Nhân chứng trực tiếp tham gia các sự kiện lịch sử

Quảng Ninh - Lịch sử kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954-1975)

Lai Châu05/07/2026Quân đội nhân dân (xã nậm mạ)2 lượt xem0 lượt chia sẻ
LỜI GIỚI THIỆU
CỦA ĐỒNG CHÍ PHẠM VĂN ĐỒNG
CỐ VẤN BAN CHẤP HÀNH TRUNG ƯƠNG
ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM

Quảng Ninh là vùng đất lịch sử với Bạch Đằng Giang lẫy lừng, vịnh Hạ Long một trong những kỳ quan của thế giới.

Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, nhân dân và lực lượng vũ trang nhân dân Quảng Ninh kế thừa truyền thống “Vùng mỏ bất khuất” đã chiến đấu cực kỳ dũng cảm, xây dựng và bảo vệ hậu phương vững mạnh, góp phần cùng nhân dân miền Bắc đánh thắng cuộc chiến tranh phá hoại của không quân và hải quân Mỹ, có cống hiến to lớn về sức người, sức của chi viện cho miền Nam ruột thịt.

Cuốn “Quảng Ninh – lịch sử kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954-1975)” là một công trình lịch sử được biện soạn công phu, nghiêm túc, góp phần tổng kết những năm tháng chiến đấu hào hùng của nhân dân và các lực lượng vũ trang nhân dân Quảng Ninh chống sự xâm lược tàn bạo của đế quốc Mỹ, đồng thời góp phần giáo dục truyền thống yêu nước và chủ nghĩa anh hùng cách mạng cho các thế hệ ở vùng Đông Bắc duyên hải và cả nước. Là một người đã nhiều năm gắn bó với Quảng Ninh và tận mắt được chứng kiến trận giáng trả đích đáng không quân Mỹ đến gây tội ác chiều mồng 5 tháng 8 năm 1964, trện đầu đánh thắng của Quảng Ninh trong sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước, tôi vui mừng giới thiệu cùng bạn đọc cuốn sách này.


Hà Nội tháng 1 năm 1996PHẠM VĂN ĐỒNG

« Sửa lần cuối: 09 Tháng Hai, 2021, 11:43:01 am gửi bởi ptlinh »

Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.

macbupda

Trung tá
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL

Quảng Ninh – Lịch sử kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954-1975)« Trả lời #1 vào lúc: 26 Tháng Chín, 2017, 10:19:42 pm »
LỜI NÓI ĐẦU
Tiếp sau cuốn “Quảng Ninh – lịch sử kháng chiến chống thực dân Pháp (1945-1954)” xuất bản năm 1991, Đảng ủy và Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Quảng Ninh đã khẩn trương tổ chức, chỉ đạo nghiên cứu biên soạn cuốn “Quảng Ninh – lịch sử kháng chiến chống Mỹ và cứu nước (1954-1975)” viết về quá trình xây dựng, chiến đấu và trưởng thành của quân và dân Quảng Ninh dưới sự lãnh đạo của Đảng, thực hiện hai chiến lược cách mạng trên địa bàn tỉnh, góp phần xây dựng và bảo vệ miền Bắc, giải phóng miền Nam thống nhất đất nước.

Nhân dịp cuốn “Quảng Ninh – lịch sử kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954-1975)” xuất bản, chúng tôi xin chân thành cám ơn Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Ủy ban nhân dân, Ban Tuyên giáo tỉnh ủy, Phòng Khoa học công nghệ và Môi trường Quân khu 3, Sở Văn hóa thông tin, Nhà xuất bản Quân đội nhân dân, các đồng chí cán bộ cách mạng lão thành, các đồng chí chỉ huy của Bộ chỉ huy quân sự tỉnh qua các thời kỳ đã góp nhiều ý kiến, cung cấp nhiều tư liệu nâng cao chất lượng bản thảo và giúp đỡ tận tình để cuốn sách ra mắt bạn đọc.

“Quảng Ninh – lịch sử kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954 – 1975)” là một công trình khoa học lịch sử, nhưng do thời gian gấp, sự kiện nhiều, tư liệu chưa có điều kiện khai thác đầy đủ, do trình độ người viết, nên mặc dù đã có nhiều cố gắng vẫn khó tránh khỏi những thiếu sót.

