chuongxedap Đại tá  Bài viết: 13633  | 
| Re: Quân khu 4 - Lịch sử xây dựng và bảo vệ Tổ quốc (1975 - 2005)« Trả lời #1 vào lúc: 12 Tháng Mười Một, 2024, 05:05:00 pm » |
Chương một QUÂN KHU 4 TRONG NHỮNG NĂM ĐẦU XÂY DỰNG VÀ BẢO VỆ TỔ QUỐC VIỆT NAM THỐNG NHẤT (1975-1979) Thắng lợi to lớn của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975, đỉnh cao là Chiến dịch Hồ Chí Minh toàn thắng đã kết thúc vẻ vang 30 năm chiến tranh giải phóng của quân và dân ta, do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo. Từ đây, Tổ quốc thống nhất, cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội.
Cùng với quân dân cả nước, quân và dân Quân khu 4 bước vào thời kỳ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới; có nhiều mặt thuận lợi nhưng cũng gặp không ít khó khăn, thách thức. Chủ nghĩa đế quốc, đứng đầu là đế quốc Mỹ và các thế lực phản động quốc tế tiếp tục chống phá cách mạng nước ta dưới nhiều hình thức, thủ đoạn mới. Chúng thực hiện “chiến tranh phá hoại nhiều mặt”, bao vây, phong tỏa, “cấm vận”, trả thù bằng các thủ đoạn thâm độc, trắng trợn; ra sức nuôi dưỡng, cài cắm lực lượng, đẩy mạnh “kế hoạch hậu chiến”. Chúng tiếp tục khơi sâu, lợi dụng các mâu thuẫn trong quan hệ quốc tế, kích động các thế lực thù địch gây hận thù dân tộc, mưu toan làm cho Việt Nam “chảy máu”, kiệt quệ, suy yếu.
Đế quốc Mỹ và các thế lực phản động chỉ đạo bọn tay sai lưu vong dựa vào đất Thái Lan, đưa lực lượng về ráo riết hoạt động, hòng gây chia rẽ, hoang mang, uy hiếp, khống chế nhân dân Lào trên nhiều địa bàn; uy hiếp, cô lập các thành phố lớn, nhất là ở thủ đô Viên Chăn, thị xã Sa Va Na Khẹt. Mục tiêu của chúng là gây bạo loạn, lật đổ chính quyền cách mạng Lào, tạo bàn đạp trực tiếp xâm nhập phá hoại cách mạng Việt Nam. Quân khu 4 là một trong những địa bàn trọng điểm chống phá quyết liệt của chúng. Đế quốc Mỹ và bọn phản động móc nối với các lực lượng, nhen nhóm các tổ chức, thực hiện “kế hoạch hậu chiến”, trong đó nổi rõ là:
1. Lợi dụng những khó khăn về kinh tế, xã hội sau chiến tranh, chúng tìm mọi cách gây bất ổn định về trật tự an toàn xã hội và an ninh chính trị; gây rối về giá cả trên thị trường, gieo rắc tâm lý hoang mang, lo lắng, thiếu tin tưởng trong nhân dân ta. Ở một số nơi vùng mới giải phóng Quảng Trị, Thừa Thiên - Huế, lợi dụng sự sơ hở, mất cảnh giác của ta, chúng dùng mìn, lựu đạn, thuốc độc và các loại súng bộ binh cỡ nhỏ ám sát bộ đội, cán bộ, dân thường; phá kho tàng, cắt dây điện thoại, đốt nhà, thả tờ rơi1 tuyên truyền, xuyên tạc chính sách, chủ trương đường lối của Đảng, Nhà nước, Chính phủ ta.
Phần lớn những vụ gây rối trật tự, an ninh trên địa bàn Quảng Trị tập trung ở các vùng giáp ranh, đều do số ngụy quân, nhân viên ngụy quyền không chịu cải tạo gây nên. Riêng số vụ gây rối trong 11 tháng năm 1975 tăng gấp hai lần so với năm 1974.
2. Chúng lợi dụng sơ hở của một số cơ quan, cán bộ, tìm cách “chui” vào một số tổ chức trong hệ thống chính trị, tìm “vỏ bọc” hợp pháp, công khai, làm lạc hướng theo dõi, quản lý của cơ quan chức năng và chính quyền địa phương.
3. Bọn phản động đội lốt tôn giáo lợi dụng chiêu bài, vỏ bọc “tự do tín ngưỡng” tìm cách mê hoặc, lung lạc, lôi kéo quần chúng, phát triển tổ chức, tuyên truyền phát tán ảnh hưởng; cột chặt “tín đồ” vào các quy chế, quy định do chúng đặt ra nhằm đe dọa, hạn chế quần chúng tham gia các tổ chức yêu nước, các cuộc sinh hoạt, hoạt động cách mạng.
Bên cạnh đó, một số lớn ngụy quân, nhân viên ngụy quyền, thành viên các đảng phái phản động (trong số đó có nhiều ác ôn nguy hại, trước đây dính nhiều nợ máu nhân dân, tiếp tục âm mưu hoạt động chống phá Tổ quốc) đang tìm cách lẩn tránh, chưa chịu ra trình diện cách mạng2.
Tình hình trên đây thường xuyên diễn ra trên một số địa bàn, nhất là vùng mới giải phóng đã tác động tới an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội ở Quân khu 4.
Trong khi đó, những khối lượng công việc to lớn, nặng nề, dồn dập, khẩn trương sau 30 năm chiến tranh tàn phá ác liệt trên địa bàn 6 tỉnh và khu vực Vĩnh Linh tiếp tục đặt gánh nặng mới lên vai 4 triệu đồng bào và chiến sĩ Quân khu 4, một địa bàn đã từng đảm trách sứ mệnh lịch sử nặng nề: Nửa phía Bắc, từ Bến Hải trở ra “vừa là hậu phương trực tiếp của miền Nam, hậu phương trực tiếp của Trị Thiên Huế, của Trung - Hạ Lào; hậu phương chiến dịch của Mặt trận Đường số 9; vừa là tuyến đầu miền Bắc xã hội chủ nghĩa”. Nửa phía Nam, từ Bến Hải đến đèo Hải Vân “vừa là tiền tuyến của tiền tuyến lớn miền Nam, vừa là chiến trường lớn nhất thu hút, giam chân quân chủ lực Mỹ”. Đây là địa bàn đã trải qua 30 năm chịu đựng sự tàn phá khốc liệt dưới ách thống trị của hai đế quốc lớn là Pháp và Mỹ.
Sự tàn phá cực kỳ khốc liệt của chiến tranh và những di hại của chủ nghĩa thực dân cũ, chủ nghĩa thực dân mới để lại hậu quả rất nặng nề mà quân và dân Quân khu 4 phải ra sức khắc phục trong một thời gian dài.
Trước tình hình mới, Hội nghị lần thứ 24 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (9-1975) ra nghị quyết “về nhiệm vụ của cách mạng Việt Nam trong giai đoạn mới”, về nhiệm vụ quốc phòng - an ninh, Trung ương Đảng xác định: “Ra sức bảo vệ sự nghiệp cách mạng xã hội chủ nghĩa và xây dựng chủ nghĩa xã hội của nhân dân ta... Ra sức xây dựng lực lượng vũ trang cách mạng hùng hậu, có lực lượng thường trực mạnh, lực lượng dự bị to lớn được huấn luyện tốt, có quân đội nhân dân chính quy, hiện đại, có lực lượng dân quân tự vệ rộng khắp và vững chắc”3.
Thực hiện nhiệm vụ cách mạng trong giai đoạn mới, cùng với quân dân cả nước, quân và dân trên dải đất từ Tam Điệp đến đèo Hải Vân, dưới sự lãnh đạo của cấp ủy các địa phương, sự lãnh đạo, chỉ đạo của Khu ủy, Quân khu ủy Trị Thiên Huế. Quân khu ủy Quân khu 4, Quân khu 3 và sự chỉ huy của Bộ tư lệnh ba quân khu, thực hiện điều chỉnh về tổ chức, bố trí sắp xếp lại lực lượng, giải quyết nhiều vấn đề sau chiến tranh. ______________________________________________ |