Tiếp sau cuốn “Quảng Ninh – lịch sử kháng chiến chống thực dân Pháp (1945-1954)” xuất bản năm 1991, Đảng ủy và Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Quảng Ninh đã khẩn trương tổ chức, chỉ đạo nghiên cứu biên soạn cuốn “Quảng Ninh – lịch sử kháng chiến chống Mỹ và cứu nước (1954-1975)” viết về quá trình xây dựng, chiến đấu và trưởng thành của quân và dân Quảng Ninh dưới sự lãnh đạo của Đảng, thực hiện hai chiến lược cách mạng trên địa bàn tỉnh, góp phần xây dựng và bảo vệ miền Bắc, giải phóng miền Nam thống nhất đất nước.
Nhân dịp cuốn “Quảng Ninh – lịch sử kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954-1975)” xuất bản, chúng tôi xin chân thành cám ơn Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Ủy ban nhân dân, Ban Tuyên giáo tỉnh ủy, Phòng Khoa học công nghệ và Môi trường Quân khu 3, Sở Văn hóa thông tin, Nhà xuất bản Quân đội nhân dân, các đồng chí cán bộ cách mạng lão thành, các đồng chí chỉ huy của Bộ chỉ huy quân sự tỉnh qua các thời kỳ đã góp nhiều ý kiến, cung cấp nhiều tư liệu nâng cao chất lượng bản thảo và giúp đỡ tận tình để cuốn sách ra mắt bạn đọc.
“Quảng Ninh – lịch sử kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954 – 1975)” là một công trình khoa học lịch sử, nhưng do thời gian gấp, sự kiện nhiều, tư liệu chưa có điều kiện khai thác đầy đủ, do trình độ người viết, nên mặc dù đã có nhiều cố gắng vẫn khó tránh khỏi những thiếu sót.
Thường vụ Đảng ủy và Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Quảng Ninh rất mong được sự đóng góp ý kiến của bạn đọc để tiếp tục bổ sung cho lần xuất bản sau được tốt hơn.
THƯỜNG VỤ ĐẢNG ỦYBỘ CHỈ HUY QUÂN SỰTỈNH QUẢNG NINH | |
Logged
| Tự hào thay, mác búp đa Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng. Thô sơ, gian khổ đã từng Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên. |
|
|
macbupda Trung tá  Bài viết: 11970  Lính của PTL | 
| Quảng Ninh – Lịch sử kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954-1975)« Trả lời #2 vào lúc: 26 Tháng Chín, 2017, 10:22:08 pm » | Chương một
QUÂN DÂN QUẢNG NINH CỦNG CỐ, XÂY DỰNG VÀ PHÁT HUY SỨC MẠNH CỦA CHẾ ĐỘ MỚI, LÀM THẤT BẠI MỌI ÂM MƯU PHÁ HOẠI CỦA ĐẾ QUỐC MỸ VÀ TAY SAI (1954-1964) 1. Nhanh chóng ổn định vùng mới giải phóng, hàn gắn vết thương chiến tranh, đẩy mạnh sản xuất, phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội.
Địa bản Quảng Ninh trước khi Hiệp định Giơ-ne-vơ được ký kết (21-7-1954) gồm hai tỉnh Hải Ninh, Quảng Yên và Đặc khu Hồng Gai.
Theo thỏa thuận giữa Bộ Tổng tham mưu Quân đội nhân dân Việt Nam và Bộ tổng chỉ huy Quân đội Pháp tại hội nghị Trung Giã thì lịch trình rút quân của quân đội Pháp và tay sai ở Quảng Ninh diễn ra như sau:
- Khu tập kết 100 ngày gồm các huyện Nam Sách, Chí Linh, Đông Triều, Kim Môn, Hoành Bồ.
- Khu tập kết 200 ngày gồm đại bộ phận tỉnh Quảng Yên và Đặc khu Hồng Gai.
- Tỉnh Hải Ninh không có lịch cụ thể nhưng là nơi địch rút sớm nhất so với các tỉnh miền Bắc (23-7 – 8-8-1954) để đón quân vào khu tập kết 300 ngày.
Ngày 25 tháng 7 năm 1954 ta tiếp quản quân cảng Vạn Hoa, tuyên bố thành lập chính quyền dân chủ nhân dân ở vùng này. Đây là lần đầu tiên người dân Vạn Hoa (huyện Cẩm Phả) được hưởng không khí tự do, độc lập (trong Cách mạng tháng Tám năm 1945 ta chưa giải phóng được quân cảng này(1)).
Ngày 30 tháng 7 năm 1954, ta tiếp quản đảo Vân Hải. Ủy ban hành chính Vân Hải ra công khai hoạt động. Từ đó, lần lượt chính quyền cấp xã ở Hải Ninh, Cẩm Phả, Hoành Bồ cũng ra công khai hoạt động2.
Để thực hiện nhiệm vụ quản lý vùng mới giải phóng, ngày 2 tháng 8 năm 1954 đại đội 158 (tiểu đoàn 433 – trung đoàn 238) do tiểu đoàn phó Hoàng Hiên chỉ huy từ thị xã Lạng Sơn được lệnh hành quân ra tiếp quản thị xã Móng Cái. Khi đại đội đến Khe Tù, đồng chí Hiên đề nghị với chỉ huy quân Pháp cho đi qua thị trấn Tiên Yên rồi theo đường số 4 tiến thẳng đến Móng Cái, viên chỉ huy Pháp ở Khe Tù không đồng ý. Đại đội 158 phải trở lại hành quân theo đường mòn trong rừng, rồi huy động thuyền đi đường biển. Với sự giúp đỡ tận tình của tỉnh đội Hải Ninh và thị đội Móng Cái, sau năm ngày đêm đại đội mới tới thị xã Móng Cái. Đơn vị nhanh chóng chiếm lĩnh khu vực Tổ Sơn, Giếng Guốc và những vị trí trọng yếu trong thị xã, rồi bắt tay ngay vào việc động viên, vận động nhân dân, tuyên truyền giáo dục những người trước đây đã làm việc cho địch bảo vệ trật tự an ninh. Tiểu đoàn phó Hoàng Hiên được trên chỉ định tham gia Ủy ban quân quản thị xã.
Lực lượng còn lại của tiểu đoàn 433 tiếp quản thị trấn Tiên Yên, Khe Tù, Mũi Chùa, huyện lỵ Ba Chẽ, Khe Lò, các đảo thuộc vùng biển Hải Ninh, củng cố vùng mới giải phóng, giữ vững an ninh chính trị an toàn xã hội, tranh thủ và đoàn kết nhân dân các dân tộc, xây dựng và phát triển cơ sở quần chúng, lôi kéo những người theo địch còn lẩn trốn, phá tàn dự phỉ của Voòng A Sáng đang ẩn náu. Đồng chí chính ủy trung đoàn 238 Trần Đức được trên chỉ định tham gia Ủy ban quân chính Tiên Yên.
Ngày 15 tháng 8 năm 1954, tiểu đoàn 434 và trung đoàn bộ do trung đoàn trưởng Trương Cao Dũng và chỉnh ủy Tùng Giang đang ở thị xã Bắc Ninh thì nhận được lệnh của Bộ tư lệnh Liên khu Việt Bắc tập trung lực lượng toàn trung đoàn ở tỉnh Hải Ninh để làm nhiệm vụ củng cố, bảo vệ vùng biên ải ven biển có ý nghĩa về chiến lược ở Đông Bắc duyên hải. Sau hai ngày, toàn bộ tiểu đoàn 434 và trung đoàn bộ lên đường ngược đường số 1, qua đường số 13 đến thị trấn Đình Lập sang đường số 4 ra Khe Tù.
Sau cuộc biểu dương lực lượng kỷ niệm ngày Quốc khánh mùng 2 tháng 9 năm 1954 ỏ Tiên Yên, tiểu đoàn 434 do tiểu đoàn trưởng Hoàng Dũng, chính trị viên Vũ Thái và tiểu đoàn phó Hồng Quỳnh chỉ huy tiểu đoàn vào thị trấn Ba Chẽ, Khe Lò, Khe Kim thay thế đại đội 157 thuộc tiểu đoàn 433, làm nhiệm vụ xây dựng cơ sở chính trị, tranh thủ nhân dân, đoàn kết các dân tộc, diệt phỉ phản động do tên Lục Văn Thông cầm đầu.
Cùng thời gian này trung đoàn bộ và tiểu đoàn 433 tiếp tục làm nhiệm vụ củng cố bảo vệ vùng giải phóng, xây dựng cơ sở chính trị ở Tiên Yên, Khe Tù, Mũi Chùa; đồng thời trung đoàn được lệnh tách ra một lực lượng đảm nhiệm việc bảo vệ tổ cố định của Ủy ban quốc tế kiểm soát và giám sát thi hành Hiệp định Giơ-ne-vơ ở Tiên Yên. Khi tổ cố định này di chuyển đi làm nhiệm vụ ở các nơi khác trong tỉnh, lực lượng bảo vệ cũng cơ động theo để bảo đảm an toàn cho tổ. Để nắm vững sự hoạt động của tổ chức quốc tế này, đồng chí phó chính ủy trung đoàn Trần Đức được cấp trên chỉ định làm việc thường xuyên với tổ quốc tế với tư cách là tư lệnh địa phương cùng với đồng chí Đỗ Chính, Bí thư tỉnh ủy Hải Ninh, danh nghĩa là nhà đương cục địa phương.
(1) 30 năm đấu tranh xây dựng và bảo vệ chính quyền dân chủ nhân dân ở Quảng Ninh, tư liệu, Ban nghiên cứu lịch sử Đảng tỉnh ủy Quảng Ninh, 1975, tr. 57. | |
Logged
| Tự hào thay, mác búp đa Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng. Thô sơ, gian khổ đã từng Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên. |
|
|
macbupda Trung tá  Bài viết: 11970  Lính của PTL | 
| Quảng Ninh – Lịch sử kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954-1975)« Trả lời #3 vào lúc: 26 Tháng Chín, 2017, 10:25:11 pm » | Những tháng cuối năm 1954 đầu năm 1955 tiểu đoàn 434 đã lăn lộn với núi rừng Ba Chẽ, cùng ăn, cùng ở, cùng làm với dân. Ngày đầu vào Khe Lò, bộ đội đã nhường cơm sẻ áo cứu 17 người dân sắp chết đói. Ngày ngày bộ đội cùng đồng bào lên nương, lên rẫy tra ngô, trồng sắn, trồng khoai. Qua những buổi cùng làm, đồng bào đã cho bộ đội biết những nhà trong khe, trong bản còn có người theo phỉ lên núi, lên hang. Được bộ đội và cán bộ hết lòng giúp đỡ, một số người lầm đường, lạc lối theo địch đã về nhà, về bản. Họ được chính phủ khoan hồng.
Trong khi tàn dư phỉ đang tìm cách lẩn trốn trong rửng sâu, núi hiểm Ba Chẽ, thì ở Đầm Hà, Hà Cối một bọn phản động người Hoa câu kết với tay chân Voòng A Sáng cài lại, do Trịnh Coóng Phí cầm đầu đã gây rối, bạo loạn cướp chính quyền. Dải đất các huyện phía đông từ Móng Cái đến Tiên Yên, chúng đòi thuộc quyền cai quản của chúng.
Một bộ phận của tiểu đoàn 433 đang làm nhiệm vụ ở Tiên Yên, Khe Tù được điều động gấp ra Đầm Hà, Hà Cối để cùng với các lực lượng địa phương giải quyết vụ bạo loạn này. Dưới sự chỉ đạo trực tiếp của ban cán sự huyện, các đơn vị đã dựa vào dân, cô lập bọn xúi giục gây rối loạn, trừng trị những tên đầu sỏ gian ác, lập lại trật tự an ninh, giúp dân sản xuất và ổn định đời sống.
Đầu năm 1955, Bộ tư lệnh Liên khu Việt Bắc quyết định bổ sung tiểu đoàn Bạch Dằng cho trung đoàn 238 để kiện toàn lực lượng, chuẩn bị làm nhiệm vụ mới.
