QUÊ HƯƠNG - GIA ĐÌNH VÀ TUỔI THƠ PHẠM QUANG LỄ
Từ thành phố Hồ Chí Minh đi về miền Tây Nam Bộ qua Long An, Mỹ Tho - Tiền Giang, vượt cầu Mỹ Thuận trên sông Tiền, bạn sẽ đến tỉnh Vĩnh Long, một tỉnh trung tâm của đồng bằng sông Cửu Long. Đây là vùng đồng bằng thẳng cánh cò bay, không núi đồi, không giáp biển, một màu xanh bao la từ sông Tiền ở phía bẳc đến sông Hậu ở phía nam, tiếp giáp các tỉnh Đồng Tháp, Tiền Giang, Bến Tre, Trà Vinh, Hậu Giang và thành phố cần Thơ.
QUÊ HƯƠNG - GIA ĐÌNH VÀ TUỔI THƠ PHẠM QUANG LỄ
Từ thành phố Hồ Chí Minh đi về miền Tây Nam Bộ qua Long An, Mỹ Tho - Tiền Giang, vượt cầu Mỹ Thuận trên sông Tiền, bạn sẽ đến tỉnh Vĩnh Long, một tỉnh trung tâm của đồng bằng sông Cửu Long. Đây là vùng đồng bằng thẳng cánh cò bay, không núi đồi, không giáp biển, một màu xanh bao la từ sông Tiền ở phía bẳc đến sông Hậu ở phía nam, tiếp giáp các tỉnh Đồng Tháp, Tiền Giang, Bến Tre, Trà Vinh, Hậu Giang và thành phố cần Thơ.
Vĩnh Long là miền quê địa linh nhân kiệt nổi tiếng, đã sinh ra những anh hùng, những chiến sĩ cách mạng xuất sắc, tiêu biểu là Cố Thủ tướng Phạm Hùng, cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt.
Ngày 13 tháng 9 năm 1913, trên bờ sông Măng Thít, xã Chánh Hiệp (nay là xã Hòa Hiệp), huyện Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long, cậu bé Phạm Quang Lễ, một tài năng khoa học xuất chúng trong tương lai đã cất tiếng chào đời trong một gia đình nhà giáo nghèo. Anh sinh ra cùng thời với Phạm Hùng, là bạn đồng hương, cùng trường lớp trong những năm hai mươi, của thế kỷ hai mươi khi phong trào đấu tranh của nhân dân ta chống ách thống trị của thực dân Pháp đang phát triển mạnh mẽ. Đôi bạn học sinh đồng hương Vĩnh Long ngay trên ghế nhà trường đã nặng tình yêu nước, căm thù giặc ngoại xâm sâu sắc và đã chọn hai con đường đi khác nhau để bước vào đời, nhưng cùng chí hướng là phụng sự Tổ quốc, đánh đuổi thực dân Pháp, giải phóng quê hương, đất nước.
Phạm Quang Lễ là con thứ hai của ông giáo Phạm Văn Mùi (1881 - 1920) và bà Lý Thị Diệu (1881 - 1941). Chị gái Phạm Thị Nhẫn (1911 - 1937) hơn em trai Lễ hai tuổi.
Cụ ông Phạm Văn Mùi và Cụ bà Lý Thị Diệu song thân của Viện sĩ Trần Đại Nghĩa Phạm Quang Lễ sinh ra ở quê ngoại, quê nội của anh ở Thủ Dầu Một tỉnh Bình Dương. Ông giáo Phạm Văn Mùi là một nhà nho uyên thâm, hiểu biết rộng “Trên biết thiên văn, dưới tường địa lý, giữa biết lòng người”. Thời thế thay đổi nên từ những năm đầu của thế kỷ hai mươi, ông đã chuyển qua học tiếng Pháp và đỗ thành chung (tương đương lớp 9 ngày nay nhưng trình độ cao hơn nhiều). Sau đó, ông chuyển về dạy học ở trường tiểu học Vĩnh Long. Là một thầy giáo giỏi, đầy tâm huyết, ông được cử dạy lớp nhất (tương đương lớp 5 ngày nay). Đây là lớp cuối-cấp, học sinh tốt nghiệp sẽ được thi vào trung học. Ông là một thầy giáo tận tụy với công việc, thương yêu học sinh, mong muốn đem kiến thức đến cho con em nhà nghèo để mở mang trí tuệ. Vì vậy, ngoài việc dạy ở trường, một số buổi tối ông còn kèm cặp, hướng dẫn cho học sinh kém mà không lấy tiền. Đồng nghiệp và bà con làng xóm rất quý mến và kính trọng ông giáo Mùi.
Ở Vĩnh Long một thời gian, ông kết duyên cùng bà Lý Thị Diệu, quê ở Chánh Hiệp, Tam Bình. Ngày ấy, bà là một thiếu nữ thôn quê xinh đẹp, hiền lành, nết na, tôn sùng Đạo Phật, luôn làm những việc phúc đức. Bà là một người vợ đảm đang, chăm lo việc nhà để chồng toàn tâm vào việc dạy học, và là người mẹ hiền nhưng rất nghiêm khắc với con trong việc học hành, đạo đức tư cách, cư xử hàng ngày. Bà đã trọn đời chịu đựng mọi vất vả, hy sinh vì chồng, vì con.
Gia đình ông giáo Phạm Văn Mùi là một gia đình mang đậm nét của truyền thống gia đình Việt Nam, là chiếc nôi nuôi dưỡng phẩm chất nhân cách, ý chí và tài năng của Phạm Quang Lễ.
Tuổi thơ của Phạm Quang Lễ cũng ham chơi, đua đòi theo bạn bè trèo cây, hái quả, bắt cá, bẫy chim, đánh bi, đánh đáo, nhưng cũng đã có những lúc trầm ngâm, suy tưởng. Có lần ông giáo Mùi thấy Lễ ngồi yên hàng giờ nhìn trời, nhìn cây đăm chiêu quan sát. Ông giáo nhận thấy cậu con trai có những nét suy xét tĩnh lặng sau những giờ phút nô đùa, đặc biệt là sau trận đòn của má vì trốn học đi chơi. Sớm nhận ra điều đó, ông giáo Mùi không bao giờ gay gắt với con, ngay cả khi Lễ mắc lỗi lầm. Ông ôn tồn giảng giải, gợi ý để con suy nghĩ. Ông cũng bàn với vợ cách dạy con, để khơi dậy trong con tính tự giác, lòng tự trọng và niềm dam mê để chăm lo việc học hành. Những giờ phút cha con bên nhau tâm sự, ông giáo Mùi trở thành một người thầy, người bạn thân thiết gieo vào lòng con một niềm tin để tự sửa khuyết điểm, để quyết tâm vươn lên. Ông thực sự đã có ảnh hưởng lớn đến ý chí vươn lên sau này của cậu bé Phạm Quang Lễ.


