Bài viết

RA ĐẢO

Phú Thọ11/01/2026Ban Biên tập tổng hợp2 lượt xem0 lượt chia sẻ

Cuối tháng 4 vừa qua, tôi có chuyến đi Côn Đảo vô cùng ấn tượng. Từ cảng Vũng Tàu, mua vé khứ hồi giường nằm tàu thủy 300 ngàn đồng, xuống tàu 09 lúc 5 giờ chiều, tàu chạy đến sáng hôm mới đến Bến Đầm cách Thị trấn Côn Đảo 12 km. Từ Vũng Tàu ra Côn Đảo 97 hải lý (179 km) mà tàu đi suốt đêm, chậm thật. Đêm sóng to nên tàu lắc mạnh. Nhiều người say sóng nôn ra mật xanh mật vàng. Tôi lên boong tàu nhìn biển, nhìn trời. Biển đêm đen đặc. Xa xa những ngọn đèn của tàu đánh cá như con mắt tìm bạn, nhấp nháy. Tàu trưởng tàu 09, giọng Hà Tĩnh cho biết. Huyện Côn Đảo mới sắm 2 chiếc tàu trọng tải 1000 tấn này, hết hơn 25 tỷ đồng để làm cầu nối với đất liền. Cứ hai ngày tàu, có khi 3 ngày một chuyến ra vô. Mỗi tàu có 150 – 200 giường nằm (gường nệm 2 tầng đóng bằng gỗ, phòng điều hòa nhiệt độ), ngoài ra còn có một phòng ghế ngồi mềm. Mấy năm trước đi Tàu Bến Đầm 6, tàu nhỏ nên gió cấp 4 cấp 5 là không đi được. Các thủy thủ cho rằng, đi tàu thủy ra Côn Đảo thích hơn đi tàu bay trực thăng. Tàu bay trực thăng của Công ty Bay Dầu khí một tuần ra Côn Đảo 3 chuyến. Chỉ chưa đầy 200 cây số bay mà giá vé vé khứ hồi một triệu đồng, đắt gấp đôi giá bay nội địa. Những năm không có tàu bay trực thăng ra đảo, tất cả vận chuyển với đất liền đều dùng tàu thủy loại nhỏ, nên khi sóng lớn, hay mùa biển động là không đi được. Có lúc 4 tháng trời đảo cách ly với đất liền. Báo chí ra tới nơi phải cả tháng. Dân Côn Đảo rất khát khao đất liền. Họ kể rằng, mấy năm trước, hồi Cầu Tàu 914 còn đang sử dụng, mỗi lần tàu ra đảo, một nửa dân số của đảo ra đón, khi tàu vào, lại một nửa dân số ra tiễn! Thật xúc động!

Đây là lần đầu tiên trong đời tôi ra Côn Đảo. Có rất nhiều chuyện mới mẻ. Lâu nay tôi cứ nghĩ Côn Lôn là một hòn đảo. Ra đến đây tôi mới biết Côn Đảo là một quần đảo gồm 16 đảo lớn nhỏ, trong đó Côn Đảo là đảo lớn nhất có hình dạng như một con Gấu lớn quay lưng về phía đất liền, có chiều dài 15 km, chiều ngang chỗ rộng nhất 9 km, chỗ hẹp nhất 1 km. Diện tích Côn Đảo 51,520 Km2, chiếm hai phần ba tổng diện tích cả quần đảo. Đảo Hòn Bà (tức Côn Lôn nhỏ) tiếp giáp với Côn Đảo về phía Tây Nam, giữa 2 đảo có một khe biển rộng 20 mét, rất sâu, kín gió, gọi là Họng Đầm. Một cảng biển vừa được xây dựng ở đây được gọi là Cảng Bến Đầm, nơi con tàu đưa chúng tôi cập bến. Sở dĩ gọi Hòn Bà là do truyền thuyết kể rằng năm 1784, Nguyễn Ánh trong khi chạy trốn Tây Sơn đã giam người vợ trẻ của mình là thứ phi Hoàng Phi Yến (tên thật là Lê Thị Răm) trong một hang đá trên hòn đảo này vì bà này chống lại việc cầu viện ngoại bang của chồng. Nguyễn Ánh nghe tin quân Tây Sơn đuổi tiếp, vội vàng rời đảo. Khi thuyền rời bến, hoàng tử Hội An, tục gọi là Hoàng tử Cải, con bà Phi Yến, lúc đó mới 5 tuổi, không thấy mẹ bên cạnh, nghe mọi người nói cho biết mẹ đang bị giam thì cậu bé khóc rống lên, muốn sống chết cùng với mẹ. Nguyễn Anh tức giận ra lệnh ném con mình xuống biển! Nên người làng Cỏ Ống thời bấy giờ đặt câu ca: Gió đưa cây CẢI về trời. Rau RĂM ở lại chịu lời đắng cay (Răm là tên Mẹ, Cải tên con). Bây giờ ở Cỏ Ống có miếu Cậu thờ Hoàng tử Cải và đền thờ Bà Phi Yến gọi là An Sơn Miếu. Ngày 18 tháng 10 âm lịch giỗ Bà, là một trong 4 cái giỗ lớn nhất ở Côn Đảo: giỗ anh hùng liệt sĩ Võ Thị Sáu, giỗ đ/c Lê Hồng Phong, giỗ nhà yêu nước Nguyễn An Ninh và giỗ bà Hoàng Phi Yến.