Thường vụ Đảng ủy và Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Quảng Ninh rất mong được sự đóng góp ý kiến của bạn đọc để tiếp tục bổ sung cho lần xuất bản sau được tốt hơn.


THƯỜNG VỤ ĐẢNG ỦYBỘ CHỈ HUY QUÂN SỰTỈNH QUẢNG NINH

Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.

macbupda

Trung tá
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL

Quảng Ninh – Lịch sử kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954-1975)« Trả lời #2 vào lúc: 26 Tháng Chín, 2017, 10:22:08 pm »
Chương một

QUÂN DÂN QUẢNG NINH CỦNG CỐ, XÂY DỰNG VÀ PHÁT HUY
SỨC MẠNH CỦA CHẾ ĐỘ MỚI, LÀM THẤT BẠI MỌI ÂM MƯU
PHÁ HOẠI CỦA ĐẾ QUỐC MỸ VÀ TAY SAI
(1954-1964)

1. Nhanh chóng ổn định vùng mới giải phóng, hàn gắn vết thương chiến tranh, đẩy mạnh sản xuất, phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội.

Địa bản Quảng Ninh trước khi Hiệp định Giơ-ne-vơ được ký kết (21-7-1954) gồm hai tỉnh Hải Ninh, Quảng Yên và Đặc khu Hồng Gai.

Theo thỏa thuận giữa Bộ Tổng tham mưu Quân đội nhân dân Việt Nam và Bộ tổng chỉ huy Quân đội Pháp tại hội nghị Trung Giã thì lịch trình rút quân của quân đội Pháp và tay sai ở Quảng Ninh diễn ra như sau:

- Khu tập kết 100 ngày gồm các huyện Nam Sách, Chí Linh, Đông Triều, Kim Môn, Hoành Bồ.

- Khu tập kết 200 ngày gồm đại bộ phận tỉnh Quảng Yên và Đặc khu Hồng Gai.

- Tỉnh Hải Ninh không có lịch cụ thể nhưng là nơi địch rút sớm nhất so với các tỉnh miền Bắc (23-7 – 8-8-1954) để đón quân vào khu tập kết 300 ngày.

Ngày 25 tháng 7 năm 1954 ta tiếp quản quân cảng Vạn Hoa, tuyên bố thành lập chính quyền dân chủ nhân dân ở vùng này. Đây là lần đầu tiên người dân Vạn Hoa (huyện Cẩm Phả) được hưởng không khí tự do, độc lập (trong Cách mạng tháng Tám năm 1945 ta chưa giải phóng được quân cảng này(1)).

Ngày 30 tháng 7 năm 1954, ta tiếp quản đảo Vân Hải. Ủy ban hành chính Vân Hải ra công khai hoạt động. Từ đó, lần lượt chính quyền cấp xã ở Hải Ninh, Cẩm Phả, Hoành Bồ cũng ra công khai hoạt động2.

Để thực hiện nhiệm vụ quản lý vùng mới giải phóng, ngày 2 tháng 8 năm 1954 đại đội 158 (tiểu đoàn 433 – trung đoàn 238) do tiểu đoàn phó Hoàng Hiên chỉ huy từ thị xã Lạng Sơn được lệnh hành quân ra tiếp quản thị xã Móng Cái. Khi đại đội đến Khe Tù, đồng chí Hiên đề nghị với chỉ huy quân Pháp cho đi qua thị trấn Tiên Yên rồi theo đường số 4 tiến thẳng đến Móng Cái, viên chỉ huy Pháp ở Khe Tù không đồng ý. Đại đội 158 phải trở lại hành quân theo đường mòn trong rừng, rồi huy động thuyền đi đường biển. Với sự giúp đỡ tận tình của tỉnh đội Hải Ninh và thị đội Móng Cái, sau năm ngày đêm đại đội mới tới thị xã Móng Cái. Đơn vị nhanh chóng chiếm lĩnh khu vực Tổ Sơn, Giếng Guốc và những vị trí trọng yếu trong thị xã, rồi bắt tay ngay vào việc động viên, vận động nhân dân, tuyên truyền giáo dục những người trước đây đã làm việc cho địch bảo vệ trật tự an ninh. Tiểu đoàn phó Hoàng Hiên được trên chỉ định tham gia Ủy ban quân quản thị xã.

Lực lượng còn lại của tiểu đoàn 433 tiếp quản thị trấn Tiên Yên, Khe Tù, Mũi Chùa, huyện lỵ Ba Chẽ, Khe Lò, các đảo thuộc vùng biển Hải Ninh, củng cố vùng mới giải phóng, giữ vững an ninh chính trị an toàn xã hội, tranh thủ và đoàn kết nhân dân các dân tộc, xây dựng và phát triển cơ sở quần chúng, lôi kéo những người theo địch còn lẩn trốn, phá tàn dự phỉ của Voòng A Sáng đang ẩn náu. Đồng chí chính ủy trung đoàn 238 Trần Đức được trên chỉ định tham gia Ủy ban quân chính Tiên Yên.

Ngày 15 tháng 8 năm 1954, tiểu đoàn 434 và trung đoàn bộ do trung đoàn trưởng Trương Cao Dũng và chỉnh ủy Tùng Giang đang ở thị xã Bắc Ninh thì nhận được lệnh của Bộ tư lệnh Liên khu Việt Bắc tập trung lực lượng toàn trung đoàn ở tỉnh Hải Ninh để làm nhiệm vụ củng cố, bảo vệ vùng biên ải ven biển có ý nghĩa về chiến lược ở Đông Bắc duyên hải. Sau hai ngày, toàn bộ tiểu đoàn 434 và trung đoàn bộ lên đường ngược đường số 1, qua đường số 13 đến thị trấn Đình Lập sang đường số 4 ra Khe Tù.

Sau cuộc biểu dương lực lượng kỷ niệm ngày Quốc khánh mùng 2 tháng 9 năm 1954 ỏ Tiên Yên, tiểu đoàn 434 do tiểu đoàn trưởng Hoàng Dũng, chính trị viên Vũ Thái và tiểu đoàn phó Hồng Quỳnh chỉ huy tiểu đoàn vào thị trấn Ba Chẽ, Khe Lò, Khe Kim thay thế đại đội 157 thuộc tiểu đoàn 433, làm nhiệm vụ xây dựng cơ sở chính trị, tranh thủ nhân dân, đoàn kết các dân tộc, diệt phỉ phản động do tên Lục Văn Thông cầm đầu.

Cùng thời gian này trung đoàn bộ và tiểu đoàn 433 tiếp tục làm nhiệm vụ củng cố bảo vệ vùng giải phóng, xây dựng cơ sở chính trị ở Tiên Yên, Khe Tù, Mũi Chùa; đồng thời trung đoàn được lệnh tách ra một lực lượng đảm nhiệm việc bảo vệ tổ cố định của Ủy ban quốc tế kiểm soát và giám sát thi hành Hiệp định Giơ-ne-vơ ở Tiên Yên. Khi tổ cố định này di chuyển đi làm nhiệm vụ ở các nơi khác trong tỉnh, lực lượng bảo vệ cũng cơ động theo để bảo đảm an toàn cho tổ. Để nắm vững sự hoạt động của tổ chức quốc tế này, đồng chí phó chính ủy trung đoàn Trần Đức được cấp trên chỉ định làm việc thường xuyên với tổ quốc tế với tư cách là tư lệnh địa phương cùng với đồng chí Đỗ Chính, Bí thư tỉnh ủy Hải Ninh, danh nghĩa là nhà đương cục địa phương.

(1) 30 năm đấu tranh xây dựng và bảo vệ chính quyền dân chủ nhân dân ở Quảng Ninh, tư liệu, Ban nghiên cứu lịch sử Đảng tỉnh ủy Quảng Ninh, 1975, tr. 57.

Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.

macbupda

Trung tá
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL

Quảng Ninh – Lịch sử kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954-1975)« Trả lời #3 vào lúc: 26 Tháng Chín, 2017, 10:25:11 pm »
Những tháng cuối năm 1954 đầu năm 1955 tiểu đoàn 434 đã lăn lộn với núi rừng Ba Chẽ, cùng ăn, cùng ở, cùng làm với dân. Ngày đầu vào Khe Lò, bộ đội đã nhường cơm sẻ áo cứu 17 người dân sắp chết đói. Ngày ngày bộ đội cùng đồng bào lên nương, lên rẫy tra ngô, trồng sắn, trồng khoai. Qua những buổi cùng làm, đồng bào đã cho bộ đội biết những nhà trong khe, trong bản còn có người theo phỉ lên núi, lên hang. Được bộ đội và cán bộ hết lòng giúp đỡ, một số người lầm đường, lạc lối theo địch đã về nhà, về bản. Họ được chính phủ khoan hồng.

Trong khi tàn dư phỉ đang tìm cách lẩn trốn trong rửng sâu, núi hiểm Ba Chẽ, thì ở Đầm Hà, Hà Cối một bọn phản động người Hoa câu kết với tay chân Voòng A Sáng cài lại, do Trịnh Coóng Phí cầm đầu đã gây rối, bạo loạn cướp chính quyền. Dải đất các huyện phía đông từ Móng Cái đến Tiên Yên, chúng đòi thuộc quyền cai quản của chúng.

Một bộ phận của tiểu đoàn 433 đang làm nhiệm vụ ở Tiên Yên, Khe Tù được điều động gấp ra Đầm Hà, Hà Cối để cùng với các lực lượng địa phương giải quyết vụ bạo loạn này. Dưới sự chỉ đạo trực tiếp của ban cán sự huyện, các đơn vị đã dựa vào dân, cô lập bọn xúi giục gây rối loạn, trừng trị những tên đầu sỏ gian ác, lập lại trật tự an ninh, giúp dân sản xuất và ổn định đời sống.

Đầu năm 1955, Bộ tư lệnh Liên khu Việt Bắc quyết định bổ sung tiểu đoàn Bạch Dằng cho trung đoàn 238 để kiện toàn lực lượng, chuẩn bị làm nhiệm vụ mới.

Tiểu đoàn Bạch Đằng là một đơn vị chủ lực của tỉnh Quảng Yên, thành lập năm 1949, đã có bề dày thành tích chiến đấu suốt 5 năm ở vùng sau lưng địch. Trước khi bổ sung vào đội hình trung đoàn, tiểu đoàn Bạch Đằng đã hoàn thành nhiệm vụ cùng với tiểu đoàn pháo binh 178 tiếp quản thị trấn Phả Lại (huyện Chí Linh) và thị trấn Đông Triều (huyện Đông Triều) thuộc khu vực địch tập kết 100 ngày.

Sáp nhập vào trung đoàn 238, tiểu đoàn Bạch Đằng mang phiêu hiệu tiểu đoàn 48. Toàn tiểu đoàn được lệnh gấp rút chuẩn bị mọi mặt để cùng trung đoàn đi tiếp quản khu 300 ngày.

Ngày 17 tháng 2 năm 1955 Trung ương Đảng và Chính phủ quyết định thành lập khu Hồng Quảng(1). Đồng chí Hoàng Hữu Nhân được cử làm bí thư khu ủy kiêm chủ tịch ủy ban hành chính khu, đồng chí Tăng Văn Hội khu đội trưởng, đồng chí Trịnh Nguyên chính trị viên khu đội(2).

Lực lượng tham gia tiếp quản khu Hồng Quảng gồm: trung đoàn 238, trung đoàn 248, tiểu đoàn 244, trung đoàn 64 (đại đoàn 320) và các thủy đội 470, 471, 472.

Trung ương rất quan tâm việc tiếp quản khu tập kết 300 ngày mà trọng tâm là thành phố cảng Hải Phòng và khu công nghiệp than Hồng Gai.

Khu tập kết 300 ngày có tầm quan trọng về mọi mặt. Ở Hội nghị Giơ-ne-vơ, việc quy định khu vực này thuộc về bên nào là một trong những điểm đấu tranh gay go giữa ta và Pháp. Đây là nơi tập kết cuối cùng trước khi địch phải rút bỏ hoàn toàn miền Bắc Việt Nam. Chúng tung dư luận có thể trì hoãn ngày rút quân khỏi đây.

Tranh thủ thời gian 300 ngày, chính quyền từ đặc khu đến cơ sở của ta kịp thời phổ biến văn kiện của Hiệp định Giơ-ne-vơ cho quần chúng, vận động mọi người đấu tranh chống những hành động vi phạm hiệp định của quân đội Pháp và ngụy quyền tay sai. Hưởng ứng lời kêu gọi của chính quyền, trong thời gian 300 ngày, công nhân vùng mỏ đã tổ chức 200 cuộc đấu tranh chống chủ mỏ cúp phạt, đánh đập, quỵt lương, thải thợ, buộc chủ không được ngừng sản xuất. Trong cuộc đấu tranh này, đáng chú ý là cuối năm 1954 công nhân mỏ Cẩm Phả đã mở cuộc đấu tranh lớn chống lại chủ đem máy móc đi Nam, khiến chủ mỏ Pháp không thực hiện được ý định. Sau đó họ phải xin phép Chính phủ ta cho chuyển đi một số. Một tháng trước ngày sau tiếp quản khu mỏ, phía Pháp đồng ý tiếp nhận một đoàn chuyên viên kinh tế của ta vào trước để nắm tình hình trang thiết bị, cơ sở sản xuất. Các cơ quan quân sự của khu, huyện và thị xã được kiện toàn và đã có những bộ phận thâm nhập vào các thị xã để gây cơ sở và nắm địch. Tiếp đó, ta đưa các đội hành chính, công an vào để cùng đối phương chuẩn bị công việc bàn giao. Được sự chỉ đạo của Khu ủy, các đoàn công tác vào trước đã bí mật liên lạc với cán bộ cơ sở tuyên truyền giải thích vận động công nhân và nhân dân ở nội thị đấu tranh chống âm mưu địch cưỡng ép di cư vào Nam. Đây là cuộc đấu tranh rất căng thẳng. Khi được giải thích cặn kẽ, hàng trăm gia đình ở mỏ bị địch dụ dỗ đến nơi tập trung đã lần lượt bỏ về quê, không theo Pháp vào Nam.

(1) Địa bàn Hồng Quảng gồm các thị xã Hồng Gai, Cẩm Phả, Quảng Yên, Cửa Ông, Cát Bà, Uông Bí; các huyện Yên Hưng, Hoành Bồ, Cẩm Phả, Cát Hải, Thủy Nguyên, Đông Triều.
(2) Quảng Ninh lịch sử kháng chiến chống thực dân Pháp (1945-1954), Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1991, tr. 272.

Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.

macbupda

Trung tá
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL

Re: Quảng Ninh – Lịch sử kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954-1975)« Trả lời #4 vào lúc: 26 Tháng Chín, 2017, 10:28:23 pm »
Việc tiếp quản khu vực 300 ngày ở khu Hồng Quảng được chia làm nhiều đợt. Trung đoàn 238 nhận trọng trách tiếp quản ngay ngày đầu tiên của đợt đầu. Lúc này ban chỉ huy trung đoàn gồm có: trung đoàn trưởng Trương Cao Dũng, trung đoàn phó Long Xuyên, phó chính ủy Trần Đức. Bộ chỉ huy các lực lượng tiếp quản khu vực 300 ngày chỉ thị cho ban chỉ huy trung đoàn 238 phải tuyệt đối chấp hành kỷ luật giữ vững an ninh trật tự khi vào tiếp quản, không để xảy ra một tiếng nổ khiến địch vin cớ trì hoãn việc rút quân.

Mệnh lệnh tiếp thu khu chu vi Hải Phòng của Bộ Quốc phòng do Đại tướng Võ Nguyên Giáp ký ngày 16 tháng 1 năm 1955 chỉ rõ: “Trung đoàn 238 phụ trách khu vực Cẩm Phả Mỏ, Cẩm Phả Bến, vịnh Bái Tử Long và các quần đảo đông bắc vịnh Bái Tử Long cho đến Vạn Hoa”(1).

Trung đoàn 238 đã sử dụng lực lượng theo kế hoạch của Cục Tác chiến Bộ Tổng tham mưu và của Bộ chỉ huy tiếp quản khu vực 300 ngày. Từ Tiên Yên, Khe Tù và Ba Chẽ, các đơn vị hành quân đến các khu vực tập kết cách Mông Dương 6km. Trước đó trung đoàn đã cho một trung đội trinh sát bí mật bám sát và bảo vệ đoạn đường mà trung đoàn sẽ hành quân vào tiếp quản từ Mông Dương, Cửa Ông, Cẩm Phả.

Ngày 21 tháng 4 năm 1955 tại khu vực tập kết, trung đoàn nhận được điện của Bộ Tổng Tham mưu báo cho biết dùng hành quân vào tiếp quản Cửa Ông, Cẩm Phả với các đơn vị có nữ ký giả Ma-đơ-len Ríp-phô, phóng viên báo Nhân đạo (Humianité) của Đảng Cộng sản Pháp.

Ngay chiều hôm đó, Ma-đơ-len đã đến thăm các đơn vị. Chị chụp ảnh những dãy lán đơn sơ, bữa cơm muối vừng của bộ đội và trò chuyện thân mật với cán bộ, chiến sĩ bằng tiếng Việt Nam.

3 giờ sáng này 22 tháng 4 năm 1955, toàn trung đoàn xuất phát. Tiểu đoàn 433 do tiểu đoàn trưởng Đinh Văn Kế chỉ huy cùng trung đoàn bộ vào Cửa Ông. Tiểu đoàn 434 do tiểu đoàn trưởng Hoàng Dũng và chính trị viên Vũ Thái chỉ huy vào Cẩm Phả Mỏ. Tiểu đoàn 48 do tiểu đoàn phó Đinh Viên và chính trị viên Đỗ Đức Nguyên chỉ huy cho hai đại đội dùng thuyền vượt biển tiếp quản Quan Lạn, quần đảo Kế Bào, một đại đội tiếp quản khu ven biển và vịnh Bái Tử Long, đại đội trợ chiến cùng tiểu đoàn bộ vào khu vực bắc Cửa Ông.

Để chuẩn bị cho bộ đội vượt sông Mông Dương, đồng bào quanh vùng đã huy động thuyền bè xếp ngang mặt sống rồi rải bè tre dọc lối đi, bảo đảm đội hình vượt sông khẩn trương và an toàn.

Các đơn vị hành quân vào tới bờ nam sông Mông Dương trời còn tối, đồng bào đã chờ sẵn đốt đuốc sáng bừng đôi bờ đón chờ bộ đội qua sông.

11 giờ ngày 22 tháng 4 năm 1955, chính quyền ta bắt đầu vào tiếp quản khu mỏ. Các đơn vị thuộc trung đoàn 238 đã vào các điểm tiếp quản từ Cửa Ông, cọc 6, Đèo Nai, Cẩm Phả đến Quang Hanh, Đèo Bụt. Các thủy đội 470, 471, 472 tiếp quản một số đảo phía ngoài. Đại đội 413, khu đội Hồng Quảng ra tiếp quản đảo Bạch Long Vĩ.

Cùng thời gian này trung đoàn 248, tiểu đoàn 244, trung đoàn 64 (đại đoàn 320) tiếp quản Uông Bí, Quảng Yên, Bãi Cháy, Hồng Gai, Hà Tu, Hà Lầm Đồng chí Trương Cao Dũng trung đoàn trưởng trung đoàn 238 được chỉ định làm chủ tịch ủy ban quân quản, đồng chí Nguyễn Ngọc Đàm là phó chủ tịch ủy ban quân quản khu Hồng Quảng.

Sau 72 năm đấu tranh kiên trì, bền bỉ, dẻo dai và vô cùng anh dũng của quân dân khu mỏ (kể từ ngày thực dân Pháp chiếm đóng Hồng Gai ngày 12 tháng 3 năm 1883), ngày 25 tháng 4 năm 1955 tên lính Pháp cuối cùng rút khỏi khu mỏ thân yêu của chúng ta.

Từ đây nhân dân khu mỏ vĩnh viễn thoát khỏi cuộc đời nô lệ, từ kiếp sống người làm thuê trở thành người làm chủ hoàn toàn mảnh đất giàu đẹp của mình(2).

