Quyết định 'khó nhất đời cầm quân' của đại tướng Võ Nguyên Giáp
Thông tin đang được cập nhật
Đêm trước nổ súng chiến dịch Điện Biên Phủ, 25/1/1954, tổng tư lệnh 43 tuổi không thể chợp mắt, đầu đau nhức, y sĩ phải buộc trên trán ông nắm ngải cứu.
Trước 'giờ D'
39 ngày sau khi Bộ Chính trị quyết định mở chiến dịch Trần Đình, phương án tác chiến "đánh nhanh giải quyết nhanh" được phổ biến trong Hội nghị cán bộ chiến dịch tại hang Thẩm Púa, ngày 14/1/1954.
Hang Thẩm Púa - nơi đầu tiên đặt Sở Chỉ huy chiến dịch, nằm dưới chân núi Pú Hồng, huyện Tuần Giáo, cách lòng chảo Điện Biên hơn 60 km. Vây quanh chiếc sa bàn lớn là các ông Vương Thừa Vũ, Lê Trọng Tấn, Nam Long, Cao Văn Khánh, Chu Huy Mân..., những cán bộ cao, trung cấp các đại đoàn chiến đấu chủ lực.
Bộ phận tiền trạm Bộ Tổng tham mưu cùng cố vấn Trung Quốc chung nhận định quân Pháp mới đổ quân xuống lòng chảo Điện Biên, còn lạ nước lạ cái, công sự, bố phòng nhiều sơ hở. Tranh thủ lúc này tập trung binh hỏa lực đánh thốc vào trung tâm Mường Thanh, chia cắt rồi cô lập từng cứ điểm để tiêu diệt cả tập đoàn. Cách đánh này, người Trung Quốc gọi là "oa tâm tạng chiến thuật", tức là "thọc thẳng vào tim".
Phía quân đội Việt Nam sĩ khí đang dâng cao khi lần này có cao xạ, đại bác 105 mm tham chiến. Đánh nhanh khi bộ đội còn sung sức sẽ giảm tổn thất, cũng giải quyết được khâu tiếp tế đạn dược, lương thực cho 55.000 chiến sĩ trong bối cảnh hậu phương cách xa 300-500 km.
Mệnh lệnh chiến đấu được thông qua, Trần Đình sẽ được giải quyết trong ba đêm hai ngày. Ngày nổ súng ấn định 20/1/1954. Trận đọ sức cuối cùng sẽ diễn ra trên cánh đồng dài 15 km, rộng 6-7 km, cách biên giới Việt - Lào 13 km.
Không khí hội nghị sôi nổi, riêng tướng Giáp trầm tư. Ai cũng đồng ý phải đánh nhanh, nhưng ai có thể đảm bảo chắc thắng? Ông khuyến khích cán bộ nói hết khó khăn, nhưng họ chỉ hỏi cho rõ hơn. Không ai thắc mắc gì. Hôm ấy đã là mùng 10 tháng chạp, cách Tết Nguyên đán chỉ 20 ngày.
Trên thực tế từ trước khi hội nghị diễn ra, trong lòng ông đã gợn sóng về đánh nhanh giải quyết nhanh. Dọc đường từ ATK lên Thẩm Púa, khi bản sơ đồ tập đoàn cứ điểm được trải rộng, ông lần đầu tiên nhìn thấy những vị trí quân Pháp dày đặc. Muốn tiếp cận từ phía Tây phải vượt qua cánh đồng rộng, nếu từ phía Đông sẽ gặp núi đồi liên hoàn án ngữ.
Từ chỗ "cần tìm hiểu thêm tình hình", tướng Giáp thấy đánh nhanh "là quá mạo hiểm", cuối cùng nhận định "không thể giành thắng lợi" với phương án tác chiến này. Nhưng mới từ ATK lên, ông chưa đủ cơ sở thực tiễn bác bỏ phương án những người đã lên mặt trận trước đó lựa chọn. Đại tướng dặn những người thân cận điều tra kỹ di biến động trên cánh đồng hướng Tây, nơi được coi là sơ hở và báo cáo hàng ngày cho riêng ông.
Kéo pháo vào, kéo pháo ra
Khi hội nghị Thẩm Púa diễn ra, các cứ điểm trên lòng chảo Điện Biên thay đổi từng ngày - điều mà bộ đội Việt Minh khó lường được. Chỉ trong 40 ngày, tập đoàn này bổ sung 10 tiểu đoàn, 7 trong số 8 trung tâm đề kháng hoàn chỉnh chia ba phân khu rõ ràng, đầy đủ tăng pháo, bãi mìn cùng 200 chuyến bay chi viện hậu cần mỗi ngày.