Ngoài Côn Đảo, Hòn Bà, quần đảo còn có những đảo: Hòn Bảy Cạnh, Hòn Cau, Hòn Bông Lan, Hòn Vung, Hòn Trọc, Hòn Trứng, Hòn Tài Lớn, Hòn Tài nhỏ, Hòn Trác Lớn, Hòn Trác nhỏ, Hòn Tre lớn, Hòn Tre nhỏ. Xa nhất là Hòn Anh, Hòn Em cách đảo Côn Lôn gần 50 cây số. Trước năm 1975, ngoài hệ thống nhà tù ở Côn Đảo, Pháp và Mỹ còn biệt giam một số tù nhân chính trị ở như đồng chí Phạm Văn Đồng bị giam ở đảo Hòn Cau 1930- 1931; đồng chí Lê Duẩn bị đày ải làm khổ sai ở đảo Hòn Tre… Hiện nay dân huyện Côn Đảo tập trung chủ yếu ở đảo Côn Lôn, còn ở Hòn Tre lớn có một Trại chăm sóc rùa biển (con Vích) do Tổ chức bảo vệ động vật hoang dã thế giới tài trợ. Ở đây có hàng ngàn con vích khổng lồ. Ở hòn Bảy Cạnh, cách Côn Lôn 7 km về phía Đông Nam có ngọn hải đăng Pháp xây dựng từ năm 1883, hiện nay ngọn hải đăng này vẫn đang hoạt động với tầm bán kính 72 km hướng dẫn tàu thuyền đi lại gần vùng biển Côn Đảo.

Côn Đảo có vị trí thuận lợi trên đường hàng hải nối liền Âu-Á. Nên các nhà buôn phương Tây biết Côn Đảo từ rất sớm. Năm 1294, một đoàn thuyền thám hiểm Ý gồm 14 chiếc trên đường từ Trung Hoa về nước đã bị bão nhấn chìm 8 chiếc, số còn lại dạt vào Côn Đảo. Từ thế kỷ XV-XVI, nhiều đoàn du hành của Châu Âu đã đến Côn Đảo. Cuối thế kỷ XVII, đầu thế kỷ XVIII, nhiều lần các công ty Đông – Ấn của Anh, Pháp cho người tới Côn Đảo điều tra, dò xét. Năm 1702, đời Chúa Nguyễn Phúc Chu, Công ty Đông -Ấn của Anh ngang nhiên đổ quân lên Côn Đảo xây dựng pháo đài, cột cờ. Ngày 3-2-1705, trước sự tấn công của nhà Nguyễn, đoàn quân Anh phải rời bỏ Côn Đảo. 10 giờ sáng ngày 28-11-1861, Bonard (thủy sư đô đốc Pháp) hạ lệnh cho tàu Nogazaray xâm chiếm Côn Đảo. Tháng 3 – 1862 tàu Echo (Pháp) chở 50 tù nhân đầu tiên ra đảo, mở đầu cho 113 năm Côn Đảo trở thành “địa ngục trần gian” của thế kỷ!.

