đất, chống cưỡng ép di cư, tiến hành cải tạo xã hội chủ nghĩa, khôi phục và phát triển kinh tế; ra sức xây dựng thực lực, củng cố hòa bình, sẵn sàng chiến đấu bảo vệ tuyến đầu miền Bắc xã hội chủ nghĩa, làm nhiệm vụ hậu phương trực tiếp cho cách mạng miền Nam, xây dựng hành lang chiến lược phối hợp cùng bạn Lào tiến công mở thế; chuẩn bị thế trận đánh bại những bước leo thang ra miền Bắc của đế quốc Mỹ.

Ở Trị - Thiên - Huế, đây là thời kỳ chuyển thế đấu tranh, giữ gìn lực lượng, tập trung đánh bại các âm mưu, thủ đoạn "tố cộng, diệt công", "bình định” tàn khốc của Mỹ - Diệm; chuẩn bị mọi mặt tiến lên đồng khởi ở miền núi, nông thôn, đồng bằng.

Bốn năm tiếp theo (1965 - 1968), thời kỳ cả tiền tuyến và hậu phương quân khu đã trở thành địa bàn đọ sức quyết liệt với chiến lược "chiến tranh cục bộ" của đế quốc Mỹ. Hậu phương chuyển hẳn vào thời chiến, đánh bại các bước leo thang chiến tranh phá hoại bằng không quân và hải quân của địch. Tiền tuyến chuyển sang một thời kỳ mới vô cùng sôi động. Sự ra đời của Quân khu Trị - Thiên và mặt trận Đường số 9 - bắc Quảng Trị, thu hút kìm chân gần một phần ba lực lượng quân viễn chinh Mỹ, tạo nên một thế mới, lực mới có lợi cho ta trên toàn bộ chiến trường. Là thời kỳ của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân, 25 ngày đêm đánh địch phản kích giữ thành phố Huế, 170 ngày đêm vây hãm Khe Sanh làm chấn động nước Mỹ, và cũng là thời kỳ đế quốc Mỹ thực hiện thủ đoạn "ném bom hạn chế" cực kỳ thâm độc, hòng bẻ gãy "cán xoong", ''bóp nghẹt cuống họng", ngăn chặn sự chi viện từ hậu phương ra tiền tuyến.

Giai đoạn từ 1969 - 1972, tranh thủ lúc Mỹ phải "xuống thang" trong cuộc chiến tranh phá hoại, Quân khu 4 ra sức củng cố và bảo vệ hậu phương, chi viện đắc lực chiến trường; Trị - Thiên khôi phục lại thế chiến lược ba vùng, tham gia đánh bại cuộc hành quân Lam Sơn 719 - bước thí điểm chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh" của đế quốc Mỹ trên chiến trường Đường số 9 - Nam Lào. Tiếp tục phát triển thế tiến công, năm 1972, quân và dân ta mở chiến dịch Quảng Trị, đập tan một trong những tuyến phòng thủ mạnh nhất của địch ở chiến trường miền Nam, giải phóng Quảng Trị, góp phần tích cực làm chuyển biến tương quan lực lượng, buộc đế quốc Mỹ phải ký kết Hiệp định Pa-ri, tạo điều kiện cho cách mạng miền Nam bước sang một giai đoạn mới.

Từ năm 1973 đến năm 1975 là giai đoạn toàn quân khu khẩn trương chuyển thế, chuyển lực, chống lấn chiếm, phá "bình định", giữ vững và cải thiện thế trận, chi viện đắc lực cho chiến trường trực tiếp, dồn sức cho chiến trường toàn miền Nam; tiến công giải phóng Trị - Thiên - Huế, cùng cả nước giành thắng lợi quyết định, giải phóng hoàn toàn miền Nam, tiến tới thống nhất Tổ quốc; đồng thời làm hậu thuẫn vững chắc, hỗ trợ quân và dân Lào nổi dậy tiến công giành toàn bộ chính quyền, giải phóng đất nước.

Qua những năm chống Mỹ, cứu nước, trên địa bàn Khu 4, từ Tam Điệp đến Hải Vân, từng thời kỳ theo ý đồ chiến lược được phân chia cụ thể về tổ chức chiến trường, về chỉ đạo chỉ huy, có Quân khu 4, Quân khu Trị - Thiên, một trận Đường số 9... Nhưng về mục đích, nhiệm vụ chính trị, cũng như sức mạnh tổng hợp được phát huy, thực chất là một chiến trường thống nhất, Thanh, Nghệ, Tĩnh - Bình, Trị, Thiên là một, nam – bắc vĩ tuyến 17 là một.

Trong 21 năm của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, địa bàn Quân khu 4 vừa mang cả tính chất hậu phương, tiền tuyến, vừa là một trong những địa bàn tổ chức thực hiện sự liên minh chiến đấu của hai nước Việt - Lào trong công cuộc chống kẻ thù chung, giải phóng đất nước và phòng thủ bào vệ độc lập chủ quyền của từng nước.

Quân khu 4, sớm hình thành, tích tụ, và cũng sớm đương đầu với những thử thách mới của đất nước sau khi có Hiệp định Giơ-ne-vơ; nơi trực tiếp đọ sức quyết liệt với quân thù, chịu đựng biết bao hy sinh, để chiến đấu và chiến thắng. Và đây, cũng là nơi thể hiện sức mạnh tổng hợp của chiến tranh nhân dân Việt Nam được phát triển cao: kết hợp giữa đấu tranh vũ trang với đấu tranh chính trị; kết hợp giữa phong trào đấu tranh của quần chúng cách mạng với hoạt động tác chiến của lực lượng vũ trang địa phương và tác chiến hiệp đồng binh chủng của các binh đoàn chủ lực cơ động trong những thời điểm có tính chiến lược quyết định.


*

* *


Với những đặc điểm, tính chất vừa nêu, việc tái hiện chuẩn xác, sinh động toàn cảnh cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước trên địa bàn Quân khu 4 trong một tập lịch sử là việc làm hết sức khó khăn, đòi hỏi sự cố gắng nỗ lực về công tác chỉ đạo và tổ chức biên soạn.

Cảm ơn các đồng chí cán bộ lãnh đạo, chỉ huy cũ của Quân khu - những người đã từng giữ những trọng trách trên các hướng chiến trường trong thời kỳ đánh Mỹ; cảm ơn các đồng chí cán bộ các địa phương trong quân khu, các cơ quan Bộ Quốc phòng, đơn vị hữu quan và đặc biệt là Viện Lịch sử quân sự Việt Nam... đã động viên, chỉ đạo, giúp đỡ nhiệt tình chúng tôi trong quá trình biên soạn tập sách này. Cảm ơn Nhà xuất bàn Quân đội nhân dân đã tạo điều kiện để sách ra mắt bạn đọc.

Mặc dầu tập thể tác giả đã có nhiều cố gắng, song do việc lưu giữ, xử lý tư liệu và khả năng thể hiện còn nhiều hạn chế, nên lần đầu tiên đến với bạn đọc, cuốn sách khó tránh khỏi những sai, sót. Rất mong được sự đóng góp của các đồng chí và các bạn.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn