Cựu chiến binh

Quảng Đà - Những năm tháng bi hùng

Bác sinh năm 1949 tại thôn Giữa, xã Lưu Kiếm, huyện Thuỷ Nguyên, thành phố Hải Phòng. Nay là TDP Giữa, phường Lưu Kiếm, TP Hải Phòng

Hải Phòng09/12/2025Cù Văn Dấm (Đoàn phường Lưu Kiếm)3 lượt xem0 lượt chia sẻ

QUẢNG ĐÀ – NHỮNG NĂM THÁNG BI HÙNG

Những người con vùng cửa sông Bạch Đằng – trên đất lửa Quảng Đà

Bước vào năm 1967, cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của ta bước sang giai đoạn quyết liệt. Sau khi ồ ạt đổ quân vào chiến trường miền Nam, đế quốc Mỹ tiến hành xây dựng các căn cứ Liên hợp Quân sự; tăng cường càn quét, đàn áp mở rộng địa bàn đánh chiếm vùng giải phóng và tiến hành chiến tranh leo thang ra miền Bắc.

Để chuẩn bị cho cuộc tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1968, ngày 25/3/1967 Tiểu đoàn Bạch Đằng I Thủy Nguyên được thành lập, lấy phiên hiệu là Tiểu đoàn 339 thuộc Trung đoàn 42, Lữ đoàn 350, Quân khu 3, đứng chân tại Yên Tử, Quảng Ninh. Quân số tiểu đoàn có 683 đồng chí, chủ yếu là con em của nhân dân Thủy Nguyên và một số quận, huyện của Hải Phòng, do đồng chí Nguyễn Văn Miên – Đại úy, làm Tiểu đoàn trưởng; đồng chí Mai Văn Hạnh – Đại úy, làm Chính trị viên; đồng chí Lê Trung Ủy làm Phó Tiểu đoàn trưởng tham mưu trưởng và đồng chí Nguyễn Văn Hiến – Chính trị viên phó tiểu đoàn.

Sau khi được thành lập, tiểu đoàn khẩn trương ổn định tổ chức biên chế, trang bị và chuẩn bị mọi mặt, tổ chức huấn luyện chiến đấu, rèn luyện thể lực hành quân mang vác nặng để sẵn sàng nhận nhiệm vụ bổ sung cho chiến trường. Nhận nhiệm vụ trên giao, toàn đơn vị tổ chức quán triệt và viết đơn bằng máu để tình nguyện vào chiến trường tham gia chiến đấu và phục vụ chiến đấu. Đến dự buổi lễ xuất quân lên đường vào Nam chiến đấu tổ chức tại Sân Kho xã Kỳ Sơn, Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng, đồng chí Hoàng Hữu Nhân – Bí thư Thành ủy thành phố Hải Phòng và Đại tá Đỗ Chính – Chính ủy Lữ đoàn 350 trực tiếp trao cờ giải phóng và giao nhiệm vụ cho đơn vị.

– Trong khoảng thời gian từ tháng 11/1967 đến tháng 12/1971, đơn vị đã tổ chức vận chuyển 38.900.000kg vũ khí đạn dược, lương thực, thực phẩm, thuốc men từ sông Bung về hậu cứ, xuống vùng đồng bằng Quảng Nam – Đà Nẵng và ngược lại.

– Vận chuyển trên 300 ca thương binh từ các đơn vị chiến đấu về Bệnh xá 76, Bệnh xá 81, Mặt trận 44 Quảng Đà.

Đặc biệt vào thời điểm năm 1969, Đại đội 2 của tiểu đoàn được lệnh vận tải vũ khí trực tiếp phục vụ cho các đơn vị chiến đấu tại trận địa trong chiến dịch Nông Sơn – Thượng Đức, bảo đảm kịp thời phục vụ cho các trận đánh giành thắng lợi. Đơn vị hy sinh 14 đồng chí, trong đó có đồng chí An Toàn Tế, đại đội trưởng bị thương nặng.

Qua chiến đấu và làm nhiệm vụ vận chuyển, tiểu đoàn xuất hiện nhiều tấm gương được tặng danh hiệu “Kiện tướng mang vác nặng” và nhiều tập thể, cá nhân lập thành tích xuất sắc được tiểu đoàn khen thưởng. Có đồng chí một mình mang vác 1 quả đạn A12 nặng 56kg trong lúc đang sốt rét và đói cơm nhiều ngày nhưng vẫn đến địa điểm quy định sớm hơn thời gian. Tiêu biểu nổi lên có liệt sĩ Hoàng Kim Lếnh – Đại đội 1 đã một mình vác cả thân và đầu đạn ĐKB trong lúc đang sốt rét nhưng vừa đi vừa chỉ huy tiểu đội đánh địch từ Dốc Ông Thủ xuống Triền Điền Xuân trong đêm. (Đồng chí Lếnh được truy tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân năm 2012).

Tháng 9/1969, tại gianh An Bằng, xã Lộc Sơn, 16 đồng chí đảm nhận vận chuyển 4 ca thương binh từ Duy Xuyên về Bệnh xá 81 ở hậu cứ, trên đường đi bị địch pháo kích, nhưng các đồng chí đã nhường giao thông hào cho thương binh trú ẩn, bảo vệ an toàn cho thương binh nên 6/16 đồng chí hy sinh và 7/16 đồng chí bị thương (4 thương binh vẫn an toàn).

Ngoài ra, qua quá trình vận tải, đơn vị vấp phải mìn, bị địch pháo kích, máy bay địch phát hiện bắn vào đội hình, rơi vào ổ phục kích của địch… nhiều đồng chí hy sinh và bị thương vong là chuyện xảy ra thường ngày của đơn vị, nhưng trong bất cứ tình huống nào, cán bộ, chiến sĩ vẫn khắc phục vượt qua để hoàn thành nhiệm vụ.

Ngoài việc thực hiện nhiệm vụ vận tải được giao, tiểu đoàn còn đảm nhận nhiệm vụ chiến đấu đánh địch bảo vệ cơ quan Bộ Tư lệnh Mặt trận 44, bảo vệ kho tàng, căn cứ, bảo vệ hành lang, trinh sát bám đánh địch mở đường vận chuyển, đưa đón cán bộ và tổ chức chiến đấu khi bị địch bao vây, ngăn chặn… Trong suốt thời gian hoạt động trên chiến trường Quảng Đà, tiểu đoàn đã tổ chức hàng trăm trận chiến đấu lớn, nhỏ, tiêu diệt nhiều sinh lực, phương tiện chiến tranh của địch.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn
Quảng Đà - Những năm tháng bi hùng | Câu chuyện thời hoa lửa