QUANG TRUNG – NGUYỄN HUỆ: THIÊN TÀI QUÂN SỰ VÀ TẦM VÓC LỊCH SỬ CỦA DÂN TỘC VIỆT NAM
Vua Quang Trung tên thật là Nguyễn Huệ sinh năm 1753, mất năm 1792, quê gốc ở Nghệ An nhưng sinh ra tại Bình Định. Cùng với hai người anh em của mình là Nguyễn Nhạc và Nguyễn Lữ, ông là một trong những thủ lĩnh kiệt xuất khởi xướng nên phong trào nông dân Tây Sơn vào cuối thế kỷ 18. Ông là thiên tài quân sự kiệt xuất và nhà chính trị tầm nhìn xa trông rộng của dân tộc Việt Nam. Trận đại phá 29 vạn quân Thanh mùa xuân Kỷ Dậu (1789) với các chiến công lẫy lừng Hà Hồi, Ngọc Hồi, Đống Đa chính là đỉnh cao nghệ thuật quân sự thần tốc của ông. Không chỉ bảo vệ vững chắc độc lập bờ cõi, ông còn đặt nền móng thống nhất đất nước và thực hiện nhiều cải cách tiến bộ. Ca ngợi công lao vĩ đại đó, công chúa Ngọc Hân từng viết: "Mà nay áo vải cờ đào, Giúp dân dựng nước, xiết bao công trình." Dù qua đời khi dự định còn dở dang, tầm vóc của ông mãi là biểu tượng bất tử cho chí khí tự cường dân tộc.
Trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam, Quang Trung – Nguyễn Huệ nổi lên như một thiên tài quân sự kiệt xuất, một vị anh hùng áo vải mang tầm vóc đại tài. Không chỉ ghi dấu ấn đậm nét bằng những chiến công lẫy lừng quét sạch hàng vạn quân xâm lược, ông còn là người đặt nền móng quan trọng cho sự thống nhất đất nước và đề ra những chính sách cải cách tiến bộ. Qua đó ta thấy vua Quang Trung chính là biểu tượng tự hào cho tinh thần quật cường và ý chí tự chủ của dân tộc.
Vua Quang Trung tên thật là Nguyễn Huệ sinh năm 1753, mất năm 1792, quê gốc ở Nghệ An nhưng sinh ra tại Bình Định. Cùng với hai người anh em của mình là Nguyễn Nhạc và Nguyễn Lữ, ông là một trong những thủ lĩnh kiệt xuất khởi xướng nên phong trào nông dân Tây Sơn vào cuối thế kỷ 18. Trong lịch sử quân sự Việt Nam, Nguyễn Huệ được đánh giá là một vị tướng toàn năng và "bất bại". Quân sự của ông nổi bật với tư tưởng tiến công mãnh liệt, chiến thuật di chuyển thần tốc, bất ngờ và khả năng tập trung lực lượng đè bẹp đối phương trong thời gian ngắn nhất, đặc biệt, tất nhiên không thể không kể đến trận đánh Hà Hồi, Ngọc Hồi và Đống Đa - đó chính là chuỗi chiến công lẫy lừng, thể hiện đỉnh cao nghệ thuật quân sự của vua Quang Trung cũng như sự phối hợp ăn ý giữa nghĩa quân Tây Sơn và nhân dân Thăng Long.
