Bài viết

Quê Hương – Thứ Chúng Tôi Mang Theo Đến Tận Cùng Bom Đạn

Câu chuyện là hồi ức của cựu chiến binh Bùi Văn Tấn, người lính Yên Bình lên đường nhập ngũ năm 1968, mang theo lời dặn của cha và tình yêu quê hương Thác Bà – Vũ Linh. Trải qua chiến trường Đường 9 – Nam Lào khốc liệt và mất mát người bạn thân Khải, ông trở về quê hương ngày hòa bình trong niềm xúc động. Giờ đây, ông kể lại cho con cháu để nhắc thế hệ trẻ Yên Bình trân trọng quá khứ, giữ bản lĩnh miền núi và tình yêu quê hương mà bao người lính đã hy sinh để bảo vệ.

Lào Cai26/11/2025Lê Bảo Ngọc (Chi đoàn 10A8, Đoàn trường THPT Trần Nhật Duật)2 lượt xem0 lượt chia sẻ

Tôi là Bùi Văn Tấn, năm nay bảy mươi năm tuổi. Sinh ra và lớn lên ở chân đồi chè Vũ Linh, nơi sáng ra thấy sương phủ trắng, chiều lại nghe tiếng mái chèo đập nước hồ Thác Bà. Giờ tóc bạc rồi, nhưng cứ chiều ngồi nhìn mặt hồ phẳng lặng, tôi lại nhớ những năm tháng mà đồi núi Yên Bình tiễn chúng tôi ra trận.

Tôi nhập ngũ đầu năm 1968. Ngày tôi đi, bố tôi chống gậy đứng ở bãi đất trước sân, chỉ nói đúng một câu:

“Nhà mình nghèo cũng được, nhưng Yên Bình không thể nghèo người giữ nước.”

Câu ấy theo tôi suốt mấy năm ròng ngoài chiến trường.

Đơn vị tôi được điều vào mặt trận Đường 9 – Nam Lào. Đất ở đây đỏ quánh, trời thì đầy tiếng pháo. Anh em trong tiểu đội ai cũng còn trẻ, vậy mà chỉ mới mấy tháng, mái tóc đen đã sạm bụi đường quân sự.

Tôi thân nhất với thằng Khải – nó người xã Đại Đồng, huyện Yên Bình. Nhà nó gần hồ Thác Bà, ngày nào cũng chèo thuyền phụ bố kéo vó. Lúc hành quân trong rừng, Khải hay nói:

“Hết giặc, tao về lại Yên Bình, tao đi câu cả ngày. Nước hồ rộng thế, câu mãi chẳng hết cá đâu.”

Có những đêm nằm võng giữa rừng, bom giội xa xa mà tiếng nó vẫn khe khẽ cười. Nó bảo người Yên Bình quen sông nước, quen trời đất, đi đâu cũng vững.

Nhưng rồi trận đánh ở cao điểm 500 năm 1971 đã lấy mất tiếng cười ấy.

Hôm đó pháo nổ gần như không dứt. Cả đơn vị phải giữ trận địa đến viên đạn cuối cùng. Tôi còn nhớ Khải chạy ngang qua hầm tôi, miệng vẫn cười:

“Hết trận này, tao với mày về Vũ Linh uống rượu mận!”

Chỉ vài phút sau, một quả pháo rơi sát mép hầm. Khi tôi lao đến thì Khải đã nằm yên, bàn tay vẫn nắm chặt miếng khăn vải mẹ nó gửi.


Ngày hòa bình, tôi trở về Yên Bình. Đồi chè Vũ Linh xanh hơn trước. Hồ Thác Bà nước đầy trong. Bọn trẻ con chạy tung tăng giữa đê, còn người lớn thì dựng nhà, mở xưởng, làm kinh tế mới.

Tôi đứng bên hồ, nhìn mặt nước loang ánh chiều mà thấy cay nơi sống mũi. Tôi nghĩ đến Khải – nếu nó còn sống, chắc nó sẽ lại chèo thuyền ra giữa hồ mà huýt sáo ầm cả buổi.

Giờ đây, mỗi khi kể cho con cháu, tôi vẫn nói:

“Thanh xuân của chúng tôi gửi lại ở những cánh rừng xa lạ. Nhưng trái tim thì lúc nào cũng hướng về Yên Bình. Vì quê hương là thứ người lính mang theo đến tận cùng bom đạn.”

Tôi mong thế hệ trẻ Yên Bình hôm nay – dù sinh ra trong hòa bình – vẫn giữ được cái bản lĩnh của người miền núi,cái tình của đất Thác Bà,và biết trân trọng những năm tháng mà bao người đã ngã xuống để quê mình được yên bình như bây giờ.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn
Quê Hương – Thứ Chúng Tôi Mang Theo Đến Tận Cùng Bom Đạn | Câu chuyện thời hoa lửa