Côn Đảo là Đảo Tù. Côn Đảo nổi tiếng với hệ thống nhà tù gồm 127 phòng giam, 42 xà lim, 504 phòng biệt lập như Chuồng Bò, Chuồng Cọp thời Pháp, Chuồng Cọp thời Mỹ…và 18 Sở tù quản lý để đày ải người tù làm lao dịch khổ sai, tạo nên những di tích rùng rợn oan hồn như Cầu Ma Thiên Lãnh, Cầu tàu 914 (có 914 người chết khi xây dựng cầu tàu này), Nghĩa trang Hàng Dương,.v.v..Điều rất mỉa mai, là các nhà lao, chuồng cọp… ấy, thời Mỹ- Ngụy lại được mang những cái tên rất hoa mỹ: Trại Phú Hải, Phú Sơn, Nhân Vị,Bác Ai, Phú Thọ, Phú Tường…Vâng, đó là bản chất của sự khốn nạn! 113 năm ở Đảo Tù Côn Đảo có 20.000 tù nhân bị giết, trong đó chỉ có 1907 người có mộ, trong số mộ chỉ có 702 ngôi mộ có tên! Nghĩa là ở Côn Đảo tử tù chết chồng lên nhau, bất cứ một tấc đất nào cũng có hài cốt người tù. Ở Côn Đảo, tù nhân không chỉ là người yêu nước Việt Nam nổi tiếng như Phan Chu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng, Trần Cao Vân… Và các lãnh tụ Cộng sản như Ngô Gia Tự, Nguyễn Văn Cừ, Tôn Đức Thắng, Lê Hồng Phong, Phạm Văn Đồng, Lê Duẩn, Phạm Hùng, Nguyễn Văn Linh, Nguyễn Duy Trinh.v.v.. Mà danh sách tù lưu ở Bảo tàng Di tích Côn Đảo còn có tới 3 nhà sư: Đó là Đại Đức Thích Thành Tuệ, Thượng tọa Thích Trí Thiện, Hòa Thượng Nguyễn Văn Đồng (nhà sư không chịu khai Pháp danh) bị nghi là theo Cộng Sản, bị bắt đày ra Côn Đảo năm 1970- 1971. Các nhà sư này cũng gửi lại nắm xương trên đất Côn Lôn! Tù khổ sai còn có một người Hoàng Tộc yêu nước, tên là Nguyễn Phước Bửu Đình. Ông viết báo, viết văn. Năm 1926, Bửu Đình vận động bãi công, diễn thuyết kêu gọi sinh viên Huế chống Pháp. Ông bị bắt và đày ra Côn Đảo. Ở Côn Đảo ông đã viết tiểu thuyết “Mảnh trăng thu” gửi về đất liền. Năm 1930 ông vượt ngục lần thứ nhất không thành. Tháng 10/1931 ông vượt ngục lần thư hai, xuất phát từ đảo Hòn Tre lớn. Trước khi ra khỏi Đảo, ông gửi lại bài thơ bỡn cợt chúa đảo Bowvier (gọi là Bu-vê): Mấy lời nhắn nhủ chú Bu-vê/Đó ở đây đi thẳng một bề… Vài tháng sau, Bảo Đại gửi “Thánh chỉ” ra Côn Đảo ân xá cho Bửu Đình. Rất tiếc là ông đã mất tích giữa biển khơi!

Trong danh sách tù Côn Đảo năm 1881 còn có 72 người Trung Hoa, 22 người Khmer. Năm 1948 có 63 từ án tử hình và 69 tù binh người Nhật Bản bị lưu đày. Hai Người Nhật Bản đã chết ở đây. Từ năm 1947- 1950, nhiều người yêu nước Lào, Thái Lan, Cămpuchia, Quảng Châu Loan (Tô giới Pháp) cũng bị đày ra và bỏ thây ở Côn Đảo. Thì ra Côn Đảo là nhà tù quốc tế!

Mỗi di tích lịch sử ở Côn Đảo ẩn chứa nhiều câu chuyện xương máu linh thiêng, bi thương và cảm động, nhiều sự tích anh hùng có thể kể lại bằng thiên tiểu thuyết đồ sộ. Như chuyện một người bạn tù trao áo cho bạn tù của mình là đồng chí Lê Duẩn trước khi ra trường bắn, để đồng đội mình chống lại cái rét cắt xương trong chuồng cọp! Câu chuyện đó đã được nhà điêu khắc Lưu Thanh Danh dựng thành bức tượng “Trao áo” tại nghĩa trang Hàng Dương. Rồi chuyện anh hùng liệt sĩ Võ Thị SÁu, người con gái Đất Đỏ nay đã trở thành Bà Sáu linh thiêng. Chuyện ở Bến Đầm, những người tù xuất thân từ thợ mỏ Hòn Gai- Cẩm Phả đã thiết kế hai căn hầm bí mật theo kiểu hầm lò ngay dưới nền trại giam ở Bến Đầm. Họ khóet đất bằng môi múc cơm, đựng đất trong ống quần, vạt áo mà chuyển ra ngoài, rút gỗ từ sạp nằm để chèn, chống, suốt đêm này qua đêm khác, và cuối cùng họ có được hai căn hầm bí mật, đủ dài, đủ rộng để đóng ra 5 con thuyền vượt biển. Vào lúc 11 giờ trưa ngày 12 tháng 12 năm 1952, 5 chiếc thuyền khung gỗ, ốp những tấm mây đan quét sơn được hạ thủy tại Bến Đầm. Thật là một kỳ tích. Chuyến vượt biển ấy bị lộ, tàu Pháp đuổi theo ra khơi bắt lại 117 người, còn 81 nguười khác đã không trở về. Cho đến bây giờ không ai biết họ đã khái thác và vận chuyển gỗ, mây, sơn… về hầm bí mật để đóng thuyền như thế nào! Năm 1996, cụ Nguyễn Văn Họa, người tổ trưởng tổ đào hầm để đóng thuyền dạo ấy cùng Đoàn tù chính trị Côn Đảo tỉnh Quảng Ninh đã trở lại xác định dấu vết căn hầm và dựng tấm bia tưởng niệm những người đã hy sinh trong cuộc “Vượt Côn Đảo” không thành ấy. Chủ tịch Tôn Đức Thắng, trong những năm bị tù, làm khổ sai thợ máy ở Sở Lưới Côn Đảo đã gửi qua “hộp thư” là gốc cây, khe đá từng lọ mắm tép nho nhỏ, từng lon cá vụn kho mặn cho các đồng chí mình bị tù.v.v…Ôi, Côn Đảo, một trường học cách mạng, trường học về tình đồng chí!

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn