Nhân chứng trực tiếp tham gia các sự kiện lịch sử

QUÂN KHU 4 LỊCH SỬ XÂY DỰNG VÀ BẢO VỆ TỔ QUỐC

Ngày 15 tháng 10 năm 1945, Chiến khu 4 nằm ở địa bàn phía Bắc Trung Bộ (gồm các tỉnh Thanh Hoá, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên) được thành lập. Từ đó, ngày 15 tháng 10 hàng năm trở thành ngày truyền thống của Quân khu 4 anh hùng. Trải qua 60 năm xây dựng và chiến đấu, dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, quân dân Quân khu 4 đã khắc phục mọi khó khăn gian khổ, hy sinh, nỗ lực phấn đấu, hoàn thành xuất sắc sứ mệnh lịch sử mà Đảng, Nhà nước, quân đội và nhân dân g

Lai Châu16/07/2026- Đại tá TRẦN NGỌC QUỲ (xã Pắc Ta)4 lượt xem0 lượt chia sẻ
Ngày 15 tháng 10 năm 1945, Chiến khu 4 nằm ở địa bàn phía Bắc Trung Bộ (gồm các tỉnh Thanh Hoá, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên) được thành lập. Từ đó, ngày 15 tháng 10 hàng năm trở thành ngày truyền thống của Quân khu 4 anh hùng. Trải qua 60 năm xây dựng và chiến đấu, dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, quân dân Quân khu 4 đã khắc phục mọi khó khăn gian khổ, hy sinh, nỗ lực phấn đấu, hoàn thành xuất sắc sứ mệnh lịch sử mà Đảng, Nhà nước, quân đội và nhân dân giao phó, cùng quân và dân cả nước lập nhiều thành tích to lớn và chiến công oanh liệt trong 30 năm chiến tranh giải phóng, cũng như 30 năm xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Thực hiện nghị quyết của Đảng ủy Quân sự Trung ương và chỉ thị của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng về tổng kết chiến tranh và biên soạn lịch sử quân sự, thể theo nguyện vọng của các thế hệ cán bộ, chiến sĩ và nhân dân trên địa bàn Quân khu, Thường vụ Đảng ủy và Bộ tư lệnh Quân khu 4 đã tổ chức biên soạn cuốn:
"Quân khu 4 - Lịch sử kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược 1945-1954", xuất bản năm 1990 và cuốn: "Quân khu 4 - Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước 1954-1975", xuất bản năm 1994. Mặc dù còn thiếu sót do tư liệu thu thập chưa thật đầy đủ, những năm qua, hai cuốn sách được xuất bản đã phục vụ tốt công tác tổng kết, nghiên cứu, học tập, giáo dục truyền thống, góp phần làm phong phú thêm các công trình tổng kết và lịch sử quân sự của Quân khu.

Nhân dịp kỷ niệm 60 năm ngày truyền thống vẻ vang của Quân khu 4, Thường vụ Đảng ủy và Bộ tư lệnh Quân khu tổ chức biên soạn cuốn:
"Quân khu 4 - Lịch sử xây dựng và bảo vệ Tổ quốc (1975-2005)", nhằm kế tiếp hai cuốn lịch sử kháng chiến chống thực dân Pháp và lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước đã xuất bản trước đây, ghi lại quá trình xây dựng, chiến đấu và trưởng thành của Quân khu trong 60 năm qua.

Hoạt động của Quân khu 4 thời kỳ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa rất phong phú, đa dạng trên tất cả các mặt xây dựng, chiến đấu, công tác, làm nhiệm vụ quốc tế và thực hiện các nhiệm vụ khác. Trong những năm đầu của thời kỳ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc thống nhất, Quân khu 4 đã nỗ lực khắc phục hậu quả chiến tranh, điều chỉnh xây dựng lực lượng, cùng quân và dân cả nước ghi tiếp chiến công, giành thắng lợi trong cuộc chiến đấu bảo vệ Tổ quốc ở biên giới Tây Nam và biên giới phía Bắc, hoàn thành nhiệm vụ quốc tế đối với cách mạng Campuchia và cách mạng Lào; đồng thời xây dựng nền quốc phòng toàn dân, tích cực lao động sản xuất, góp phần xây dựng kinh tế đất nước.

Trong thời kỳ đổi mới, công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, trước những diễn biến phức tạp của tình hình thế giới và khu vực, Quân khu 4 đã tập trung xây dựng vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức, đẩy mạnh xây dựng lực lượng vũ trang theo hướng chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại; đồng thời phối hợp với cấp ủy Đảng, chính quyền, các đoàn thể quần chúng phát huy sức mạnh của nền quốc phòng toàn dân, chiến tranh nhân dân địa phương, xây dựng khu vực phòng thủ tỉnh, thành vững mạnh, kết hợp xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân với thế trận an ninh nhân dân, gắn xây dựng cơ sở xã, phường với cụm an toàn làm chủ, sẵn sàng chiến đấu, góp phần phòng chống, làm thất bại chiến lược diễn biến hòa bình, bạo loạn lật đổ của các thế lực thù địch, bảo vệ Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa.

Trong quá trình sưu tầm thu thập tư liệu và biên soạn, Quân khu đã nhận được sự giúp đỡ tận tình của các đồng chí cán bộ lãnh đạo, chỉ huy Quân khu qua các thời kỳ, của các cơ quan, đơn vị và các tỉnh trên địa bàn Quân khu, Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam, Nhà xuất bản Quân đội nhân dân. Nhân dịp cuốn sách được xuất bản, Thường vụ Đảng ủy và Bộ tư lệnh Quân khu xin chân thành cảm ơn các cơ quan, đơn vị, các đồng chí và các bạn đã đóng góp nhiều ý kiến quý báu.

Mặc dù đã có nhiều cố gắng, nhưng do tư liệu sưu tầm chưa thật đầy đủ, trình độ và khả năng người viết có hạn, cuốn sách khó tránh khỏi những thiếu sót. Chúng tôi rất mong nhận được nhiều ý kiến đóng góp, phê bình để tiếp tục sửa chữa, bổ sung cho lần xuất bản sau có chất lượng tốt hơn.


THƯỜNG VỤ ĐẢNG ỦY
BỘ TƯ LỆNH QUÂN KHU 4

Logged

chuongxedap

Đại tá
*
Bài viết: 13633


Re: Quân khu 4 - Lịch sử xây dựng và bảo vệ Tổ quốc (1975 - 2005)« Trả lời #1 vào lúc: 12 Tháng Mười Một, 2024, 05:05:00 pm »

Chương một
QUÂN KHU 4 TRONG NHỮNG NĂM ĐẦU XÂY DỰNG VÀ BẢO VỆ TỔ QUỐC VIỆT NAM THỐNG NHẤT (1975-1979)
Thắng lợi to lớn của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975, đỉnh cao là Chiến dịch Hồ Chí Minh toàn thắng đã kết thúc vẻ vang 30 năm chiến tranh giải phóng của quân và dân ta, do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo. Từ đây, Tổ quốc thống nhất, cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội.

Cùng với quân dân cả nước, quân và dân Quân khu 4 bước vào thời kỳ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới; có nhiều mặt thuận lợi nhưng cũng gặp không ít khó khăn, thách thức. Chủ nghĩa đế quốc, đứng đầu là đế quốc Mỹ và các thế lực phản động quốc tế tiếp tục chống phá cách mạng nước ta dưới nhiều hình thức, thủ đoạn mới. Chúng thực hiện “chiến tranh phá hoại nhiều mặt”, bao vây, phong tỏa, “cấm vận”, trả thù bằng các thủ đoạn thâm độc, trắng trợn; ra sức nuôi dưỡng, cài cắm lực lượng, đẩy mạnh “kế hoạch hậu chiến”. Chúng tiếp tục khơi sâu, lợi dụng các mâu thuẫn trong quan hệ quốc tế, kích động các thế lực thù địch gây hận thù dân tộc, mưu toan làm cho Việt Nam “chảy máu”, kiệt quệ, suy yếu.

Đế quốc Mỹ và các thế lực phản động chỉ đạo bọn tay sai lưu vong dựa vào đất Thái Lan, đưa lực lượng về ráo riết hoạt động, hòng gây chia rẽ, hoang mang, uy hiếp, khống chế nhân dân Lào trên nhiều địa bàn; uy hiếp, cô lập các thành phố lớn, nhất là ở thủ đô Viên Chăn, thị xã Sa Va Na Khẹt. Mục tiêu của chúng là gây bạo loạn, lật đổ chính quyền cách mạng Lào, tạo bàn đạp trực tiếp xâm nhập phá hoại cách mạng Việt Nam. Quân khu 4 là một trong những địa bàn trọng điểm chống phá quyết liệt của chúng. Đế quốc Mỹ và bọn phản động móc nối với các lực lượng, nhen nhóm các tổ chức, thực hiện “kế hoạch hậu chiến”, trong đó nổi rõ là:

1. Lợi dụng những khó khăn về kinh tế, xã hội sau chiến tranh, chúng tìm mọi cách gây bất ổn định về trật tự an toàn xã hội và an ninh chính trị; gây rối về giá cả trên thị trường, gieo rắc tâm lý hoang mang, lo lắng, thiếu tin tưởng trong nhân dân ta. Ở một số nơi vùng mới giải phóng Quảng Trị, Thừa Thiên - Huế, lợi dụng sự sơ hở, mất cảnh giác của ta, chúng dùng mìn, lựu đạn, thuốc độc và các loại súng bộ binh cỡ nhỏ ám sát bộ đội, cán bộ, dân thường; phá kho tàng, cắt dây điện thoại, đốt nhà, thả tờ rơi1 tuyên truyền, xuyên tạc chính sách, chủ trương đường lối của Đảng, Nhà nước, Chính phủ ta.

Phần lớn những vụ gây rối trật tự, an ninh trên địa bàn Quảng Trị tập trung ở các vùng giáp ranh, đều do số ngụy quân, nhân viên ngụy quyền không chịu cải tạo gây nên. Riêng số vụ gây rối trong 11 tháng năm 1975 tăng gấp hai lần so với năm 1974.

2. Chúng lợi dụng sơ hở của một số cơ quan, cán bộ, tìm cách “chui” vào một số tổ chức trong hệ thống chính trị, tìm “vỏ bọc” hợp pháp, công khai, làm lạc hướng theo dõi, quản lý của cơ quan chức năng và chính quyền địa phương.

3. Bọn phản động đội lốt tôn giáo lợi dụng chiêu bài, vỏ bọc “tự do tín ngưỡng” tìm cách mê hoặc, lung lạc, lôi kéo quần chúng, phát triển tổ chức, tuyên truyền phát tán ảnh hưởng; cột chặt “tín đồ” vào các quy chế, quy định do chúng đặt ra nhằm đe dọa, hạn chế quần chúng tham gia các tổ chức yêu nước, các cuộc sinh hoạt, hoạt động cách mạng.

Bên cạnh đó, một số lớn ngụy quân, nhân viên ngụy quyền, thành viên các đảng phái phản động (trong số đó có nhiều ác ôn nguy hại, trước đây dính nhiều nợ máu nhân dân, tiếp tục âm mưu hoạt động chống phá Tổ quốc) đang tìm cách lẩn tránh, chưa chịu ra trình diện cách mạng2.

Tình hình trên đây thường xuyên diễn ra trên một số địa bàn, nhất là vùng mới giải phóng đã tác động tới an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội ở Quân khu 4.

Trong khi đó, những khối lượng công việc to lớn, nặng nề, dồn dập, khẩn trương sau 30 năm chiến tranh tàn phá ác liệt trên địa bàn 6 tỉnh và khu vực Vĩnh Linh tiếp tục đặt gánh nặng mới lên vai 4 triệu đồng bào và chiến sĩ Quân khu 4, một địa bàn đã từng đảm trách sứ mệnh lịch sử nặng nề: Nửa phía Bắc, từ Bến Hải trở ra “vừa là hậu phương trực tiếp của miền Nam, hậu phương trực tiếp của Trị Thiên Huế, của Trung - Hạ Lào; hậu phương chiến dịch của Mặt trận Đường số 9; vừa là tuyến đầu miền Bắc xã hội chủ nghĩa”. Nửa phía Nam, từ Bến Hải đến đèo Hải Vân “vừa là tiền tuyến của tiền tuyến lớn miền Nam, vừa là chiến trường lớn nhất thu hút, giam chân quân chủ lực Mỹ”. Đây là địa bàn đã trải qua 30 năm chịu đựng sự tàn phá khốc liệt dưới ách thống trị của hai đế quốc lớn là Pháp và Mỹ.

Sự tàn phá cực kỳ khốc liệt của chiến tranh và những di hại của chủ nghĩa thực dân cũ, chủ nghĩa thực dân mới để lại hậu quả rất nặng nề mà quân và dân Quân khu 4 phải ra sức khắc phục trong một thời gian dài.

Trước tình hình mới, Hội nghị lần thứ 24 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (9-1975) ra nghị quyết “về nhiệm vụ của cách mạng Việt Nam trong giai đoạn mới”, về nhiệm vụ quốc phòng - an ninh, Trung ương Đảng xác định: “Ra sức bảo vệ sự nghiệp cách mạng xã hội chủ nghĩa và xây dựng chủ nghĩa xã hội của nhân dân ta... Ra sức xây dựng lực lượng vũ trang cách mạng hùng hậu, có lực lượng thường trực mạnh, lực lượng dự bị to lớn được huấn luyện tốt, có quân đội nhân dân chính quy, hiện đại, có lực lượng dân quân tự vệ rộng khắp và vững chắc”3.

Thực hiện nhiệm vụ cách mạng trong giai đoạn mới, cùng với quân dân cả nước, quân và dân trên dải đất từ Tam Điệp đến đèo Hải Vân, dưới sự lãnh đạo của cấp ủy các địa phương, sự lãnh đạo, chỉ đạo của Khu ủy, Quân khu ủy Trị Thiên Huế. Quân khu ủy Quân khu 4, Quân khu 3 và sự chỉ huy của Bộ tư lệnh ba quân khu, thực hiện điều chỉnh về tổ chức, bố trí sắp xếp lại lực lượng, giải quyết nhiều vấn đề sau chiến tranh.
______________________________________________

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn