Nhân chứng trực tiếp tham gia các sự kiện lịch sử

Quân khu 4 - Lịch sử kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945-1954)

Trong cả hai cuộc chiến tranh chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, Quân khu 4 giữ một vị trí chiến lược rất quan trọng. Ở vào Bắc Trung Bộ, trên một dải đất hẹp, Quân khu 4 đông giáp biển là nơi đế quốc có ưu thế về hải quân, nam giáp Quân khu 5 với quân cảng Đà Nẵng, tây giáp Thượng, Trung Lào với các đường giao thông chiến lược 7, 8, 9, 217; bắc nối liền với chiến trường Bắc Bộ; lại có cố đô Huế — một trung tâm chính trị và văn hóa mà đế quốc và bọn tay sai luôn luôn muốn sử dụng để làm bộ mặt c

Lai Châu03/07/2026Quân đội nhân dân (xã nậm mạ)2 lượt xem0 lượt chia sẻ
Với vị trí và hoàn cảnh đó, quân và dân Quân khu 4 có nhiệm vụ rất nặng và phải chiến đấu rất quyết liệt. Trong giai đoạn đầu của chiến tranh chống Pháp, Quân khu 4 tự lực tự cường, phát triển chiến tranh du kích giành dân giữ đất, phá tề diệt địch, xây dựng lực lượng vũ trang, giúp cách mạng Lảo và phối hợp với các chiến trường khác. Trong giai đoạn cuối kháng chiến chống Pháp, cùng với cuộc chiến tranh nhân dân phát triển vùng sau lưng địch, Quân khu 4 là căn cứ xuất phát của bộ đội chủ lực tiến công địch, giải phóng đại bộ phận Trung, Hạ Lào, đồng thời đóng góp sức người, sức của chi viện chiến trường Bắc Bộ, đặc biệt là tham gia phục vụ chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ.

Trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, Quân khu 4 là một trong những chiến trường ác liệt nhất. Chiến đấu chống địch chiếm đóng và càn quét ở Trị — Thiên — Huế, đánh bại tuyến đường phòng ngự dày đặc và hiện đại của quân đội Mỹ ở vĩ tuyến 17, đánh bại các cuộc phản công của địch ra đường số 9 — Nam Lào, tiến công địch ở Khe Sanh và bảo vệ thành cổ Quảng Trị, đánh bại chiến tranh phá hoại bằng không quân và hải quân địch ra vùng hậu phương phía bắc, xẻ dọc Trường Sơn xây dựng hành lang vận chuyển Bắc Nam, bảo vệ cửa ngõ đường Hồ Chí Minh và cuối cùng tham gia cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1975 lịch sử. Cũng từ địa bàn Quân khu 4, quân đội ta phối hợp với Quân giải phóng nhân dân Lào giải phóng Cánh Đồng Chum và đại bộ phận Trung, Hạ Lào, tạo nên một vùng giải phóng rộng lớn cho cách mạng Lào...

Quân khu 4 là nơi đọ sức ác liệt nhất giữa hai lực lượng chiến tranh: một bên là quân và dân ta — kể cả các đơn vị chủ lực cơ động chiến lược và các quân binh chủng kỹ thuật của Bộ Tổng tư lệnh, một bên là lực lượng tinh nhuệ được trang bị hiện đại nhất của lục, hải, không quân Pháp, Mỹ và tay sai, là nơi đọ sức giữa tinh thần và ý chí “Cảm tử cho Tổ quốc quyết sinh” của quân và dân ta chống lại các thủ đoạn dã man tàn bạo nhất của đế quốc. Trong kháng chiến chống Mỹ Quân khu 4 là nơi đối đầu giữa chế độ xã hội chủ nghĩa ưu việt ở miền Bắc và chế độ thực dân mới ở miền Nam, thể hiện một nước Việt Nam thu nhỏ: tiền tuyến và hậu phương; giải phóng miền Nam, bảo vệ miền Bắc và nhiệm vụ quốc tế, chiến tranh nhân dân địa phương phát triển cao và tác chiến của các binh đoàn chủ lực, lần lượt đánh bại các thủ đoạn của địch, góp phần quan trọng vào thắng lợi của cả nước và của hai nước Lào — Cam-pu-chia.

Trong cuộc chiến đấu một mất một còn với quân thù, dưới sự lãnh đạo của Đảng quang vinh và của Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại, quân và dân Quân khu 4, già trẻ, gái trai, trong vùng tạm bị địch chiếm cũng như ở vùng tự do, bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương cũng như dân quân du kích, đã phát huy lòng yêu nước thiết tha, quyết chiến và quyết thắng, vận dụng kinh nghiệm đấu tranh phong phú và lao động dũng cảm cần cù, cùng cả nước, vì cả nước hoàn thành nhiệm vụ lịch sử. Cả quân khu là một pháo đài, mỗi làng xã, mỗi đoạn đường, mỗi cánh đồng là một trận địa, toàn dân là chiến sĩ. Những câu ca dao như: «Rừng Thông, cầu Bố đang lo, chị lo tập gánh, anh lo tập thồ», «Nhà tan cửa nát cũng ừ, đánh thắng giặc Mỹ cực chừ sướng sau», «Xe chưa qua, nhà không tiếc», «Tiếng hát át tiếng bom»... là những biểu hiện cao đẹp của lòng yêu nước và ý chí quyết thắng. Hàng chục vạn thanh niên nam nữ lên đường nhập ngũ và thanh niên xung phong phục vụ chiến đấu trên khắp chiến trường Trung — Nam — Bắc, ở Lào và Cam-pu-chia. Toàn dân vừa chiến đấu, vừa sản xuất, vừa xây dựng chủ nghĩa xã hội và củng cố hậu phương... cuộc chiến đấu thật vô cùng phong phú, toàn diện. Biết bao mảnh đất, dòng sông, con người ở đây đã đi vào lịch sử. Trong kháng chiến chống Pháp Quân khu 4 tự hào đã có Bình —Trị — Thiên bất khuất, chiến khu Hòa Mỹ, làng chiến đấu Cự Nẫm, Cảnh Dương, có anh hùng Lâm Úy, Cao Thế Chiến... Trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, Quản khu 4 lại có Trị — Thiên — Huế tiến công nổi dậy, anh dũng, kiên cường, đường số 9 — Khe Sanh, Vĩnh Linh lũy thép, Quảng Bình hai giỏi, Gianh, Xuân Sơn, Long Đại, Đồng Lộc, Bến Thủy, Hàm Rồng, có mẹ Suốt, Nguyễn Viết Xuân... mãi mãi là những điển hình tiêu biểu, đẹp đẽ được cả nước cổ vũ.

Lịch sử kháng chiến của quân và dân Khu 4 cũng như lịch sử kháng chiến toàn quốc là lịch sử của chủ nghĩa anh hùng cách mạng, là lịch sử đoàn kết và đấu tranh của toàn dân, toàn quân dưới sự lãnh đạo của Đảng và của Hồ Chủ tịch, là lịch sử và kinh nghiệm chiến tranh toàn dân, toàn diện, quyết đánh và biết đánh. Đó cũng là lịch sử và kinh nghiệm về mối quan hệ giữa hậu phương và tiền tuyến, giữa tiền tuyến và hậu phương, giữa nhiệm vụ dân tộc và nhiệm vụ quốc tế. Trân trọng lịch sử và kinh nghiệm đó, không những là ghi nhớ công lao của quân và dân quân khu trong kháng chiến cứu nước mà quan trọng hơn nữa là góp phần bồi dưỡng thế hệ hiện tại và tương lai. Bài học lịch sử của Quân khu 4 và của toàn quốc sẽ giúp chúng ta và cả thế hệ mai sau «ôn cố tri tân» phát huy ưu điểm, khắc phục khuyết điểm, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trên địa bàn quân khu trong giai đoạn mới.