Cuối năm 1788, lợi dụng vua Lê Chiêu Thống cầu cứu, nhà Thanh đã nhanh chóng thành lập bộ máy chiến tranh lớn, Tôn Sĩ Nghị làm tổng chỉ huy đem 29 vạn quân sang xâm lược nước ta. Tôn Sĩ Nghị đã chia làm hai đạo với đạo một do Tôn Sĩ Nghị chỉ huy, sẽ đi từ Quảng Tây đến thành Thăng Long; đạo hai do Ô Đại Kinh chỉ huy, đi từ Tuyên Quang tiến xuống, ngoài ra còn có một đạo do Sầm Nghi Đống chỉ huy được đóng thuyền ở Hải Dương. Tôn Sĩ Nghị vào được Thăng Long một cách dễ dàng còn giáp Tết Nguyên đán, hắn đã cho quân tạm nghỉ chuẩn bị ăn tết và dự tiến mồng 6 tháng Giêng năm Kỷ Dậu tức ngày 31 tháng 1 năm 1789 sẽ tiến vào Phú Xuân, bắt sống Nguyễn Huệ. Trước đó, hắn đã cho đạo mà mình chỉ huy đóng quân ở hai bên bờ sông Nhị, đặt đại bản doanh ở cung Tây Long phía đông nam thành Thăng Long. Trước thế mạnh của giặc, quân Tây Sơn rút khỏi thành Thăng Long, quân thuỷ đóng ở Biện Sơn, quân bộ đóng ở Tam Điệp vào ngày 7 tháng 12 năm 1788. Sau khi nhận tin quân Thanh vượt sông Nhị sang xâm lược nước ta vào tối ngày 16 tháng 12 tháng 1788, Nguyễn Huệ đã lên ngôi Hoàng đế, lấy niên hiệu là Quang Trung chỉ huy 5 đạo quân tiến ra Thăng Long. Đêm ngày 25 tháng 1 năm 1789 tức đêm 30 tết, quân ta bí mật, bất ngờ tiêu diệt địch ở các đồn tiền tiêu, vượt sông Gián Khẩu, mở màn chiến dịch lớn. Thừa thắng, quân ta tiến đến Phú Xuyên, phá gần một nửa tuyến phòng thủ của địch. Có một điều nếu tìm hiểu, ta sẽ biết vào ngày 26 tháng 1 năm 1789 tức mồng 1 tết Kỷ Dậu, vua Quang Trung đã đứng trước toàn thể quân sĩ, làm lễ cúng tế, cho quân sĩ ăn Tết sớm rồi dõng dạc tuyên bố câu nói lịch sử đó để khích lệ tinh thần quân sĩ trước khi chính thức mở cuộc tổng tấn công ra Bắc cụ thể như sau:
"Lần này ta ra, tự tay chỉ huy binh lính, đánh đại phá quân Thanh, quét sạch bóng dáng giặc ra khỏi bờ cõi. Nhất định mồng 7 Tết ta sẽ vào Thăng Long mở tiệc ăn Tết. Các ngươi hãy chuẩn bị sẵn sàng, ra sức mà đánh!"
Đến nửa đêm mồng 3 tết Kỷ Dậu, ngày 28 tháng 1 năm 1789, quân Tây Sơn và dân địa phương bí mật bao vây đồn Hà Hồi rồi bắc loa gọi hàng. Quân Thanh bị bao vây bất ngờ, hoảng sợ, hạ vũ khí đầu hàng. Quân Tây Sơn thu được vũ khí, lương thực mà không tốn đạn dược. Vào Mồng 5 tết Kỷ Dậu, ngày 30 tháng 1 năm 1789, Quang Trung đã trực tiếp chỉ huy, mở cuộc tấn công vào đồn Ngọc Hồi, sức mạnh áp đảo của đội hình voi chiến khiến quân địch hốt hoảng tan ra ngay khi chưa kịp giao tranh, sau đó, ông phá tan đồn luỹ, diệt toàn bộ quân địch; chiến thắng này đã mờ ra con đường giải phóng kinh thành, khiến đại bản doanh của Tôn Sĩ Nghị tại cung Tây Long sụp đổ hoàn toàn. Cũng trong đêm mồng 4 rạng mồng 5 hôm đó, đạo quân của Đặng Tiến Đông tấn công bất ngờ vào đồn Đống Đa, nhân dân xung quanh lập trận “rồng lửa” từ những con rồng bằng rơm tẩm dầu, tạo thế trận vây quanh khiến quân Thanh kinh hồn nạt vía, Sầm Nghi Đống tuyệt vọng tự tử. 29 vạn quân Thanh cứ thế tiêu tan chỉ trong chưa đầy 6 ngày, tức là còn sớm hơn 2 ngày so với dự định của Quang Trung. Sự kết nối thần tốc, nhịp nhàng giữa ba trận đánh này đã khẳng định tư tưởng chiến thuật "đánh nhanh, thắng nhanh, tạo bất ngờ tuyệt đối" của thiên tài quân sự Quang Trung, đồng thời biến mùa xuân Kỷ Dậu 1789 trở thành biểu tượng bất tử cho ý chí quật cường của dân tộc Việt Nam.
