Quang Trung – Người anh hùng áo vải cờ đào
Nguyễn Thị Ánh Tuyết K13E.GDTH
Trong lịch sử dân tộc Việt Nam, có những vị anh hùng xuất thân bình dị nhưng bằng tài năng quân sự thiên tài, ý chí sắt đá và lòng yêu nước nồng nàn đã làm nên những chiến công hiển hách. Quang Trung – Nguyễn Huệ là một biểu tượng kiệt xuất như thế. Ông là nhà quân sự thiên tài, người thủ lĩnh kiệt xuất của phong trào Tây Sơn và là vị hoàng đế mang tầm vóc canh tân vĩ đại của dân tộc ở cuối thế kỷ XVIII.
Nguyễn Huệ sinh năm 1753 tại vùng Tây Sơn, phủ Quy Nhơn (nay thuộc huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định). Ông là em của Nguyễn Nhạc và là một trong ba anh em kiệt xuất lãnh đạo phong trào Tây Sơn. Xuất thân từ tầng lớp bình dân, Nguyễn Huệ sớm chứng kiến cảnh đất nước bị chia cắt Đàng Trong – Đàng Ngoài, chính quyền phong kiến suy tàn, nhân dân lầm than dưới sự áp bức của các tập đoàn phong kiến.
Từ nhỏ, Nguyễn Huệ đã nổi tiếng thông minh, dũng mãnh và văn võ toàn tài. Khi phong trào Tây Sơn bùng nổ, ông cùng các anh đứng lên phất cờ khởi nghĩa. Nghĩa quân Tây Sơn nhanh chóng tập hợp được đông đảo quần chúng nhân dân, liên tiếp đánh tan các thế lực phong kiến Nguyễn, Trịnh.
Nguyễn Huệ không chỉ có lòng dũng cảm phi thường mà còn sở hữu thiên tài quân sự bẩm sinh. Ông đã chỉ hữu hàng loạt chiến công lừng lẫy, từ trận Rạch Gầm – Xoài Mút (1785) đập tan 5 vạn quân Xiêm, cho đến cuộc tiến quân ra Bắc năm 1786 đánh đổ tập đoàn phong kiến họ Trịnh, đặt nền móng đầu tiên cho việc thống nhất đất nước sau hơn hai thế kỷ bị chia cắt.
Đặc biệt, cuối năm 1788, khi vua Lê Chiêu Thống cầu viện 29 vạn quân Thanh tràn sang xâm lược Đại Việt, đứng trước nguy cơ tồn vong của dân tộc, Nguyễn Huệ đã có quyết định mang tính lịch sử. Ngày 22 tháng 12 năm 1788 (tức ngày 25 tháng 11 năm Mậu Thân), tại núi Bân (Phú Xuân - Huế), Nguyễn Huệ chính thức lên ngôi Hoàng đế, lấy niên hiệu là Quang Trung, rồi lập tức chiêu mộ quân sĩ, thần tốc tiến quân ra Bắc.
Tại Nghệ An, Vua Quang Trung đã đọc bài hịch tuyển quân bất hủ, khơi dậy mạnh mẽ khí thế dũng mãnh của binh sĩ:
"Đánh cho để dài tóc,
Đánh cho để đen răng,
Đánh cho nó bánh xé không quay,
Đánh cho nó giáp phụ không hoàn,
Đánh cho sử知Nam quốc anh hùng chi hữu chủ!"
Cuộc tiến quân ra Bắc của triều đại Tây Sơn đã trở thành một huyền thoại về nghệ thuật hành quân thần tốc. Bằng cách luân phiên "hai người khiêng một người nằm võng" để quân sĩ vừa đi vừa được nghỉ ngơi, đội quân Tây Sơn đã vượt hàng trăm cây số núi rừng trong thời gian kỷ lục mà vẫn giữ nguyên sức chiến đấu.
Vào đêm 30 Tết Kỷ Dậu (1789), trong khi quân Thanh đang chủ quan đón Tết, quân Tây Sơn bất ngờ mở cuộc đại tiến công. Trận đánh quyết định diễn ra tại hệ thống đồn lũy Ngọc Hồi – Đống Đa. Với sự kết hợp tài tình giữa bộ binh, tượng binh và hỏa công, quân Tây Sơn đã đập tan các tuyến phòng thủ kiên cố của địch. Tướng giặc Hứa Thế Hanh bị thắt cổ tại trận, Sầm Nghi Đống thắt cổ tự tử trên gò Đống Đa, còn Tổng đốc Tôn Sĩ Nghị phải hoảng loạn bỏ chạy về nước.
Mùng 5 Tết Kỷ Dậu 1789, Vua Quang Trung tiến vào thành Thăng Long giữa sự reo hò mừng rỡ của nhân dân. Bức ảnh vị vua trẻ khoác tấm áo bào sạm đen khói súng đứng trên chiến thuyền lịch sử đã trở thành biểu tượng kiên cường bất khuất của dân tộc. Chiến thắng Ngọc Hồi – Đống Đa đã giải phóng hoàn toàn Thăng Long, đập tan mộng xâm lược của nhà Thanh.
Sau chiến thắng, Vua Quang Trung lập tức bắt tay vào việc phục hồi và phát triển đất nước. Ông ban hành "Chiếu khuyến nông" để khôi phục sản xuất, ban "Chiếu lập học" mở mang giáo dục, đồng thời thành lập Viện Sùng Nôm do danh sĩ Nguyễn Thiếp đứng đầu nhằm đề cao chữ Nôm — tiếng nói và văn hóa của dân tộc. Trong đối ngoại, ông thể hiện sự khôn khéo phi thường khi chủ động hàn gắn quan hệ ngoại giao với nhà Thanh để giữ vững hòa bình, tranh thủ thời gian phục hồi đất nước.
Đáng tiếc thay, khi bao nhiêu dự định canh tân đất nước hùng cường còn đang dở dang thì ngày 16 tháng 9 năm 1792 (nhâm tuất), Vua Quang Trung đột ngột qua đời khi mới 39 tuổi. Sự ra đi của ông là một tổn thất vô cùng to lớn cho triều đại Tây Sơn và lịch sử dân tộc.
Dù thời gian trị vì ngắn ngủi, Quang Trung – Nguyễn Huệ đã để lại một di sản vĩ đại. Ông không chỉ là một thiên tài quân sự với lối đánh "thần tốc, bất ngờ, táo bạo", mà còn là một nhà chính trị tài ba, một "người anh hùng áo vải cờ đào" luôn mang trong mình khát vọng độc lập, tự cường và ấm no cho nhân dân. Tên tuổi của ông sẽ mãi mãi vang vọng cùng chiến công mùa xuân Kỷ Dậu 1789 trong lịch sử Việt Nam.



