QUYỂN NHẬT KÝ VÀ TẬP THƠ GHI TRONG LỬA ĐẠN (1)
"... Dù cho còn một giọt máu, cháu sẵn sàng hiên ngang trút hơi thở cuối cùng
cho mảnh đất quê hương...". Đấy là dòng nhật ký của dũng sĩ Bùi Văn Rê ghi
trong kháng chiến chống Mỹ. Ông hiên ngang đi qua lửa đạn đến ngày toàn
thắng.
24/10/2025 01:23 1835
Bám trụ trên quê hương khói lửa
Thượng úy Võ Hữu Thọ (71 tuổi, nguyên Trưởng ban Tuyên huấn Trung đoàn
270, Quân khu 5, sinh sống tại P.Trà Câu, Quảng Ngãi) cho rằng 54 năm
trước mình ở lại miền Nam chiến đấu là đúng đắn. Ông nhớ lại đêm 4.9.1971,
lãnh đạo Ban Binh vận tỉnh Quảng Ngãi cử người đưa ông lên căn cứ để ra
Bắc học tập và chữa bệnh sau những ngày bị đối phương đọa đày trong ngục
tù. Bởi người nhỏ con và khai sinh chậm 2 năm so với tuổi thật nên ông được
bố trí đi cùng đoàn thiếu niên ra miền Bắc học tập.
Theo đường Trường Sơn ra gần đến sông Bến Hải, ông đổi ý, trở về quê
hương. "Khi ấy, cha tôi cùng 3 anh chị công tác và học tập ở ngoài đó. Vậy
nên tôi được cấp trên đưa ra Bắc chữa bệnh và học tập bên người thân.
Nhưng ra gần đến sông Bến Hải gặp bộ đội rầm rập từ Bắc vào Nam, tôi nghĩ
nếu đi thì mình có thể sống nhưng biết bao thanh niên vào Nam chiến đấu thì
sao mình lại đi? Thế là tôi theo bộ đội quay vào, trình bày nguyện vọng với
lãnh đạo cơ quan binh vận và không bị kỷ luật...", ông kể.
Ông Trần Tấn Dũng (phải) từng băng bó và cõng ông Võ Hữu Thọ (trái) đến
nơi cấp cứu
Ông Thọ học y tá rồi phục vụ du kích Xã đội Phổ Thuận (giờ sáp nhập thành
P.Trà Câu, Quảng Ngãi). Sau đó, ông chuyển sang Đại đội 219 (Huyện đội
Đức Phổ), cứu chữa thương binh cùng nhân dân và cầm súng chiến đấu bảo
vệ quê hương. Khi ông được kết nạp vào Đảng, chỉ huy đơn vị gợi ý ông ra
Bắc học bác sĩ hoặc học chính trị ở miền Nam. Thế là ông xin học lớp bồi
dưỡng chính trị với thời gian 3 tháng rồi chuyển sang một số đơn vị bộ đội.
Đầu năm 1975, ông bị thương nặng khi tham gia trận đánh Gò Sỏi (phía bắc
Quảng Ngãi). Khi ấy, ông là Chính trị viên Đại đội 2, Tiểu đoàn 81, Trung
đoàn 94, Tỉnh đội Quảng Ngãi. Ông Trần Tấn Dũng (69 tuổi, ở P.Trà Câu)
nhớ lại: "Lúc đó, tôi là chiến sĩ liên lạc nên đi cùng anh Thọ trong những trận
đánh. Anh gan dạ nên nhiều anh em nể phục. Trận đó, anh bị thương nặng,
chính tay tôi băng bó rồi cõng đến Trạm xá tiền phương Tiểu đoàn 81".
Thượng tướng Hoàng Minh Thảo (hàng đầu, thứ 5 từ phải sang) chụp ảnh
cùng dũng sĩ Bùi Văn Rê (hàng đầu, thứ 2 từ trái sang) và các đại biểu tham
dự Đại hội Anh hùng các lực lượng vũ trang miền Nam đầu năm 1974 tại tỉnh
Bình Phước
Tương tự, nhiều bậc cao niên vùng quê phía nam Quảng Ngãi vẫn thường
nhắc về sự kiên cường bám trụ quê hương của dũng sĩ Bùi Văn Rê (Xã đội
trưởng Phổ Cường trong kháng chiến chống Mỹ, nay sáp nhập thành xã
Khánh Cường) cùng quyển nhật ký và tập thơ ghi trong lửa đạn. Tuổi 12, ông
Rê làm liên lạc cho ông Võ Thủ (Bí thư Xã ủy Phổ Cường, hy sinh tháng
3.1963) và nhiều cán bộ, du kích. Sự thông minh, gan dạ giúp ông bao lần
thoát khỏi sự truy lùng của đối phương, mang công văn, tin tức cho cán bộ.
Rồi ông tham gia du kích, trực tiếp cầm súng chiến đấu. Bom đạn 5 lần gây
thương tích nặng nhưng ông nhất quyết xin ở lại miền Nam thay vì ra Bắc
điều trị và học tập.
Những dòng nhật ký với tinh thần anh dũng, sẵn sàng hy sinh cho quê
hương: "Chú Ba! Trong lúc cháu còn đang điều trị, cháu nhớ mãi hôm chú
đến thăm cháu. Động viên cháu đi… để có điều kiện chữa bệnh và ăn học.