Năm 1851, khi Nguyễn Đăng Giai cho đào đất đắp đường, mở chợ, người Hà Nội tìm thấy nhiều xương cốt, nhặt đem chôn vào một hố, đắp thành gò 13 chính là gò Trung Liệt hay gọi là gò Đống Đa hiện nay. Trên các gò đất hoang vu, cây cối mọc nhiều nhất là cây đa nên nhân dân thường gọi là “xứ Đống Đa” hay “gò Đống Đa”.
Trận đánh bất ngờ vào đồn Đống Đa của quân Tây Sơn có xuất hiện “rồng lửa” được ghi chép trong sử sách cũng như trong dân gian. Nhà thơ Ngô Ngọc Du đã ghi lại cảnh đó trong bài thơ Long thành quang phục kì thực. Trong đó có câu:
“... Một trận rồng lửa giặc tan tành
Bỏ thành cướp đò chạy cho nhanh...”
Cuối bài thơ có ghi:
“Khi Tây Sơn đánh đồn Khương Thượng dân ở 9 làng ngoại thành bện rơm thành hình rồng, tẩm dầu đốt, đánh trận rồng lửa”.
Tại làng Mọc có ông thợ mộc đã hiến kế cho nghĩa quân Tây Sơn dùng nùn rơm để đốt trại giặc. 9 làng ngoại thành đó chính là các làng quanh đồn Khương Thượng gồm 6 làng Mọc; 3 làng Gừng. Hiện nay tên các làng đã trở thành tên các con phố của Hà Nội.
Phong trào Tây Sơn đã có nhiều đóng góp lớn đối với lịch sử dân tộc, giúp lật đổ các chính quyền phong kiến Nguyễn, Trịnh, xoá bỏ tình trạng chia cắt Đàng Trong - Đàng Ngoài, đặt cơ sở cho việc khôi phục nền thống nhất quốc gia. Đồng thời đánh tan các cuộc xâm luọc của Xiêm, Thanh, bảo vệ vững nền độc lập và chủ quyền lãnh thổ của Tổ Quốc. Ca ngợi công lao của vua Quang Trung, công chúa Ngọc Hân đã viết:
“Mà nay áo vải cờ đào,
Giúp dân dựng nước, xiết bao công trình.”
Sau chiến thắng đại phá 29 vạn quân Thanh vào mùa xuân Kỷ Dậu 1789, vua Quang Trung không còn phải trực tiếp cầm quân đánh trận lớn nào nữa. Ông đã đã thi hành chính sách ngoại giao cực kỳ khôn khéo, buộc nhà Thanh là vua Càn Long phải công nhận ông là quốc vương hợp pháp của Đại Việt và từ bỏ hẳn mộng xâm lược. Từ năm 1789 đến 1792, vua Quang Trung dồn toàn bộ sức lực vào việc ban hành các chính sách cải cách đất nước về nông nghiệp giáo dục, thương mại và xây dựng Phượng Hoàng Trung Đô (Nghệ An thời nay). Ông thực ra từng lên kế hoạch đại chiến với quân Nguyễn Ánh ở phía Nam cũng như đòi lại các vùng đất biên giới phía Bắc từ nhà Thanh. Tuy nhiên, khi các kế hoạch này đang chuẩn bị thực hiện thì ông đột ngột qua đời vào năm 1792 khi mới chỉ 39 tuổi.
Vua Quang Trung – Nguyễn Huệ tuy qua đời khi tuổi đời còn khá trẻ và nhiều dự định cải cách còn dở dang, nhưng tầm vóc cùng những chiến công lẫy lừng của ông đã trở thành trang sử vàng chói lọi của dân tộc. Ông không chỉ là một nhà quân sự thiên tài với những trận đánh đi vào lịch sử mà còn là một nhà chính trị tầm nhìn xa trông rộng. Học tập và nhớ ơn vị anh hùng áo vải Tây Sơn chính là nhắc nhở thế hệ hôm nay luôn tự hào và tiếp nối tinh thần yêu nước, chí khí tự cường của dân tộc Việt Nam.