Tiểu đoàn Bạch Đằng là một đơn vị chủ lực của tỉnh Quảng Yên, thành lập năm 1949, đã có bề dày thành tích chiến đấu suốt 5 năm ở vùng sau lưng địch. Trước khi bổ sung vào đội hình trung đoàn, tiểu đoàn Bạch Đằng đã hoàn thành nhiệm vụ cùng với tiểu đoàn pháo binh 178 tiếp quản thị trấn Phả Lại (huyện Chí Linh) và thị trấn Đông Triều (huyện Đông Triều) thuộc khu vực địch tập kết 100 ngày.
Sáp nhập vào trung đoàn 238, tiểu đoàn Bạch Đằng mang phiêu hiệu tiểu đoàn 48. Toàn tiểu đoàn được lệnh gấp rút chuẩn bị mọi mặt để cùng trung đoàn đi tiếp quản khu 300 ngày.
Ngày 17 tháng 2 năm 1955 Trung ương Đảng và Chính phủ quyết định thành lập khu Hồng Quảng(1). Đồng chí Hoàng Hữu Nhân được cử làm bí thư khu ủy kiêm chủ tịch ủy ban hành chính khu, đồng chí Tăng Văn Hội khu đội trưởng, đồng chí Trịnh Nguyên chính trị viên khu đội(2).
Lực lượng tham gia tiếp quản khu Hồng Quảng gồm: trung đoàn 238, trung đoàn 248, tiểu đoàn 244, trung đoàn 64 (đại đoàn 320) và các thủy đội 470, 471, 472.
Trung ương rất quan tâm việc tiếp quản khu tập kết 300 ngày mà trọng tâm là thành phố cảng Hải Phòng và khu công nghiệp than Hồng Gai.
Khu tập kết 300 ngày có tầm quan trọng về mọi mặt. Ở Hội nghị Giơ-ne-vơ, việc quy định khu vực này thuộc về bên nào là một trong những điểm đấu tranh gay go giữa ta và Pháp. Đây là nơi tập kết cuối cùng trước khi địch phải rút bỏ hoàn toàn miền Bắc Việt Nam. Chúng tung dư luận có thể trì hoãn ngày rút quân khỏi đây.
Tranh thủ thời gian 300 ngày, chính quyền từ đặc khu đến cơ sở của ta kịp thời phổ biến văn kiện của Hiệp định Giơ-ne-vơ cho quần chúng, vận động mọi người đấu tranh chống những hành động vi phạm hiệp định của quân đội Pháp và ngụy quyền tay sai. Hưởng ứng lời kêu gọi của chính quyền, trong thời gian 300 ngày, công nhân vùng mỏ đã tổ chức 200 cuộc đấu tranh chống chủ mỏ cúp phạt, đánh đập, quỵt lương, thải thợ, buộc chủ không được ngừng sản xuất. Trong cuộc đấu tranh này, đáng chú ý là cuối năm 1954 công nhân mỏ Cẩm Phả đã mở cuộc đấu tranh lớn chống lại chủ đem máy móc đi Nam, khiến chủ mỏ Pháp không thực hiện được ý định. Sau đó họ phải xin phép Chính phủ ta cho chuyển đi một số. Một tháng trước ngày sau tiếp quản khu mỏ, phía Pháp đồng ý tiếp nhận một đoàn chuyên viên kinh tế của ta vào trước để nắm tình hình trang thiết bị, cơ sở sản xuất. Các cơ quan quân sự của khu, huyện và thị xã được kiện toàn và đã có những bộ phận thâm nhập vào các thị xã để gây cơ sở và nắm địch. Tiếp đó, ta đưa các đội hành chính, công an vào để cùng đối phương chuẩn bị công việc bàn giao. Được sự chỉ đạo của Khu ủy, các đoàn công tác vào trước đã bí mật liên lạc với cán bộ cơ sở tuyên truyền giải thích vận động công nhân và nhân dân ở nội thị đấu tranh chống âm mưu địch cưỡng ép di cư vào Nam. Đây là cuộc đấu tranh rất căng thẳng. Khi được giải thích cặn kẽ, hàng trăm gia đình ở mỏ bị địch dụ dỗ đến nơi tập trung đã lần lượt bỏ về quê, không theo Pháp vào Nam. |
|
|