Điều tâm huyết của cháu, chú cũng chưa chấp nhận, là cháu sẽ ở lại. Dù cho
còn một giọt máu, cháu sẵn sàng hiên ngang trút hơi thở cuối cùng cho mảnh
đất quê hương. Cháu mong chú sống mãi để sau này chú nghĩ đến cháu thì
chỉ cần nhắc lại lời tâm huyết của cháu, thế thôi. Nhưng rồi chú đâu còn
nữa… Thôi thì cháu sẽ nguyện cùng chú, thản nhiên ngã xuống cho mảnh đất
này cũng đủ rồi...".
Dũng sĩ Bùi Văn Rê (qua đời năm 2004 - PV) ghi những dòng tâm sự với Anh
hùng lực lượng vũ trang nhân dân Châu Thọ Chín (hy sinh tháng 4.1972): "…
Như chú T. nói thì anh sẽ đi miền Bắc. Theo anh là anh không đi. Thà anh em
ta chỉ có giờ cuối cùng... Anh nhắc lại với em rằng: Thà 20 năm ngắn ngủi
cuộc đời còn hơn sống trăm năm vô vị".
Chân dung dũng sĩ Bùi Văn Rê
Gửi lại tuổi thanh xuân và một phần thân thể tại chiến trường, ông Rê có 7 lần
được phong tặng dũng sĩ cùng nhiều huân chương, huy chương cao quý.
Ông được cấp trên cử tham dự Đại hội anh hùng các lực lượng vũ trang miền
Nam đầu năm 1974. Cuối năm đó, ông là thành viên đoàn đại biểu Quân giải
phóng miền Nam ra Hà Nội tham dự lễ đón nhận Huân chương Sao vàng
nhân dịp 30 năm ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam
Đầu năm 1975, ông được cử sang Liên Xô học quân sự nhưng nhất quyết xin
trở về khi những đoàn quân rầm rầm tiến vào giải phóng miền Nam. "Năm
1970, tôi làm cơ sở bí mật do anh Rê phụ trách. Sau đó, tôi tham gia du kích
rồi về Đại đội đặc công 120, Huyện đội Đức Phổ. Anh Rê là người chỉ huy
chiến đấu rất tài tình khiến cho địch khiếp sợ, xứng đáng được truy tặng danh
hiệu anh hùng. Ngày anh qua đời, bà con và bạn bè đưa tiễn đông lắm...",
ông Dương Nhơn (73 tuổi, ở xã Khánh Cường) tâm sự.
Bà Nguyễn Thị Sáu (vợ dũng sĩ Bùi Văn Rê) nâng niu nhật ký của chồng
Thơ gửi non sông
Giữa lúc sự sống và chết chỉ trong gang tấc, ông Rê vẫn bình thản viết những
câu thơ động viên thanh niên hăng hái tham gia đánh trả quân thù. Những
vần thơ cháy bỏng tình yêu quê hương:
"Bao đau khổ của đồng bào yêu dấu/Dưới bàn tay, loạt súng của quân
thù/Chốn chiến trường đang gọi khách chinh phu/Đang chờ đợi những tâm
hồn yêu nước/Đem xương máu để chặn đường xâm lược/Dẫu hy sinh chiến
đấu vẫn cam lòng/Đây những lời tâm huyết của em mong/Để ký thác cho
người yêu tha thiết/Không anh ạ! Ngày hôm nay tạm biệt/Bước thành công
rạng rỡ của ngày mai"./Và hẹn ngày sum họp lứa đôi:/Anh ra đi những ngày
xa vắng/Nhẹ tình em nhưng nặng nghĩa đồng bào/Vui lên anh, xin đừng ngại
gian lao/Đừng lưu luyến trước giờ ly biệt/Này anh ạ! Đây những lời tâm
huyết/Của người yêu tạm biệt lúc xa anh/Em nguyện giữ ngày mai tươi thắm
mãi/Đợi anh về với khúc khải hoàn ca/Ngày ấy là ngày xuân trở lại/Cũng là
ngày duyên thắm của đôi ta".
Từ Bắc về Nam ghé thăm quê nhà Quảng Ngãi, dũng sĩ Bùi Văn Rê hào hứng
khi sắp vào trận chiến cuối cùng với những vần thơ:
"Đêm nay về đến sông Trà/Chắc là phương Bắc, Hồng Hà dõi theo/Sông Trà
dòng nước trong veo/Mênh mang gió mát qua chiều mùa xuân/Nhớ ai lòng dạ
bâng khuâng/Đường ra phía trước dừng chân chốn này/Trên đường đi của
ngày mai/Tin này biết nhắn cho ai bây giờ/Đêm qua trong một giấc mơ/Trên
đường ra trận tình cờ gặp nhau/Tay cầm một lá cờ sao/Vai mang khẩu súng,
vẫy chào đoàn quân/Nhận ra nhau, vừa giận vừa mừng/Tiễn người ra trận xin
đừng quên nhau/Giữa phố phường, người dõi ngóng theo/Hai ta cùng hẹn
chờ nhau ngày về".
Quê hương giải phóng, ông kết thúc tập thơ với những dòng cảm tạ: "Thật
đáng quý, đáng tự hào biết mấy, đáng yêu thương biết bao. Khi mà mình có
những người bạn, những đứa em từ nơi xa xôi đến cùng nhau chia lửa và
giúp cho nhau từng viên đạn, từng giấc ngủ đêm khuya. Thật là "nước tìm
biển cả, tình người tìm nhau", cũng là "Hai niềm thương nối một nhịp cầu/Ra
đi còn nhớ con tàu viễn phương".