*

* *
Dưới sự chỉ đạo chặt chẽ của Đảng ủy và Bộ Tư lệnh Quân khu, được sự giúp đỡ của Viện Lịch sử quân sự Bộ Quốc phòng và sự đóng góp của các đồng chí lão thành đã từng lãnh đạo và chỉ huy trên chiến trường quân khu, phòng lịch sử quân sự Quân khu 4 đã có sự cố gắng lớn để thu thập tài liệu và biên soạn cuốn lịch sử này. Tất nhiên cuộc kháng chiến toàn dân toàn diện kéo dài hơn 30 năm và vô cùng phong phú, nhiều sự kiện lịch sử và bài học quý giá chưa nói đầy đủ. Nhưng cuốn «Quân khu 4 — Lịch sử kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược» (1945—1954) đã phần nào đáp ứng yêu cầu cấp thiết của bạn đọc. Mong các đồng chí cán bộ lão thành, các nhà nghiên cứu lịch sử và đông đảo bạn đọc bổ sung và đóng góp nhiều ý kiến.

Ngày 19 tháng 5 năm 1989
Thượng tướng: TRẦN VĂN QUANG

Logged

chuongxedap

Đại tá
*
Bài viết: 13633


Re: Quân khu 4 - Lịch sử kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945-1954)« Trả lời #2 vào lúc: 17 Tháng Chín, 2024, 09:15:46 pm »

LỜI NÓI ĐẦU
Khu 4 thuộc bắc Trung Bộ, gần cửa ngõ phía nam thủ đô Hà Nội, nằm ở phía tây Thái Bình Dương, cùng chung dải Trường Sơn hùng vĩ với nước bạn Lào anh em. Địa thế dài và hẹp dần về phía nam, Bình-Trị-Thiên là nơi dễ bị chia cắt chiến lược. Do đó địa bàn có vị trí hết sức quan trọng nên trong chiến tranh giải phóng dân tộc hay trong chiến tranh bảo vệ Tổ quốc, Khu 4 có nhiệm vụ chiến lược: vừa hậu phương, vừa tiền tuyến, vừa làm nhiệm vụ dân tộc, vừa làm nhiệm vụ quốc tế.

Trong cuộc chiến tranh 30 năm chống xâm lược của dân tộc, Khu 4 là nơi đụng đầu lịch sử giữa hai chế độ: dân chủ nhân dân và chủ nghĩa thực dân cũ trong kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa thực dân mới trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước,

Dưới sự lãnh đạo của Đảng, phát huy sức mạnh to lớn của chiến tranh nhân dân, tiến hành cuộc chiến tranh toàn dân toàn diện và lâu dài, quân và dân Khu 4 anh dũng kiên cường, chịu đựng mọi gian khổ, ác liệt, hy sinh, nêu cao truyền thống đấu tranh cách mạng của đội du kích «Chiến khu Ngọc Trạo» (Thanh Hóa) lịch sử, truyền thống “Xô-viết Nghệ-Tĩnh” anh hùng, truyền thống «Bình—Trị—Thiên bất khuất» đã góp phần đánh thắng thực dân Pháp, đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai.

Qua 30 năm tiến hành chiến tranh nhất là thời kỳ chống Mỹ, cứu nước là thời kỳ sôi động nhất, hào hùng nhất, quyết liệt nhất, quân và dân Khu 4 đã có những đóng góp to lớn hết mình, những hy sinh lớn lao, góp phần xứng đáng đánh thắng đế quốc Mỹ, giải phóng Trị—Thiên—Huế, giải phóng miền Nam, bảo vệ miền Bắc, thống nhất Tổ quốc. Cũng như quân và dân cả nước, quân và dân Khu 4 chiến đấu hết sức anh hùng, hoàn thành xuất sắc các nhiệm vụ chiến lược Đảng giao, chứng minh hùng hồn đường lối chính trị, đường lối quân sự đúng đắn, sáng tạo của Đảng, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại và sức mạnh vô địch của chiến tranh nhân dân.

Chấp hành Nghị quyết của Quân ủy Trung ương và Chỉ thị của Bộ Quốc phòng về tổng kết chiến tranh và biên soạn lịch sử quân sự. Thường vụ Đảng ủy, Bộ Tư lệnh Quân khu đã tổ chức viết cuốn “Quân khu 4 — Lịch sử kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược” nhằm ghi lại lịch sử hào hùng của cuộc chiến tranh 30 năm chống ngoại xâm của dân tộc trên địa bàn chiến lược Khu 4, rút ra những bài học kinh nghiệm về xây dựng lực lượng, về chỉ đạo chiến tranh, về nghệ thuật quân sự, đồng thời đúc kết và làm sáng rõ truyền thống yêu nước, cách mạng của nhân dân, bản chất tốt đẹp của các lực lượng vũ trong nhân dân trong quân khu để góp phần tích cực trong công tác tuyên truyền, giáo dục các thế hệ hiện tại và mai sau về lòng yêu nước, ý chí quyết chiến, quyết thắng, kinh nghiệm xây dựng và chiến đấu, đẩy mạnh công tác phòng thủ của quân khu, bảo vệ vững chắc Tổ quốc xã hội chủ nghĩa.

Quá trình biên soạn, chúng tôi được sự chỉ đạo của Bộ Quốc phòng, trực tiếp là Viện Lịch sử quân sự, sự đóng góp nhiều ý kiến quý báu của các đồng chí lãnh đạo chỉ huy cũ, các địa phương, các chiến trường thuộc địa bàn quân khu, sự giúp đỡ của Nhà xuất bản Quân đội nhân dân, sự hợp tác khoa học của Ban Lịch sử Đảng, Thông sử, các ngành của các tỉnh, sự giúp đỡ tận tình của các cơ quan lưu trữ tư liệu: Văn phòng Trung ương Đảng, Văn phòng Phủ Thủ tướng, K4 Bộ Quốc phòng, đông đảo cán bộ, nhân dân trong quân khu.

Chúng tôi xin chân thành cảm ơn tất cả sự giúp đỡ quý báu đó.

Cuốn “Quân khu 4 — Lịch sử kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược” biên soạn trong hoàn cảnh có nhiều khó khăn về nguồn tư liệu, trình độ người viết còn hạn chế, nên cuốn sách chắc chắn còn thiếu sót, chúng tôi mong bạn đọc góp ý kiến phê bình để khi có điều kiện cuốn sách xuất bản lần thứ hai được hoàn chỉnh hơn và rút kinh nghiệm viết về “Quân khu 4 - lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước” được tốt hơn.

THƯỜNG VỤ ĐẢNG ỦY QUÂN KHU
TƯ LỆNH QUÂN KHU

Logged

chuongxedap

Đại tá
*
Bài viết: 13633


Re: Quân khu 4 - Lịch sử kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945-1954)« Trả lời #3 vào lúc: 17 Tháng Chín, 2024, 09:39:47 pm »

CHƯƠNG MỞ ĐẦU

ĐỊA BÀN CHIẾN LƯỢC
TRUYỀN THỐNG YÊU NƯỚC VÀ CÁCH MẠNG

Từ nguồn gốc xa xưa, cách đây ba mươi vạn năm với di tích Núi Đọ (đồ đá cũ), cách đây năm, sáu nghìn năm với di tích văn hóa Quỳnh Văn, Bàu Tró (đồ đá mới) và sau đó cách đây khoảng ba nghìn năm với những chiếc trống đồng Đông Sơn, dải đất từ Tam Điệp đến đèo Hải Vân đã nằm trong cái nôi sản sinh ra dân tộc Đại Việt.

Theo thời gian của tiến trình lịch sử, từ thời đại các Vua Hùng dựng nước suốt 4.000 năm giữ nước nối tiếp nhau, các Châu Ái, Hoan, Diễn, Tân Bình, Thuận Hóa (tên gọi các tỉnh Liên khu 4 ngày xưa) đã từng là chốn biên thùy (tiền tuyến chiến đấu) và là nơi «phên dậu» (hậu phương căn cứ địa), nơi xuất phát của các cuộc khởi nghĩa và chiến tranh giữ nước của dân tộc Việt Nam.

Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, nhân dân ta bước vào cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, xuất phát từ yêu cầu tổ chức bố trí thế chiến lược trên chiến trường toàn quốc, Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh quyết định tổ chức các chiến khu quân sự. Các tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên được tổ chức thành Chiến khu 4 có các tên gọi khác nhau: «Chiến khu 4», «Khu 4», «Liên khu 4». Với Bình—Trị—Thiên là tiền tuyến, Thanh Nghệ—Tĩnh là hậu phương.

Kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, theo Hiệp định Giơ-ne-vơ về Việt Nam năm 1954 thì vĩ tuyến 17 chỉ được coi là giới tuyến quân sự tạm thời. Từ vĩ tuyến 17 trở ra thuộc miền Bắc được hoàn toàn giải phóng, đi lên xã hội chủ nghĩa. Từ vĩ tuyến 17 trở vào thuộc miền Nam bị chủ nghĩa thực dân mới là đế quốc Mỹ thống trị. Đất nước tạm thời bị chia cắt, có giới tuyến quân sự tạm thời và Khu 4 là nơi tạm thời chịu sự chia cắt đó.

Trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước Khu 4 được tổ chức lại chiến trường: Khu vực Vĩnh Linh và các tỉnh Quảng Bình, Hà Tĩnh, Nghệ An thuộc Quân khu 4 (Thanh Hóa thuộc Quân khu 3), bắc Quảng Trị vào Thừa Thiên— Huế thuộc Khu 5 (1954 — 1965), từ 1966 đến 1975 thành lập Quân khu Trị Thiên. Cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước thành công, nước nhà hoàn toàn độc lập và thống nhất, Quân khu 4 được thống nhất lại gồm Thanh Hóa, Nghệ Tĩnh, Bình - Trị — Thiên1.

Khu 4 ở bắc Trung Bộ, nằm về phía nam thủ đô Hà Nội, bên bờ tây Thái Bình Dương, trải dài từ Dốc Xây (Tam Điệp) đến đèo Hải Vân dài 524 ki-lô-mét, từ 16,20 đến 20,3 độ vĩ bắc, từ 103,5 đến 108,10 độ kinh đông, cùng chung dãy núi Trường Sơn với nước bạn Lào anh em, có đường biên giới 1.162 ki-lô-mét. Bắc giáp tỉnh Sơn La (Quân khu 2), Hà Sơn Bình, Hà Nam Ninh (Quân khu 3), nam giáp tỉnh Quảng Nam — Đà Nẵng (Quân khu 5). Bờ biển dài 662 ki-lô-mét, thềm lục địa rộng 76.000 ki-lô-mét vuông. Tổng diện tích tự nhiên 52.062 ki-lô-mét vuông, với ba phần tư là vùng rừng núi. Diện tích canh tác trên 700.000 héc-ta. Địa thế dài và hẹp dần về phía nam, nơi rộng nhất là Nghệ Tĩnh 207 ki-lô-mét, nơi hẹp nhất là Bình—Trị—Thiên 50 ki-lô-mét, do đó Bình—Trị— Thiên là nơi đã diễn ra các thời kỳ bị chia cắt chiến lược. Địa hình phức tạp, núi rừng hiểm trở, độ dốc nghiêng về phía đông, nhiều dãy núi cao từ 2.000 mét đổ xuống đều xuất phát từ dãy Trường Sơn trải dài xuống trung du, đồng bằng ven biển. Nhiều dãy núi liên tiếp dọc ngang tạo thành thế «thiên hiểm» trong công cuộc tổ chức phòng thủ đất nước.

Hệ thống sông ngòi đều bắt nguồn từ tây Tây Bắc chảy xuôi về hướng đông đông nam như sông Chu, sông Mã (Thanh Hóa), sông Lam, sông La (Nghệ Tĩnh), sông Gianh, Nhật Lệ, Kiến Giang, Thạch Hãn, sông Bồ, sông Hương (Bình - Trị - Thiên) tạo nên nhiều vùng đồng bằng trù phú và hệ thống đường thủy nội địa, tạo sự chia cắt chiến trường.

Khu 4 ở vào vùng nhiệt đới gió mùa, lượng mưa trung bình trên dưới 2.000 mi-li-mét một năm, có vùng 3.000 mi-li-mét một năm như Kỳ Anh (Hà Tĩnh), Hải Vân (Bình - Trị - Thiên), vùng thấp dưới 800 mi-li-mét một năm như Cửa Rào, Mường Xén (Nghệ Tĩnh), lượng mưa không đều tập trung nhất vào các tháng 8, 9, 10 bởi những cơn bão từ Biển Đông tràn vào, thường gây nên lũ lụt lớn, làm tổn hại nặng nề cho sản xuất và đời sống của nhân dân. Thông thường Thanh Hóa mưa sớm, Bình - Trị - Thiên mưa muộn, vì vậy mùa mưa ở Khu 4 kéo dài đến tháng 12 mới kết thúc.

Thời tiết hình thành hai mùa rõ rệt: mùa nóng từ tháng 5 đến tháng 10, kèm theo gió tây nam khô nóng, nhiệt độ trung bình từ 30 đến 35 độ C, có vùng có lúc lên đến 40 độ C, lượng bốc hơi lớn, hạn hán kéo dài. Mùa lạnh từ tháng 11 năm trước đến cuối tháng 3 năm sau, trùng với gió mùa đông bắc gây nên nhiều đợt mưa dầm, rét đậm kéo dài, nhiệt độ trung bình từ 15 đến 20 độ C, vùng núi có lúc xuống 0 độ C.

Những đặc điểm về khí hậu, thời tiết trên ảnh hưởng rất lớn đến sản xuất và đời sống của nhân dân, đồng thời cũng ảnh hưởng lớn đến những hoạt động quân sự.

Mạng lưới giao thông vận tải trên địa bàn Khu 4 tuy chất lượng chưa cao nhưng đa dạng, có giá trị về kinh tế và quốc phòng. Tuyến đường sắt Bắc-Nam qua địa bàn Khu 4 dài 619 ki-lô-mét, có 60 ga lớn nhỏ, phần lớn chạy dọc đồng bằng song song với đường số 1A. Ngoài ra còn có một vài tuyến đường sắt phụ: Bỉm Sơn đi nhà máy Xi măng Bỉm Sơn (Thanh Hóa), Cầu Giát đi Nghĩa Đàn, Vinh đi Cửa Lò, Vinh - Bến Thủy (Nghệ Tĩnh). Đường 1A chạy dọc ven biển, qua vùng đồng bằng đông dân, vượt qua các đèo cao sát biển (đèo Ngang, Lý Hòa, Phước Tượng, Phú Gia), qua nhiều cầu, phà (Hàm Rồng, Bến Thủy, sông Gianh, Quán Hầu).

Đường 15A từ Vạn Mai chạy dọc Trường Sơn qua các điểm chốt Quan Hóa, Triệu Sơn, Nghĩa Đàn, Đô Lương, Đức Thọ, Tuyên Hóa, Bãi Hà, Hướng Hóa, A Lưới, Bù Lạch, Khâm Đức vào Tây Nguyên, là trục đường chính của đường Hồ Chí Minh, cùng với các tuyến đường 15B. 22A, B... tạo nên mạng lưới giao thông vận tải chiến lược suốt cả thời kỳ chống Mỹ, cứu nước.

Các trục đường ngang từ ven biển, đồng bằng lên miền tây sang nước bạn Lào gồm: đường 217 từ Đồng Tâm (Thanh Hóa) đi Na Mèo, nối với Bắc Lào. Đường số 7 từ ngã ba Diễn Châu (Nghệ Tĩnh) lên Nậm Cắn sang đường số 13. Đường số 8 từ nga ba Bãi Vọt qua Hương Sơn (Nghệ Tĩnh) lên Na Pê —Lạc Xao. Đường số 12 từ Thanh Lạng (Tuyên Hóa) vượt cổng trời lên Ba-na-phào. Đường số 9 từ Đông Hà qua Lao Bảo (Bình —Trị — Thiên) sang Xà-vẳn-nạ-khẹt. Cùng với hệ thống đường thủy trên các sông ngòi lớn nhỏ, dọc ngang, trên kênh nhà Lê từ bắc Thanh Hóa vào Nghệ Tĩnh, đường vận tải ven biển với 11 bến cảng lớn nhỏ, có một số cảng quan trọng như Bến Thủy, Cửa Hội, Cửa Lò (Nghệ Tĩnh), Gianh, Nhật Lệ, Cửa Việt, Cửa Thuận (Bình - Trị - Thiên), giao thông trên biển có giá trị lớn về vận tải viễn dương, giao lưu quốc tế, vừa bảo vệ chủ quyền lãnh hải của đất nước và phòng thủ bờ biển Quân khu 4, có đường hàng không quân sự và dân dụng nối liền các địa phương trong quân khu với cả nước.

Hệ thống giao thông thủy bộ Khu 4 có tầm quan trọng đối với kinh tế và quốc phòng trên địa bàn các tỉnh trong quân khu, nối với cả nước và là năm trên tám tuyến đường nối với nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào đi qua trên địa bàn Khu 4.

Do điều kiện địa lý và cấu tạo địa hình nên hình thái tự nhiên các tỉnh Khu 4 hình thành ba vùng chiến lược kinh tế và quốc phòng rất quan trọng. Mỗi lúc có chiến tranh xảy ra, trên địa bàn này hình thành ra ba chiến trường và ba vùng rõ rệt.

Vùng rừng núi: Có nhiều kim loại quý (sắt, thiếc, cơ-rôm, bốc-xít, cao lanh, vàng), nhiều gỗ tốt, trữ lượng lớn và nhiều chim muông thú quý. Có thế mạnh về kinh tế lâm — nông — công nghiệp, là địa bàn có thế « thiên hiểm » về quốc phòng. Từ xa xưa cho đến nay, các vị anh hùng dân tộc đều chọn vùng rừng núi để làm nơi lập căn cứ cho các cuộc khởi nghĩa và chiến tranh giữ nước và cứu nước. Mai Thúc Loan chọn vùng Sa Nam (Nam Đàn), Lê Lợi chọn đất Lam Sơn (Thanh Hóa) làm nơi tụ nghĩa, dấy binh chống quân nhà Minh, Phan Đình Phùng chọn dãy Đăng Màn (Hương Khê)... Trong hai cuộc kháng chiến thần thánh của dân tộc, chống lại sự xâm lược của hai đế quốc to là Pháp và Mỹ, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, nhân dân ta cũng lấy vùng rừng núi để xây dựng căn cứ hậu phương chiến lược và chiến dịch.

Vùng trung du — đồng bằng: địa thế rộng ở phía bắc, hẹp dần về phía nam có nhiều sông ngòi chia cắt, địa hình đồi núi xen kẽ, các thung lũng, đồng ruộng bậc thang, lại dựa vào thế mạnh về kinh tế và quốc phòng của vùng rừng núi và tiếp cận với vùng đồng bằng ven biển trù phú, tạo nên thế mạnh về kinh tế nông — lâm — công nghiệp và thủ công nghiệp, có thuận lợi về sản xuất lương thực, thực phẩm và hàng hóa xuất khẩu, là vùng căn cứ hậu phương, vừa có ý nghĩa chiến lược, vừa là hậu phương chiến dịch cho các hướng chiến trường.

Vùng đồng bằng ven biển: có thế mạnh về kinh tế nông—ngư — công nghiệp, phát triển cả về lương thực, thực phẩm, hàng tiêu dùng và xuất khẩu. Là địa bàn có dân cư đông đúc nhất, đã được xây dựng thành các hệ thống làng xã trù phú, lâu đời với nhiều thị xã, thành phố — là trung tâm văn hóa, khoa học kỹ thuật, trung tâm của các đầu mối giao thông quan trọng cả đường bộ và đường thủy, là nơi tập trung nhân tài, vật lực cho chiến tranh qua các thời đại. Là tuyến phòng thủ bờ biển trực tiếp chống tập kích chiến lược bằng không quân, hải quân và các cuộc đổ bộ đường biển của địch trong mọi tình huống chiến tranh.

Với cấu tạo địa hình có nhiều dãy núi từ đồng bằng «xâm thực» ra biển và những núi độc lập sát bờ biển cùng với một số đảo lớn, nhỏ, cách bờ biển từ 27 đến 30 ki-lô-mét, kết hợp với hệ thống làng xã liên kết với các dãy núi sát gần mép nước tạo thế tổ chức phòng thủ bờ biển vững chắc. Trong đó có một số điểm cao và đảo có giá trị chiến dịch, chiến thuật quan trọng trong tác chiến chống đổ bộ đường biển của địch2.

Do đặc điểm địa lý và cấu tạo địa hình, Quân khu 4 vừa có miền biên giới ở rừng núi phía tây, vừa có đồng bằng ven biển và vùng biển hình thành ba vùng chiến lược liên kết và liên hoàn với nhau tạo thế cho sự nghiệp dựng nước và giữ nước trước đây cũng như sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa hiện nay.
________________________________________________
1. Sau ngày giải phóng miền Nam 1975: ba tỉnh Quảng Bỉnh, Quảng Trị, Thừa Thiên được hợp nhất thành tỉnh Bình Trị Thiên, hai tỉnh: Nghệ An, Hà Tĩnh thành Nghệ Tĩnh. Từ giữa năm 1989 Bình Trị Thiên lại được tách ra thành ba tỉnh Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên Huế.
2. Dãy Thanh Tước (giữa Thanh Hóa — Nghệ Tĩnh), dãy Thần Vũ (ở Cầu Cấm), đèo Ngang, đèo Lý Hòa, Phước Tượng, Hải Vân (Bình — Trị — Thiên)... Đảo Mê (Thanh Hóa), đảo Mắt (Nghệ Tĩnh), Cồn Cỏ (Bình — Trị — Thiên).

Logged

chuongxedap

Đại tá
*
Bài viết: 13633


Re: Quân khu 4 - Lịch sử kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945-1954)« Trả lời #4 vào lúc: 17 Tháng Chín, 2024, 09:43:58 pm »

Sau Cách mạng tháng Tám, các tỉnh Khu 4 có khoảng trên ba triệu người. Năm 1981 (theo điều tra dân số) có 7.616.000 người (3.738.548 nam, 3.877.545 nữ), riêng Nghệ Tĩnh có 3.738.500 người (đông dân thứ hai sau thành phố Hồ Chí Minh).

Mật độ dân số trung bình 144 người trên một ki-lô-mét vuông, vùng đồng bằng ven biển: 385 người trên một ki-lô-mét vuông. Thành phố, thị xã: 2.700 người trên một ki-lô-mét vuông. Vùng trung du 117 người trên một ki-lô-mét vuông. Vùng rừng núi 27 người trên một ki-lô-mét vuông. Nơi có mật độ dân số đông nhất là thị xã Hà Tĩnh 9.000 người trên một ki-lô-mét vuông. Nơi thưa dân nhất là huyện Tương Dương (Nghệ Tĩnh) 15 người trên một ki-lô-mét vuông.

Trên địa bàn Quân khu 4 có 49 dân tộc anh em, dân tộc kinh chiếm 93 phần trăm số dân, sống tập trung ở các thành phố, thị xã vùng ven biển, đồng bằng và vùng kinh tế mới ở trung du, miền núi. Đời sống nhân dân chủ yếu sống bằng nghề nông, lâm, ngư nghiệp và thủ công nghiệp. Nền công nghiệp đã có bước phát triển ở thành phố, thị xã Bỉm Sơn, Thanh Hóa, Vinh, Đồng Hới, Đông Hà, Huế. Các dân tộc ít người sống hầu hết ở miền núi trên tuyến biên giới Việt — Lào. Những dân tộc có số người đông hơn là Thái, Thổ, Mường, Mơ-nông, Mán, Vân Kiều, Pa-cô, Khơ-mú, Cà-tu, Dao... các dân tộc ít người còn tàn dư của chế độ tù trưởng, bộ tộc, phổ biến lối làm ăn du canh, du cư, trình độ văn hóa, xã hội chưa phát triển.

Các dân tộc tuy khác nhau về trình độ và phong tục tập quán nhưng có chung một truyền thống yêu nước lâu đời đoàn kết, chung lưng đấu cật, giúp đỡ nhau trong cuộc sống, cũng như trong đấu tranh.

Nhân dân Khu 4 từ xa xưa đã theo đạo Phật, nhiều đền chùa cổ kính và phật tử, sư thầy, tu sĩ còn rải rác khắp các địa phương, nhất là Huế và Thanh Hóa.

Khoảng cuối thế kỷ XVII đạo Thiên chúa đã được du nhập vào các tỉnh Khu 4, hình thành ba địa phận: Thanh Hóa, Xã Đoài (Nghệ Tĩnh), Huế (Bình — Trị — Thiên) với ba tòa giám mục, 26 địa hạt, 978 xứ họ với nhiều nhà thờ, trường đại, tiểu chủng viện. Hệ thống nhà thờ được xây dựng dọc đường giao thông quan trọng hoặc ven sông, ven biển...

Đồng bào theo đạo cùng sống trong cộng đồng dân tộc Việt Nam, có chung truyền thống yêu nước, nhưng trong từng thời điểm của lịch sử, hệ thống đạo giáo là nơi kẻ thù thường lợi dụng hoạt động phá hoại, gây một số khó khăn cho công cuộc cách mạng và kháng chiến chống xâm lược của dân tộc.

Quân khu 4 hiện nay có 64 huyện, thị xã, thành phố (có sáu thị xã và hai thành phố). Các thành phố, thị xã là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa-xã hội của các địa phương.

Thành phố Huế (Bình - Trị - Thiên) là cố đô của triều đình nhà Nguyễn. Huế có nhiều cảnh đẹp thiên nhiên, nhiều di tích lịch sử, văn hóa có giá tri. Đây cũng là nơi diễn ra những sự kiện lịch sử quan trọng và những cuộc đọ sức giữa nhân dân ta với kẻ thù dân tộc và giai cấp, nhất là trong Tổng khởi nghĩa tháng Tám năm 1945, và trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược.

Thành phố Vinh — Bến Thủy (Nghệ Tĩnh) là nơi ra đời sớm và tập trung của giai cấp công nhân Việt Nam, là trung tâm chỉ đạo của Đảng trong phong trào Xô-viết Nghệ—Tĩnh những năm 1930-1931. Trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, thành phố Vinh đã bị tàn phá nặng nề, nay đang được mở rộng và xây dựng lớn hơn.

Các thành phố, thị xã đều nằm sát biển và đều dựa vào thế núi, thế sông hoặc đầu mối các trục đường giao thông thủy, bộ có giá trị về xây dựng tuyến phòng thủ khu vực, trong phòng ngự với những cuộc chiến tranh thông thường.

Những yếu tố «thiên thời, địa lợi, nhân hòa» trên đây tạo cho Quân khu 4 thành một địa bàn chiến lược «tiến có thế công, lùi có thế giữ», ra phía bắc nối với vùng đồng bằng Bắc Bộ qua bốn cửa ngõ Thạch Yên đi Vụ Bản, Kim Tân đi Rịa, Dốc Xây đi Đồng Giao, Nga Sơn đi Phát Diệm, nối liền với Quân khu 2 qua đường 15A, Vạn Mai đi Mộc Châu, Hòa Bình. Ở phía nam nối với Quân khu 5 bởi hai cửa ngõ: Đường 1A và đường sắt vượt đèo Hải Vân, đường Hồ Chí Minh từ Bù Lạch qua Khâm Đức vào Tây Nguyên. Phía tây có dãy Trường Sơn hùng vĩ, cùng chung biên giới với sáu tỉnh phía đông nước Lào, tạo nên một địa bàn chiến lược đặc biệt quan trọng và đồng thời là cầu nối, nảy sinh từ rất sớm mối đoàn kết liên minh chiến đấu Việt — Lào.

Với vị trí chiến lược của một địa bàn trọng yếu và giàu tiềm năng như vậy, nên từ xưa tới nay mọi kẻ thù xâm lược đều tìm cách chia cắt chiến lược ở khu vực này. Chúng thường dùng những đội quân mạnh nhất, tinh nhuệ nhất mở những mũi thọc sâu, vu hồi lợi hại nhất, bất ngờ đánh chiếm các địa phương Khu 4, làm bàn đạp tiến công ra Bắc hoặc vào Nam, bao vây uy hiếp chính quyền Trung ương để đi đến thôn tính nước ta.

Do vậy, nơi đây thường diễn ra những cuộc chiến đấu quyết liệt chống ngoại xâm của quân và dân ta trong lịch sử 4.000 năm dựng nước và giữ nước của dân tộc.