Điện Biên Phủ đã không còn ở trạng thái "sơ hở của một kẻ mới lâm thời chiếm lĩnh trận địa" mà "chật cứng những tiểu đoàn quân Pháp, các công trình phòng thủ hoàn tất, mọi việc chuẩn bị đã kết thúc" trước ngày 14/1/1954, như lời Jean Pouget, thư ký riêng của Navarre sau này nhận xét.
"Con nhím Điện Biên" cứng cáp dần, nỗi lo lắng lẫn hoài nghi trong lòng vị tướng 43 tuổi về yếu tố "chắc thắng" cũng lớn theo. Điều tiên quyết là các khẩu pháo phải được đưa vào trận địa, sẵn sàng nhả đạn, trận đánh mới có thể bắt đầu. Hội nghị Thẩm Púa cách thời điểm nổ súng dự định 6 ngày. Nhưng sau 7 đêm, pháo vẫn chưa vào hết trận địa.
Thời gian nổ súng dự định phải lui lại 5 ngày, sang 17h ngày 25/1/1954.
Tướng Giáp tự nhận đây là quãng thời gian rất dài với ông khi nhiều đêm thao thức vẫn chỉ tìm thấy rất ít yếu tố thắng lợi. Các phái viên đi nắm tình hình phải báo lại với ông bất cứ điều gì đáng chú ý. Đại đoàn trưởng 312 Lê Trọng Tấn nói sẽ phải đột phá liên tục ba lần mới vào được trung tâm. Đại đoàn trưởng 308 Vương Thừa Vũ đảm nhiệm mũi thọc sâu "hoàn toàn im lặng".
Tới ngày thứ chín, Cục phó Cục Bảo vệ Phạm Kiệt - người theo dõi việc kéo pháo ở phía Tây, gọi điện cho tướng Giáp. Ông Kiệt nói pháo đặt trên trận địa dã chiến, rất trống trải, sẽ tổn thất nặng nếu bị phản kích. Một số khẩu còn chưa kéo được vào tới trận địa. Đó là người đầu tiên, duy nhất dám nói thật về những bất lợi trước trận đánh.
Tất cả biểu hiện chiến trường làm cho tướng Giáp sốt ruột. Gần ngày nổ súng, thậm chí có trung đoàn đột kích đề nghị trả bớt pháo vì được trao quá nhiều. Khi những khẩu pháo nặng gần hai tấn nhích dần về trận địa, diễn biến đầu tiên ngoài dự kiến xảy ra - một chiến sĩ Đại đoàn 312 bị bắt.
Lo bị lộ, thời gian nổ súng được hoãn thêm 24 tiếng, sang ngày 26/1/1954.
11 ngày trôi qua, với đại tướng "dài như cả tháng". Và mỗi ngày, ông càng nhận thấy "không thể đánh nhanh" được. Đêm 25/1/1954 trong lán ở bản Nà Tấu - nơi cách Điện Biên Phủ 30 km, đại tướng kể "không sao chợp mắt, đầu đau nhức". Lời dặn dò của Hồ Chủ tịch trước lúc lên đường cùng nghị quyết Trung ương cứ vẳng bên tai "... Chỉ được thắng, không được bại. Vì bại thì hết vốn!". Đến nỗi, y sĩ phải buộc trên trán ông một nắm ngải cứu.
Rất nhiều năm sau này, những người lính Điện Biên vẫn kể rằng chiều hôm ấy, thay vì nổ súng xung trận, họ nhận lệnh lui binh, kéo pháo ra. Anh em nháo nhác hỏi nhau vì sao. Nhưng chỉ huy đơn vị chỉ nói ba lời: Quyết tâm tiêu diệt Trần Đình, tuyệt đối tin tưởng cấp trên và triệt để chấp hành mệnh lệnh.
Nhưng thực hiện mệnh lệnh chiến trường, hậu phương "vét bồ" cho tiền tuyến đợi ngày "đánh chắc thắng". Cùng lúc kéo pháo ra và xây dựng đường cơ động cho xe pháo vào trận địa, từ ngày 26/1 đến trước chiều 13/3/1954, bộ đội đào gần 200 km đường hào thít dần về lòng chảo Điện Biên Phủ chờ ngày nổ súng.
Đó là những ngày giáp Tết, hoa ban bắt đầu bung trắng khắp các sườn núi. Trong hồi ký, tướng Giáp nói đã theo dõi việc kéo pháo từng giờ. Trong đầu ông thuộc từng cái tên dốc Bảy Tời, vực sâu Vườn Chuối, cửa rừng Nà Nham... Pháo với người an toàn vượt qua mỗi địa danh này, coi như bộ đội đã lập được chiến công.
Dốc Bảy Tời, trước chỉ cuộn dây đưa pháo lên, nay lại từ từ nhả dây ròng pháo xuống. Vực sâu Vườn Chuối hôm nào ghìm dây thả pháo từ từ, nay còng lưng đẩy ngược pháo lên. Lá ngụy trang trên đường kéo pháo đã úa, Pháp đánh hơi liên tục bắn phá. Sau ánh chớp lòe cùng loạt đạn xé gió từ phía Mường Thanh, nhịp "hai...ba...nào..." lại vang núi rừng. Trên đường kéo pháo ra đã là đêm 30 tháng chạp, các chỉ huy pháo binh gom góp ít đỗ xanh, mấy thanh đường phên, vài điếu thuốc lá... ăn Tết.
"Bộ đội ta đã làm nên kỳ công", đại tướng tự hào về những người lính của ông.
Trong cuộc trường chinh kháng chiến, các chỉ huy nhìn thấy tâm hồn "kỳ lạ" của những người lính, động viên họ ra tiền tuyến thì dễ, động viên ở lại hậu phương rất khó, lệnh tiến họ đạp đầu thù mà xông lên, lệnh lui họ lại trù trừ. Khi họ chưa thông mệnh lệnh thì không khỏi thắc mắc, nhưng đã hiểu thì không khó khăn nào khuất phục được.
Dĩ bất biến ứng vạn biến
Nếu năm đó không thay đổi cách đánh, chiến cuộc sẽ thế nào? "Lịch sử không có nếu như", đại tá Trần Ngọc Long đáp.
Nhưng theo ông, nếu so sánh tương quan lực lượng và mức độ phòng thủ của tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ, không một ai dám khẳng định đánh nhanh sẽ chắc thắng. Nhưng tổn thất lại có thể nhìn thấy rõ. Tướng Giáp, với vai trò chỉ huy cao nhất trên chiến trường, đã đánh cược sinh mệnh chính trị khi quyết thay đổi cách đánh vào giờ chót. Trong di sản tư tưởng quân sự Việt Nam, "đánh chắc thắng" là bất biến, còn lựa chọn cách đánh sao cho phù hợp là "ứng vạn biến".
"Trên hết đó còn là trách nhiệm của ông với hàng vạn sinh mệnh cán bộ, chiến sĩ như lời cố thượng tướng Trần Văn Trà biết đau cùng nỗi đau người lính, biết quý từng giọt máu chiến binh, cũng là trách nhiệm trước trọng trách mà Hồ Chủ tịch cũng như Bộ Chính trị ủy thác cho người cầm quân ra trận", ông Long nói.
Mười năm sau ngày chiến thắng Điện Biên Phủ, tướng Giáp được nghe các chỉ huy giãi bày. Những người dù nhìn thấy nhiệm vụ quá nặng, đột phá liên tiếp, khó cứu chữa thương binh, tiếp tế đạn dược, nhưng trước không khí trao nhiệm vụ, tinh thần lên cao, đã không dám nói ra băn khoăn.
Chính ủy Đại đoàn công pháo Phạm Ngọc Mậu như "được cởi tấm lòng" khi nghe lệnh kéo pháo ra. Đại đoàn trưởng 312 Lê Trọng Tấn nói "nếu không có quyết định chuyển phương châm ngày đó, phần lớn chúng tôi không có mặt trong kháng chiến chống Mỹ".
Riêng Đại đoàn trưởng 308 Vương Thừa Vũ hoàn toàn im lặng trong hội nghị Thẩm Púa, bởi không tin 2.000 viên pháo 105 mm mở màn có thể làm tập đoàn cứ điểm nhiều cây số vuông tan nát. Ông nghĩ lần đó "nếu đánh nhanh, giải quyết nhanh, cuộc kháng chiến có thể lui lại mười năm".