Các đơn vị hoàn thành nhiệm vụ tiếp quản khu Hồng Quảng có vinh dự được đón Đại tướng Võ Nguyên Giáp – Bộ trưởng quốc phòng –Tổng tư lệnh Quân đội nhân dân Việt Nam và Thiếu tướng Văn Tiến Dũng – Tổng tham mưu trưởng về thăm. Nói chuyện với cán bộ, chiến sĩ đại diện trung đoàn 238 tại sân một trưởng học phía trong cầu 20 (Cả Ông), Thiếu tướng Văn Tiến Dung – Tổng tham mưu trưởng khẳng định: “Nhân dân khu mỏ sẽ đời đời ghi nhớ trung đoàn 238 đã về giải phóng, bảo vệ và giúp đỡ địa phương những ngày tháng đầu tiên mới hòa bình”(3).

(1) Trung đoàn bộ binh 238, Phòng khoa học lịch sử Quân khu 3, 1992, tr. 33.
(2) 55 năm chiến đấu và xây dựng của Đảng bộ vàn hân dân tỉnh Quảng Ninh, tr.55.
(3) Trung đoàn bộ binh 238, Phòng khoa học lịch sử Quân khu 3, 1992, tr. 35.

Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.

macbupda

Trung tá
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL

Quảng Ninh – Lịch sử kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954-1975)« Trả lời #5 vào lúc: 26 Tháng Chín, 2017, 10:32:16 pm »
Sau hai ngày tiếp quản an toàn, vùng mỏ thực hiện lời kêu gọi của Chính phủ và của Bác Hồ kính mến. Giai cấp công nhân mỏ và cả những viên chức dưới chính quyền cũ đã trở lại vị trí làm việc. Chỉ trong thời gian ngắn, toàn bộ nhà máy, bến cảng, tầng lò đã hoạt động trở lại. 4.254 công nhân và lao động khác ở khu vực bị thất nghiệp được chính quyền cách mạng giải quyết việc làm. Đây là thắng lợi có ý nghĩa chính trị và dân sinh giáng một đòn trí mạng vào bọn thực dân chủ mỏ đã từng hằn học và dọa chúng ta rằng “Ít ra cũng phải 20 hay 25 năm nữa người An Nam mới đào được than!”.


Ngày 26-4-1955, sau tiếp quản một ngày, tàu của Braxin lại tiếp tục vào lấy than
Bước vào cuộc chiến đấu mới, một thử thách và khó khăn đối với chính quyền cách mạng là trình độ tổ chức quản lý sản xuất và xã hội trên phạm vi rộng, quy mô lớn, tập trung cao đối với các cấp, vì vậy phải có nỗ lực lớn biết dựa vào khả năng công nhân và những người có trình độ chuyên môn kỹ thuật của chế độ cũ tự nguyện làm việc cho cách mạng.

Tháng 8 năm 1955, vùng mỏ Cẩm Phả gặp khó khăn về vận chuyển, do đó cần phải khôi phục lại trục số 2 (mỏ Đèo Nai). Những kỹ sư Pháp còn ở lại làm việc với ta theo hiệp định giữa hai chính phủ khuyên không nên làm vì nó “lạc hậu”. Ta xác định quyết tâm làm. Họ nêu nhiều khó khăn và cho rằng nếu cứ làm thì ít nhất phải 9 tháng mới khôi phục xong. Cán bộ và công nhân ta khẳng định có thể làm nhanh ơn. Kỹ sư Pháp đành rút thời gian xuống 6 tháng rồi 3 tháng.

Với lòng nhiệt tình và ý thức làm chủ của người công nhân dưới chế độ mới, đường ray hỏng đã có vật liệu thay thế. Từ thời hạn 3 tháng mà kỹ sư Pháp xác định, anh chị em công nhân nghiên cứu và thấy khả năng có thể rút xuống 22 ngày. Nhiệt tình lao động sáng tạo, dám nghĩ dám làm lại được nhà máy quan tâm chăm sóc tinh thần và vật chất nên cuối cùng chiếc trục hỏng bị bỏ rơi vì “lạc hậu” đã được khôi phục trong 20 ngày, vượt kế hoạch 2 ngày so với dự kiến của ta, vượt 50 ngày so với ý định của kỹ sư Pháp.