Nhiều cuộc khởi nghĩa vũ trang, các cuộc chiến tranh giải phóng và chiến tranh bảo vệ Tổ quốc trong lịch sử, tùy thuộc vào tính chất, mức độ và từng giai đoạn phát triển của chiến tranh, tùy phạm vi và yêu cầu của mỗi thời kỳ lịch sử, cha ông ta đều chọn địa bàn Quân khu 4 làm căn cứ, có khi là căn cứ hậu phương chiến lược của cả nước, có khi là căn cứ hậu phương của một chiến trường, vừa chống chia cắt chiến lược vừa là địa bàn tập kết xuất phát tiến công đánh đòn quyết định, đi đến kết thúc chiến tranh.

Suốt chặng đường dài của lịch sử của dân tộc, các tỉnh thuộc Khu 4 được thiên nhiên tạo cho một tiềm năng kinh tế nông - lâm - ngư - công nghiệp phong phú, đồng thời thiên nhiên cũng rất khắc nghiệt, thử thách con người ghê gớm. Chính trong quá trình đấu tranh vật lộn với thiên nhiên đã tôi luyện cho người dân Khu 4 một nghị lực phi thường, một bản lĩnh vững vàng trước mọi gian nan thử thách, luôn luôn lạc quan yêu cuộc sống, lao động cần cù, bền gan vững chí, tinh thần chịu khó, chất phác, giản dị «ăn chắc, mặc bền», «đói sạch, rách thơm», sống có tình có nghĩa, «tương thân, tương ái», «tối lửa tắt đèn» trong tình làng nghĩa xóm.

Trong đấu tranh với kẻ thù xâm lược thì kiên trung bất khuất, giữ vững khí tiết, không bao giờ chịu khuất phục, nhưng đồng thời cũng rất nhân đạo, vị tha. Nơi đây đã sản sinh ra biết bao anh hùng hào kiệt, nhiều nhà yêu nước và cách mạng vĩ đại, nhiều tướng lĩnh tài ba đức độ, nhiều nhà văn lỗi lạc... những di tích lịch sử: Biện Sơn, Thành Nhà Hồ, Thành Lục Niên, điện đài lăng tẩm Huế... Những áng văn chương vô giá của Nguyễn Du, Nguyễn Thiếp, Hồ Xuân Hương... Suốt chiều dài lịch sử đã chứng minh rằng trên dải đất tuy «lắm nắng nhiều mưa», «lắm giông nhiều bão» này «hào kiệt thời nào cũng có».

Từ trong lao động cần cù và đấu tranh gian khổ đã nảy sinh những làn điệu dân ca mang tư chất riêng biệt, đặc thù của con người Khu 4: tiếng hò trên đất tỉnh Thanh; điệu ví đò đưa tươi duyên ở Nghệ Tĩnh; điệu hò khoan mái nhì man mác trên dòng Hương Giang, Nhật Lệ... mang đậm đà sắc thái quê hương.

Lịch sử Việt Nam nói chung, cũng như lịch sử các địa phương Khu 4 nói riêng trong hàng chục thế kỷ qua gần như là lịch sử nối tiếp nhau của các cuộc chiến đấu chống giặc ngoại xâm giành độc lập cho dân tộc, tự do cho nhân dân. Nơi đây đã từng là vùng đất của các triều dựng nghiệp khôi phục nền độc lập cho dân tộc của nhiều cuộc dấy quân (nghiệp lớn) khởi nghĩa, là địa bàn xuất phát tiến công hoặc phản công, bẻ gãy những gọng kìm của địch từ phương Nam tiến quân ra Bắc đánh bại các cuộc «Nam chinh» của giặc phong kiến phương Bắc...

Logged

chuongxedap

Đại tá
*
Bài viết: 13633


Re: Quân khu 4 - Lịch sử kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945-1954)« Trả lời #5 vào lúc: 17 Tháng Chín, 2024, 09:45:45 pm »

Trên nền tảng của sức mạnh cộng đồng các dân tộc với ý chí quật cường bất khuất, quên mình vì nghĩa lớn, với nghị lực phi thường của hàng triệu con người đã đương đầu và vượt qua khó khăn, lao động sản xuất để tồn tại và phát triển. Từ tấm lòng nhân nghĩa, khí phách anh hùng của nhân dân các dân tộc, đã sản sinh ra những con người yêu nước vĩ đại, những anh hùng hào kiệt trên nhiều lĩnh vực.

Chiến công đầu oanh liệt của Triệu Trinh Nương chống quân nhà Ngô từ thế kỷ III, đến trang sử vẻ vang của nhân dân cùng với Mai Thúc Loan đánh quân nhà Đường năm 722 tại vùng Sa Nam (Nam Đàn), cuộc tiến quân của Ngô Quyền từ Thanh Hóa ra Bắc diệt quân Nam Hán năm 938 trên sông Bạch Đằng, đập tan ách thống trị của hơn một nghìn năm Bắc thuộc, đưa nước ta bước sang «Kỷ nguyên Đại Việt» — kỷ nguyên xây dựng nền độc lập dân tộc.

Trong suốt gần một nghìn năm tiếp theo, bọn phong kiến phương Bắc lại liên tiếp sang xâm lược nước ta. Nhân dân các địa phương Khu 4 cùng với cả dân tộc đã vùng lên: phá Tống (1057 — 1077), bình Nguyên (1258 — 1288), dẹp Minh (1418 — 1427), diệt Thanh (1789), lập nên bao chiến công hiển hách: Bạch Đằng, Chi Lăng, Đống Đa, Hàm Tử...

Lịch sử còn ghi sự tích các anh hùng, tránh sĩ, hào kiệt, hiền tài kéo về đất «Lam Sơn tụ nghĩa» cùng Lê Lợi, Nguyễn Trãi mười năm «nếm mật nằm gai» để từ chiến thắng Bồ Đằng, Trà Lân (Con Cuông — Nghệ Tĩnh) xuôi về hạ thành Diễn Châu và từ đây với năm vạn quân Nghệ Tĩnh mới bổ sung, kéo ra Bắc làm nên chiến thắng Chi Lăng lịch sử, quét sạch quân Minh ra khỏi đất nước.

Khí 29 vạn quân Thanh sang xâm lược nước ta, Nguyễn Huệ trên đường từ Phú Xuân ra Bắc đã dừng lại ở Nghệ An bổ sung thêm hàng vạn trai tráng để từ đất phượng hoàng Trung Dô hành quân thần tốc tới Tam Điệp hội quân mở trận tiến công chiến lược làm nên chiến thắng Ngọc Hồi — Đống Đa lịch sử (1789), chấm dứt thời đại các vua chúa phong kiến phương Bắc sang xâm lược nước ta.

Giữa thế kỷ thứ XIX, thực dân Pháp đem quân đánh chiếm nước ta. Đứng trước nguy cơ mất nước, với ý chí và khát vọng độc lập tự do, truyền thống yêu nước của nhân dân ta lại trỗi dậy, cả dân tộc vùng lên. Ở Khu 4 nhiều cuộc khởi nghĩa và phong trào yêu nước liên tiếp nổ ra. Năm 1885 Tôn Thất Thuyết đưa vua Hàm Nghi rời bỏ ngai vàng ra tận núi rừng Hương Khê (Hà Tĩnh) hạ chiếu cần vương, vạch tội ác thực dân, kêu gọi văn thân yêu nước vùng lên chống Pháp.

Hưởng ứng phong trào Cần Vương, các cuộc khởi nghĩa chống thực dân Pháp liên tiếp nổ ra. Cuộc khởi nghĩa của Lê Trực (Quảng Bình), Trần Tấn, Đặng Như Mai (Nghệ An), Đinh Công Tráng, Tống Duy Tân (Thanh Hóa). Tiêu biểu nhất là cuộc khởi nghĩa suốt mười năm (1885 -1895) của Phan Đình Phùng ở Hương Khê (Hà Tĩnh) lan rộng suốt địa bàn bốn tỉnh: Hà Tĩnh, Quảng Bình, Nghệ An, Thanh Hóa... Đồng thời với các cuộc khởi nghĩa vũ trang là phong trào Đông Du và xu hướng bạo động của cụ Phan Bội Châu, tổ chức Việt Nam thanh niên Quang phục hội của các chí sĩ yêu nước miền Trung... Các cuộc khởi nghĩa và các phong trào văn thân yêu nước ấy lần lượt bị thất bại, nhưng đã thức tỉnh tinh thần độc lập dân tộc và nêu cao truyền thống yêu nước, ý chí kiến cường, bất khuất chống giặc ngoại xâm của dân tộc ta.

Vượt qua tầm nhìn của các bậc tiền bối yêu nước lớp trước và cùng thời, đồng chí Nguyễn Ái Quốc — người con yêu quý của dân tộc Việt Nam với lòng yêu nước thiết tha mang dòng máu của nghĩa khí quê hương cách mạng, sau gần chục năm bôn ba khắp năm châu, bốn biển tìm đường cứu nước, đã đến với Cách mạng tháng Mười, đến với chủ nghĩa Mác — Lê-nin, tham gia thành lập Đảng Cộng sản Pháp, tích cực hoạt động trong phong trào Cộng sản Quốc tế, truyền bá chủ nghĩa Mác — Lê-nin vào Việt Nam và Đông Dương, thành lập tổ chức Việt Nam thanh niên Cách mạng đồng chí Hội, viết tác phẩm «Đường cách mệnh», tuyên truyền thức tỉnh giai cấp công nhân, nông dân lao động và những thanh niên đây nhiệt huyết, dẫn dắt họ đi vào con đường cách mạng vô sản, đến với chủ nghĩa Lê-nin và vận dụng chủ nghĩa Mác — Lê-nin vào hoạt động cách mạng giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp...

Một bộ phận thanh niên yêu nước lúc đó đã trở thành chiến sĩ cộng sản trung kiên và bất khuất, trong đó có nhiều đồng chí là con em nhân dân các tỉnh Khu 4, mà tiêu biểu là các đồng chí Lê Hồng Sơn, Trần Phú, Lê Hồng Phong, Hồ Tùng Mậu, Hà Huy Tập, Phan Đăng Lưu, Nguyễn Thị Minh Khai, Lê Duy Điềm, Nguyễn Sĩ Sách, Nguyễn Chí Diều, Lê Mao, Lý Tự Trọng, Phùng Chí Kiên...

Đến năm 1929, từ phong trào vận động cách mạng sôi nổi ở các địa phương, ba tổ chức cộng sản ở Việt Nam ra đời, hoạt động độc lập với nhau.

Đầu năm 1930, đồng chí Nguyễn Ái Quốc, thay mặt Quốc tế Cộng sản tiến hành hợp nhất ba tổ chức cộng sản ở Việt Nam thành Đảng Cộng sản Việt Nam (3 tháng 2 năm 1930), sau đổi tên là Đảng Cộng sản Đông Dương. Từ đây, ở Việt Nam và Đông Dương đã có một tổ chức cộng sản thống nhất, một chính Đảng của giai cấp công nhân trực tiếp lãnh đạo cách mạng Việt Nam. Tháng 10 năm 1930, trong Hội nghị lần thứ nhất của Đảng, đồng chí Trần Phú đã trình bày bản luận cương chính trị quan trọng của Đảng. Bản luận cương vạch rõ đường lối cơ bản của cách mạng Việt Nam. Tại Hội nghị Trung ương lần thứ nhất, đồng chí Trần Phú được cử làm Tổng Bí thư đầu tiên của Đảng.

Thực hiện cương lĩnh của Đảng, Xứ ủy Trung Kỳ do đồng chí Nguyễn Phong Sắc, ủy viên Trung ương Đảng trực tiếp lãnh đạo, phát triển các tổ chức cộng sản thành các đảng bộ cộng sản ở các địa phương. Dưới sự lãnh đạo của các đảng bộ cộng sản, phong trào cách mạng của quần chúng mà nòng cốt là liên minh công nông đã bùng lên mạnh mẽ khắp các tỉnh Khu 4.

Xuất phát từ quan điểm cách mạng bạo lực, Đảng đã tổ chức ra các «đội tự vệ đỏ» gồm những người ưu tú, hăng hái, can đảm trong các đoàn thể «Công hội đỏ», «Nông hội đỏ». Các «Đội tự vệ đỏ» có nhiệm vụ bảo vệ Đảng, bảo vệ các cuộc đấu tranh của quần chúng công nông.

Cao trào cách mạng 1930 — 1931 mà đỉnh cao là phong trào Xô-viết Nghệ — Tĩnh bắt đầu từ các cuộc mít tinh, biểu tình kỷ niệm ngày quốc tế lao động (1-5-1930) của công nhân Trường Thi, Bến Thủy và cuộc đấu tranh của nông dân Thanh Chương ở đồn điền Ký Viễn và nhanh chóng phát triển ra các địa phương khác, làm cho bộ máy cai trị của chính quyền thực dân, phong kiến từ huyện xuống cơ sở nhiều nơi tê liệt và tan rã. Chính quyền Xô-viết công nông được thành lập ở các huyện Thanh Chương, Nam Đàn, Hưng Nguyên, Nghi Lộc, Diễn Châu, Yên Thành, Anh Sơn (Nghệ An); Nghi Xuân, Đức Thọ, Can Lộc, Thạch Hà, Hương Khê (Hà Tĩnh), rồi lan ra các địa phương khác.

Logged

chuongxedap

Đại tá
*
Bài viết: 13633


Re: Quân khu 4 - Lịch sử kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945-1954)« Trả lời #6 vào lúc: 17 Tháng Chín, 2024, 09:50:43 pm »

Để đàn áp phong trào đấu tranh của quần chúng, thực dân Pháp đã dùng mọi thủ đoạn rất dã man, huy động binh lính từ Trung Kỳ ra, Bắc Kỳ vào, thiết lập nhiều đồn binh, đưa nhiều tên thực dân, quan lại phản động gian ác khét tiếng như Bê-nom, Tôn Thất Đàn đến Nghệ Tĩnh mở chiến dịch đàn áp đẫm máu, bắn chết hàng trăm người, bắt bớ, giam cầm, tra tấn rất nhiều cán bộ, đội viên xích vệ và dùng chiêu bài «quy thuận» để làm nhụt ý chí đấu tranh của nhân dân Nghệ Tĩnh. Dã man hơn, chúng còn dùng máy bay ném bom vào đoàn biểu tình ở Thái Lão (Hưng Nguyên), Truông Cồn Đọi (Anh Sơn) làm chết hàng trăm đồng bào ta1.

Cuộc đấu tranh chống khủng bố trắng và bảo vệ chính quyền xô-viết ở Nghệ Tĩnh kéo dài hơn một năm, các đội tự vệ chuyển phương thức hoạt động, vừa bảo vệ chính quyền, bảo vệ cán bộ, vừa phục kích diệt những tên tri huyện, đồn binh gian ác.

Nhưng trước sự khủng bố dã man của địch, đầu năm 1932 cao trào Xô-viết Nghệ — Tĩnh tạm thời thoái trào.

Phong trào tuy thất bại nhưng đã thức tỉnh trong nhân dân ta một truyền thống kiên cường chống giặc ngoại xâm. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân các địa phương Khu 4 đã vùng lên đánh một đòn nặng vào ý chí xâm lược của chúng. Trong thư gửi Bộ Phương Đông của Quốc tế Cộng sản, đồng chí Nguyễn Ái Quốc đã đánh giá: «Nhân dân Nghệ Tĩnh nổi tiếng cứng đầu. Trong thời kỳ Pháp xâm lược cũng như trong các phong trào cách mạng quốc gia (1905 - 1925), Nghệ Tĩnh đã nổi tiếng. Trong cuộc đấu tranh hiện nay, công nhân và nông dân Nghệ Tĩnh vẫn giữ vững truyền thống cách mạng của mình. Nghệ Tĩnh thật xứng đáng với danh hiệu: «đỏ!»2. Đây là trận chiến đấu rung trời chuyển đất của công nông Xô-viết Nghệ — Tĩnh, làm lung lay, tê liệt và tan rã hệ thống chính quyền thực dân, phong kiến ở nhiều làng xã, lập nên chính quyền Xô-viết công nông.

Cao trào 1930 — 1931 và Xô-viết Nghệ—Tĩnh là cuộc tổng diễn tập đầu tiên sau khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời. Qua Xô-viết Nghệ—Tĩnh, Quốc tế Cộng sản công nhận Đảng Cộng sản Việt Nam là phân bộ độc lập của Quốc tế Cộng sản.

Lực lượng «Tự vệ đỏ» là lực lượng vũ trang cách mạng đầu tiên sinh ra trong cao trào Xô-viết Nghệ—Tĩnh, trở thành tiền thân của lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam sau này.

Thực dân Pháp đàn áp đẫm máu, nhưng «phong trào tạm lắng phong trào lại lên», từ trong nhà tù đế quốc, từ trong quần chúng công nông, những hạt giống đỏ lại nảy mầm. Lợi dụng thời cơ thắng lợi của Mặt trận bình dân Pháp tác động đến tình hình Đông Dương, Đảng ta chuyển hướng lãnh đạo cách mạng và khôi phục lại phong trào. Đảng chủ trương tập hợp lực lượng dân chủ và tiến bộ, đấu tranh chống thực dân và phản động thuộc địa. Thực hiện chủ trương đó, các địa phương đã tiến hành tổ chức đại hội cơ sở. Tháng 9 năm 1939, các đồng chí Lê Duẩn, Phan Đăng Lưu, Nguyễn Chí Diểu, ủy viên Trung ương Đảng, Thường vụ Xứ ủy Trung Kỳ chủ trì cuộc «Đông Dương đại hội Trung Kỳ» tại Huế. Hơn 400 đại biểu đủ các thành phần, các tầng lớp ở các địa phương tới dự, đã nhấn mạnh sự cần thiết phải thúc đẩy phong trào đấu tranh đòi tự do, dân chủ, cơm áo, hòa bình cho nhân dân. «Đông Dương đại hội Trung Kỳ» — một đỉnh cao của phong trào đấu tranh đòi quyền tự do dân chủ và hòa bình ở Việt Nam trong thời kỳ cách mạng dân chủ 1936 — 1939.

Các tổ chức Đảng từ Trung ương đến các xứ ủy, tỉnh ủy và cơ sở dần dần được khôi phục. Các đội tự vệ cũng dần dần được tổ chức lại và phương thức hoạt động cũng được vận dụng phù hợp với tình hình lúc bấy giờ.

Trong bối cảnh đó thì chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ. Tháng 9 năm 1940 phát xít Nhật nhảy vào Đông Dương. Nhân dân Việt Nam phải «một cổ hai tròng» chịu sự áp bức bóc lột thậm tệ của thực dân Pháp và phát xít Nhật. Hàng ngàn chiến sĩ cộng sản bị bắt, bị tù đày. Đảng chủ trương chuyển vào hoạt động bí mật.

Tháng 2 năm 1941, đồng chí Nguyễn Ái Quốc về nước trực tiếp lãnh đạo cách mạng Việt Nam. Tình hình thế giới và trong nước đã có nhiều chuyển biến quan trọng. Tháng 5 năm 1941, Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ 8 quyết định: «Chuyển trọng tâm cuộc cách mạng giải phóng dân tộc lên hàng đầu, tập trung vào kẻ thù chủ yếu là phát xít Nhật và thực dân Pháp». Để tập hợp rộng rãi lực lượng chống phát xít, tháng 5 năm 1941, Mặt trận Việt Nam độc lập đồng minh (Việt Minh) được thành lập. Cùng với sự ra đời của Việt Minh, các đoàn thể thanh niên cứu quốc, phụ nữ cứu quốc cũng được tổ chức và phát triển rộng rãi khắp các địa phương.

Từ sau các cuộc khởi nghĩa Bắc Sơn (27 tháng 9 năm 1940), Nam Kỳ (22-11-1940), Đô Lương (13-1-1941), nhiều tổ chức vũ trang, bán vũ trang được thành lập. Cùng với việc thành lập các đội du kích Bắc Sơn và các chiến khu của Trung ương, trong đó có chiến khu Hòa Ninh Thanh gồm Hòa Bình, Ninh Bình, Thanh Hóa do đồng chí Văn Tiến Dũng chỉ huy, ở các tỉnh Khu 4, Xứ ủy Trung Kỳ thành lập tám chiến khu3.

Tiếp đến là sự ra đời của Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân (22-12-1944). Ở các địa phương có các đội tự vệ, tổ chức mặt trận, đoàn thể thanh niên, phụ nữ cứu quốc vừa phát triển và củng cố lực lượng, vừa đẩy mạnh hoạt động, chuẩn bị đón thời cơ khởi nghĩa giành chính quyền.

Ngày 9 tháng 3 năm 1945, Nhạt đảo chính Pháp, độc chiếm Đông Dương. Ngày 12 tháng 3, Thường vụ Trung ương Đảng ra chỉ thị: «Nhật, Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta»... «Cuộc đảo chính sẽ tạo ra một tình hình khủng hoảng chính trị sâu sắc, làm cho những điều kiện của một cuộc khởi nghĩa vũ trang mau chóng đi tới chỗ chín muồi»4.

Đồng thời với chỉ thị của Trung ương, Hội nghị quân sự cách mạng Bắc Kỳ (từ 16 đến 20-4-1945) xác định: « Tình thế đã đặt nhiệm vụ quân sự lên trên tất cả các nhiệm vụ quan trọng và cần kíp trong lúc này. Chúng ta phải tích cực phát triển chiến tranh du kích, gây dựng căn cứ địa kháng Nhật, để chuẩn bị cuộc tổng khởi nghĩa cho kịp thời cơ»5.

Lúc này Xứ ủy Trung Kỳ và các tỉnh ủy Khu 4 chưa được kiện toàn về tổ chức. Đại bộ phận đảng viên cộng sản cốt cán hoạt động trong thời kỳ 1930 — 1931 — 1941 đang bị giam cầm ở các nhà lao đế quốc.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn