CHƯƠNG MỞ ĐẦU
QUẢNG NINH – ĐỊA BÀN CHIẾN LƯỢC, MỘT VÙNG ĐẤT GIÀU TRUYỀN THỐNG CÁCH MẠNG Quảng Ninh, vùng đất ở ven biển Đông, kề sát với biên giới Việt – Trung, thuộc vùng đông – bắc nước ta. Phía bắc và đông – bắc có đường biên giới trên bộ 132,8 ki-lô-mét (giáp tỉnh Quảng Tây, Trung Quốc). Địa bàn Quảng Ninh giáp biển Đông, với bờ biển 250 ki-lô-mét và nối liền với ranh giới trên biển. Trên đất liền Quảng Ninh tiếp giáp Lạng Sơn ở phía bắc, Hà Bắc ở phía Tây, Hải Phòng và Hải Hưng ở phía tây nam.
Tỉnh Quảng Ninh có diện tích 5.938 ki-lô-mét vuông, trong đó đất liền chiếm 87 phần trăm, đảo chiếm 13 phần trăm, đồi núi chiếm 90 phần trăm diện tích toàn tỉnh. Các dãy núi đá vôi chạy dài từ Phả Lại tới Móng Cái kết hợp với những đảo chạy sóng đôi tạo nên vòng cung Hồng Quảng ở vùng đông - bắc. Các dãy núi này còn chứa nhiều mỏ than chạy suốt từ Đông Triều, Mạo Khê, Uông Bí, Vàng Danh, Hoành Bồ, Hồng Gai, Cẩm Phả, Mông Dương, với trữ lượng bằng 90% trữ lượng than đá của cả nước. Quảng Ninh còn có các khoáng sản khác có giá trị như đá hoa và đất sét trắng Đông Triều, đá vôi Hạ Long, cát Vân Hải, đá Tấn Mài.
Rừng Quảng Ninh với diện tích 213.469 héc-ta là một vùng có ý nghĩa quan trọng cả về quân sự và kinh tế. Rừng có nhiều gỗ quý với nhiều đặc sản như hồi, trầu, sả, có nhựa thông Uông Bí, rừng quế Bình Liêu, Quảng Hà (là một trong bốn rừng quế có tiếng của nước ta).
Dọc bờ biển Quảng Ninh có nhiều cửa sông, luồng lạch, hải càng thuận lợi cho thuyền bè vào ra như Cửa Ông, Hồng Gai. Ngoài ra Quảng Ninh còn có một quần thể đảo chạy dài từ Vịnh Hạ Long đến Móng Cải. Vùng ven biển đã xuất hiện từ sớm nghề đánh bắt thủy sản.
Đi đôi với những hoạt động kinh tế nông – lâm – ngư nhiệp từ cuối thế kỷ 19 khi tư bản Pháp xâm nhập nước ta thì công nghiệp khai khoáng ở Quảng Ninh ngày một phát triển. Năm 1888, vùng mỏ có 3.000 công nhân, tới năm 1929 thợ mỏ Quảng Ninh có 35.000 trong tổng số 38.655 công nhân ngành mỏ nhiên liệu toàn Đông Dương. Quảng Ninh trở thành một trung tâm kinh tế chính trị và trở thành một khu công nghiệp trong cả nước.
Vai trò của Quảng Ninh là cửa ngõ đi vào Bắc Bộ, là bình phong che chở cho “chiếc bản lề”, “cái chìa khóa của mặt bể Bắc Kỳ”, khi phát triển hệ thống đường bộ, đường sắt, đường sông với các phương tiện vận chuyển cơ giới với các tỉnh đông bằng Bắc Bộ và Việt Bắc.
Ngoài ba tuyến đường gần như song song theo chiều dài của tỉnh từ phía tây ngược lên đông – bắc như đường 13, đường 18 và đường thủy chạy dọc ven biển là các con đường Hữu Nghị 1, đường sông Bắc Đằng, đường 4A, đường 10, đường Máng Nước, đường Bến Triều – Đò May, đường Bến Đụn, đường qua Hoàng Thạch về Hải Phòng và tới quốc lộ số 5. Đặc biệt những năm gần đây Quảng Ninh lại có thêm tuyến đường sắt Yên Viên – Bãi Cháy. Hệ thống đường sá được mở rộng tạo điều kiện cho Quảng Ninh đẩy mạnh sự nghiệp xây dựng kinh tế, củng cố quốc phòng.
Về địa lý quân sự, địa bàn Quảng Ninh chia làm ba vùng rõ rệt: rừng núi, trung du và hải đảo. Vùng rừng núi, trung du thuận lợi cho việc xây dựng căn cứ cách mạng, căn cứ kháng chiến, xây dựng nghĩa quân, lực lượng vũ trang tập trung. Vùng ven biển, hải đảo thuận lợi trong tổ chức phòng ngự đánh được quân địch tiến công bằng đường biển vào địa bàn.
Khí hậu thời tiết ở Quảng Ninh thuộc vùng nhiệt đới gió mùa. Mùa hè nóng, mùa đông khá lạnh. Lượng mưa trung bình là 1.675 mi-li-mét. Nhiệt độ trung bình tháng 6 là 28,5 độ, tháng 1 là 16,5 độ. Nhiệt độ thấp nhất là 4 độ, cao nhất là 42 độ. Thời tiết, khí hậu ở Quảng Ninh vừa thuận lợi vừa khắc nghiệt đối với sản xuất công nghiệp, nông nghiệp, đồng thời ảnh hưởng lớn đến các hoạt đông quân sự. Nạn bão lụt, hạn hán thường xảy ra. | |
« Sửa lần cuối: 18 Tháng Bảy, 2017, 05:47:28 am gửi bởi macbupda » | Logged
| Tự hào thay, mác búp đa Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng. Thô sơ, gian khổ đã từng Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên. |
|
|
macbupda Trung tá  Bài viết: 11970  Lính của PTL | 
| Quảng Ninh – Lịch sử kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945-1954)« Trả lời #2 vào lúc: 17 Tháng Bảy, 2017, 08:14:39 pm » | *
Tỉnh Quảng Ninh ngày nay cũng như các tỉnh Hải Ninh, Quảng Yên, Đặc khu Hồng Gai (trong kháng chiến chống Pháp) là một trong những vùng đất có lịch sử lâu đời và đã có đóng góp xứng đáng vào lịch sử dân tộc.
Nhờ có điều kiện thiên nhiên thuận lợi, địa bàn chiến lược này dân cư ngày một tập trung đông, đến nay mật độ dân số lên tới 100 người trên một ki-lô-mét vuông. Bên cạnh bộ phận đông nhất là người Kinh còn có nhiều dân tộc anh em sinh sống chủ yếu ở vùng rừng núi, trong đó các nhóm người tương đối đông là người Tày, Sán Dìu, Sán Chỉ, Cao Lan, Dao, Hoa.
Về cơ cấu giai cấp ở Quảng Ninh trong kháng chiến chống Pháp, nông dân lao động chiếm số đông nhất. Tầng lớp phú nông, địa chủ chiếm một tỷ lệ thấp và ngày càng bị thu hẹp. Giai cấp công nhân và tầng lớp thợ thủ công tập trung chủ yếu ở các khu mỏ và các thị xã như Uông Bí, Hồng Gai, Cẩm Phả.
Qua đấu tranh với thiên nhiên và đấu tranh xã hội để tồn tại, nhân dân các dân tộc Quảng Ninh đã đóng góp to lớn sức mình vào công cuộc dựng nước và giữ nước.
Những phố phường, thôn xóm đã từng bước thực hiện sản xuất chuyên môn có nhiều sản phầm truyền thống và những sản phẩm mới có chất lượng và thẩm mỹ. Các công trình kiến trúc độc đáo và những nơi nghỉ mát nổi tiếng; những hệ thống đê sông, đê biển với chiều dài hàng trăm ki-lô-mét nói lên sự sáng tạo cần cù lao động của nhân dân Quảng Ninh.
Cùng với việc dựng nước, nhân dân các dân tộc Quảng Ninh đã bao đời đóng góp công sức và xương máu của mình vào công cuộc giữ nước.
Mỗi khi phát động chiến tranh xâm lược nước ta, kẻ thù thường tập trung lực lượng đánh chiếm vùng cửa ngõ đông – bắc. Về phía ta, do vị trí địa lý của mình, Quảng Ninh giữ một vai trò quan trọng về chiến lược trong chiến tranh giữ nước. Có lúc nhân dân các dân tộc Quảng Ninh đứng ở tuyến đầu chống quân xâm lược, cũng có khi là nơi đứng chân của các cơ quan đầu não – đại bản doanh của các cuộc kháng chiến chống quân xâm lược.
Năm 40 đầu Công nguyên, cùng với quân dân các địa phương vùng duyên hải, nhân dân Quảng Ninh đã anh dũng đứng lên hưởng ứng cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng. Với điều kiện trang bị kỹ thuật còn thô sơ và tình độ cơ động có hạn, quân xâm lược phương Bắc đã nhiều lần lấy sông Bạch Đằng làm đường tiến quân về Thăng Long. Nơi đây đã ba lần trở thành quyết chiến điểm mang ý nghĩa chiến lược của quân và dân ta vào các thời Ngô (938), Lê (981), Trần (1288). Trong các trận quyết chiến chiến lược ấy, nhân dân các dân tộc Quảng Ninh đã đóng góp biết bao xương máu và công sức của mình và chiến thắng chung của dân tộc.
Với tư tưởng “lấy đại nghĩa thắng hung tàn”, nhân dân ta đã tiến hành cuộc kháng chiến chống quân Minh xâm lược thắng lợi. Trong cuộc kháng chiến chống quân Minh, nhân dân các dân tộc Quảng Ninh dưới sự lãnh đạo của Lê Ngã chiến đấu trong hai năm 1419 – 1420, góp phần cùng cả nước đập tan ý chí xâm lược của nhà Minh.
Cái họa phương Bắc vừa dứt thì họa ngoại xâm của bọn thực dân tư bản lại đến. Khi thực dân Pháp xâm lược nước ta, nhân dân Quảng Ninh đã cùng nhân dân cả nước đứng lên chống Pháp.
Lúc đầu các phong trào chống Pháp của nhân dân Quảng Ninh vừa chịu ảnh hưởng của Việt Nam quang phục hội do Phan Bội Châu lãnh đạo, vừa là sự nối tiếp của phong trào Cần Vương, đồng thời có quan hệ ít nhiều với phong trào nông dân ở phía nam Trung Quốc. Phong trào chống Pháp của nhân dân Quảng Ninh cũng như cả nước phát triển hơn 20 năm.
Từ năm 1885 đến năm 1889 dưới sự lãnh đạo của Đốc Tít, nghĩa quân Đông Triều đã mở rộng địa bàn hoạt động chống Pháp tới thị xã Hải Dương. Năm 1891 hàng ngàn nghĩa quân do Lưu kỳ chỉ huy đã mở nhiều trận tiến công quân Pháp từ Đông Triều, Uông Bí, Quảng Yên, Hoành Bồ đến Hà Cối, Móng Cái.
Trong cuộc đấu tranh với thiên nhiên và xã hội, nhân dân các dân tộc Quảng Ninh luôn thủy chung, đoàn kết gắn bó với nhau trong tình làng nghĩa xóm, lao động cần cù nhẫn nại, yêu nước nồng nàn, vừa xây dựng vừa bảo vệ Tổ quốc. Từ khi có Đảng Cộng sản và Bác Hồ vĩ đại lãnh đạo cách mạng, những tính cách và truyền thống tốt đẹp của các dân tộc Quảng Ninh càng được bồi bổ và phát huy trở thành nhân tố cơ bản để xây dựng quê hương giàu mạnh. |
|
|