Sau thắng lợi này, giai cấp công nhân mỏ còn tiếp tục khôi phục nhà máy, sản xuất hơi hàn, nhà máy luyện than, giải quyết đường điện cao thế ở cảng Cửa Ông phục vụ hoạt động cho các cần cẩu “poóc tích” trong điều kiện thiếu thiết bị kỹ thuật, thiếu kỹ sư và thợ lành nghề.

Một số ngành phụ trợ như hệ thống vận tải đường sắt, vận tải ô tô, các xí nghiệp tuyển than, các cảng, các nhà máy cơ khí sửa chữa cũng được tiến hành tìm kiếm phụ tùng thay thế, khôi phục những bộ phận hư hỏng để đưa vào vận hành, phục vụ sản xuất.

Ở mỏ than Mạo Khê - một khu mỏ hoang tàn, sau giải phóng, được lệnh của trên, 10 đồng chí bộ đội trong đó có một cán bộ kỹ thuật và một số là thợ mỏ cũ đã hạ ba lô khôi phục mỏ. Do mặt bằng thuận lợi, vỉa than dày, việc bóc đất đá đơn giản, nên sản xuất lúc đó chủ yếu là cuốc và dùng sức người gánh than từ nơi khai thác đến nơi vun đống tập trung.

Từ 10 con người đầy nhiệt huyết, mỏ quy tụ được vài trăm công nhân. Trong quá trình sản xuất mỏ đã áp dụng nhiều phương pháp sản xuất có hiệu quả, giảm sức người, năng suất cao.

Năm 1955, phương pháp sản xuất do Đậu Thị Nhàn đề xuất nhằm hợp lý hóa sản xuất, giảm động tác thừa đã được áp dụng. Phương pháp dùng vỉ sắt thay vỉ gỗ trong lò chờ đã giải quyết được khó khăn vì thiếu gỗ.

Thời gian này nguồn điện chủ yếu của vùng mỏ là nhà máy điện cọc 5 (Hồng Gai). Đây là nhà máy điện do Pháp xây dựng từ những năm hai mươi của thế kỷ này, công suất trên một vạn ki-lô-oát, chủ yếu là phục vụ sản xuất than và tiêu dùng của chủ mỏ. Sau ngày giải phóng, chính quyền cách mạng sớm tổ chức quản lý sản xuất là nhờ giữ được nhà máy điện. Cuộc đấu tranh của công nhân nhà máy điện cọc 5 (ngày 9 tháng 3 năm 1955) chống địch di chuyển máy móc trái phép đã giành được thắng lợi.

Cùng với việc sản xuất than, phong trào tăng gia sản xuất “Tấc đất tấc vàng” trong nông nghiệp đã góp phần hạn chế nạn đói, toàn bộ ruộng đất hoang hóa do địch khống chế trước đây đã được phục hồi, năng suất các loại khoai lang, ngô, sắn tăng nhanh, năm 1955 khoai lang đạt 32 ta/ha.

Sau khi miền Bắc được hoàn toàn giải phóng, Tổng Quân ủy, Bộ Quốc phòng – Tổng tư lệnh chủ trương chấn chỉnh một bước về tổ chức biên chế và cải tiến trang bị bảo đảm cho quân đội sẵn sàng chiến đấu và chuẩn bị bước vào xây dựng theo hướng tiến dần lên chính quy, hiện đại.

Ở hướng Đông Bắc, ngày 25 tháng 6 năm 1955, Bộ quyết định thành lập sư đoàn bộ binh 332 gồm một số đơn vị, trong đó có trung đoàn 238 tiếp quản vùng mỏ thuộc biên chế của sư đoàn này. Cuối năm 1955, trung đoàn 238 được lệnh rút các tiểu đoàn đang làm nhiệm vụ ở các huyện thuộc Hải Ninh tập trung về khu vực cọc 6 (Cẩm Phả) để huấn luyện.

Trung đoàn 248 do đồng chí Vũ Nhung trung đoàn trưởng, đồng chí Hà chính ủy và Nông Tôn Vinh, trung đoàn phó, thay thế nhiệm vụ trung đoàn 238 đưa các đơn vị vào Hoành Bồ, Ba Chẽ, Tiên Yên, Đầm Hà, Hà Cối, Móng Cái. Đầu năm 1956 Quâ

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn