Nhân chứng trực tiếp tham gia các sự kiện lịch sử

Quân tình nguyện Việt Nam giúp Lào - thực tiễn và bài học kinh nghiệm

Ngày 30-10-1949, các lực lượng quân sự Việt Nam chiến đấu và công tác giúp Lào chính thức mang tên Quân tình nguyện. Cũng từ đó, hình ảnh người chiến sĩ Quân tình nguyện Việt Nam đã trở thành biểu tượng sáng ngời về chủ nghĩa anh hùng cách mạng, tinh thần quốc tế trong sáng, giúp Bạn vững bước trên con đường đấu tranh giải phóng dân tộc và thời kỳ đầu xây dựng, phát triển đất nước.

Phú Thọ31/07/2026Đoàn xã Nghị Đức (Nghị Đức)3 lượt xem0 lượt chia sẻ

Những năm đầu của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, theo yêu cầu của Chính phủ độc lập lâm thời Lào Ít-xa-la,Trung ương Đảng và Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa quyết định xây dựng và phát triển các đơn vị Việt kiều Giải phóng quân. Các đơn vị này được gắn kết với các đơn vị vũ trang yêu nước Lào Ít-xa-la thành lập “Liên quân Lào - Việt”, phối hợp với một số đơn vị bộ đội chủ lực và địa phương của Khu 4 (Việt Nam) chiến đấu, ngăn chặn các cuộc tiến công của quân Pháp, bảo vệ chính quyền cách mạng non trẻ ở các thành phố, thị trấn vừa được giải phóng, tạo thuận lợi cho cách mạng Lào vượt qua giai đoạn khó khăn, xây dựng, phát triển lực lượng đẩy mạnh kháng chiến. Đây là tiền đề cho việc Quân tình nguyện Việt Nam sang giúp Bạn chiến đấu bảo vệ nền độc lập, tự do của đất nước Lào sau này.

Nhất quán quan điểm “dân tộc Việt Nam đoàn kết chặt chẽ với dân tộc Miên, Lào thì sức mạnh đủ đánh tan thực dân Pháp”1, từ những đơn vị hoạt động phân tán với quy mô tổ chức nhỏ (tổ, đội), đến những năm 1948-1949, lực lượng quân sự Việt Nam đã từng bước phát triển thành các đơn vị độc lập (cấp đại đội, tiểu đoàn và trung đoàn). Đặc biệt,với quyết định của Ban Thường vụ Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương về “Các lực lượng quân sự Việt Nam chiến đấu và công tác giúp Lào tổ chức thành hệ thống riêng và lấy danh nghĩa là Quân tình nguyện”, đánh dấu bước trưởng thành vượt bậc về quy mô tổ chức lực lượng và phạm vi hoạt động của các đơn vị Quân tình nguyện Việt Nam ở Lào. Từ đây, các đoàn Quân tình nguyện lần lượt được thành lập khắp nơi trên đất nước Bạn2, tạo ra thế và lực mới cùng với Bạn đẩy mạnh các hoạt động tác chiến rộng khắp. Đồng thời, xây dựng và phát triển lực lượng vũ trang cách mạng Lào đủ khả năng phối hợp, hiệp đồng với các đơn vị Bộ đội chủ lực Việt Nam tiến hành tác chiến tập trung quy mô cấp chiến dịch, như: chiến dịch Thượng Lào (năm 1953), chiến dịch Trung Lào, Hạ Lào - Đông Bắc Cam-pu-chia và Thượng Lào (năm 1954), góp phần quan trọng vào thành công của cuộc kháng chiến chống Pháp ở Lào và thắng lợi vẻ vang chống kẻ thù chung của nhân dân ba nước Đông Dương.

Sau khi Hiệp định Giơ-ne-vơ về Đông Dương (năm 1954) được ký kết, hòa bình lập lại trên bán đảo Đông Dương, theo chỉ thị của Trung ương Đảng ta, các đơn vị Quân tình nguyện Việt Nam lần lượt rút về nước. Tuy nhiên, với bản chất hiếu chiến và âm mưu phản cách mạng toàn cầu, đế quốc Mỹ đã hất cẳng Pháp, tiến hành cuộc chiến tranh xâm lược, thống trị các nước Đông Dương bằng chủ nghĩa thực dân kiểu mới. Cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc của nhân dân ba nước Việt Nam, Lào, Cam-pu-chia lại tiếp tục. Theo yêu cầu của Đảng, Chính phủ kháng chiến Lào và quan điểm“Giúp bạn là tự giúp mình”, Đảng, Nhà nước và Bộ Quốc phòng Việt Nam lại cử các đơn vị Quân tình nguyện và chuyên gia quân sự Việt Nam3 (sau đây gọi chung là Quân tình nguyện Việt Nam) lên đường sang giúp Lào tiến hành cuộc kháng chiến chống Mỹ4.

Trên cơ sở thống nhất quan điểm, đường lối, chủ trương giữa hai Đảng, các đơn vị Quân tình nguyện luôn nêu cao tinh thần quốc tế trong sáng, tích cực, chủ động đẩy mạnh các hoạt động giúp Bạn xây dựng, củng cố chính quyền cách mạng, phát triển lực lượng vũ trang và sát cánh chiến đấu bảo vệ các khu căn cứ, mở rộng vùng giải phóng. Đặc biệt, với tinh thần đoàn kết, liên minh chiến đấu chống kẻ thù chung, các đơn vị quân đội hai nước đã chủ động phối hợp, hiệp đồng chặt chẽ tổ chức mở nhiều chiến dịch, với đa dạng các loại hình tác chiến, tiêu diệt lớn quân địch, như: Nậm Thà (năm 1962),128, 74A (năm 1964), Nậm Bạc (năm 1968), Mường Sủi (năm 1969), Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng (10-1969 đến 4-1970), Đường 9-Nam Lào (năm 1971), Cánh Đồng Chum - Loong Chẹng (12-1971 đến 4-1972) và Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng (năm 1972). Những chiến thắng đó, đã góp phần quan trọng vào sự nghiệp giải phóng dân tộc của nhân dân Việt Nam; yếu tố quyết định lần lượt đánh bại các chiến lược “chiến tranh đặc biệt”, “chiến tranh đặc biệt tăng cường” của đế quốc Mỹ ở Lào, tạo thế và lực giúp Bạn đẩy mạnh thực hiện thắng lợi “ba đòn chiến lược” và mũi đấu tranh pháp lý, kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ xâm lược.

Sau năm 1975, lợi dụng những khó khăn ban đầu của nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào, các thế lực thù địch tiếp tục chống phá cách mạng Lào. Theo yêu cầu của Bạn, Bộ Quốc phòng Việt Nam giao nhiệm vụ cho một số đơn vị Quân tình nguyện sang giúp Bạn xây dựng thực lực cách mạng, phát triển lực lượng vũ trang, sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu, làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn phá hoại của kẻ thù, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Lào. Đến tháng 01-1989, các đơn vị Quân tình nguyện Việt Nam hoàn thành nhiệm vụ quốc tế vẻ vang, lần lượt rút hết quân về nước.

Như vậy, trong suốt chặng đường lịch sử hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, cũng như thời kỳ đầu xây dựng, củng cố nền hòa bình đất nước của nhân dân các bộ tộc Lào đều ghi dấu ấn sự đóng góp quan trọng của cán bộ, chiến sĩ Quân tình nguyện Việt Nam. Đó là sự dũng cảm trong chiến đấu, không ngại gian khổ, chấp nhận hy sinh, sẵn sàng làm mọi việc giúp Bạn trên tinh thần quốc tế trong sáng và nghĩa cử cao đẹp của chủ nghĩa anh hùng cách mạng. Đây cũng là nền tảng, tạo động lực mạnh mẽ để các đơn vị Quân tình nguyện Việt Nam ở Lào hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ mà Đảng, Nhà nước và nhân dân giao phó.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn