RỜI TỔ QUỐC SANG PHÁP – MANG THEO CẢ VẬN MỆNH CỦA MỘT ĐẤT NƯỚC NON TRẺ

RỜI TỔ QUỐC SANG PHÁP – MANG THEO CẢ VẬN MỆNH CỦA MỘT ĐẤT NƯỚC NON TRẺ
Ngày 31 tháng 5 năm 1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh rời Việt Nam sang Pháp. Chuyến đi ấy diễn ra chưa đầy một năm sau ngày nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời. Đất nước vừa bước ra khỏi cuộc Cách mạng Tháng Tám, chính quyền cách mạng còn non trẻ, nền kinh tế kiệt quệ, nạn đói và nạn dốt vẫn đè nặng lên cuộc sống của nhân dân, trong khi phía trước là vô vàn thử thách về chính trị, quân sự và ngoại giao. Nếu nhìn vào hành trình ấy bằng con mắt của một chuyến công du, có lẽ sẽ không thể cảm nhận hết sức nặng mà người đứng đầu một quốc gia mới thành lập đang mang theo.
Bởi trước ngày lên đường sang Pháp, Người đã trải qua những tháng ngày mà vận mệnh của chính quyền cách mạng luôn ở thế hiểm nghèo. Ngày 6 tháng 3 năm 1946, tại Hà Nội, Hồ Chí Minh thay mặt Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ký Hiệp định Sơ bộ với đại diện Chính phủ Pháp. Theo thỏa thuận, Pháp công nhận Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là một quốc gia tự do, có Chính phủ, nghị viện, quân đội và tài chính riêng; đổi lại, Việt Nam chấp nhận để 15.000 quân Pháp ra miền Bắc thay quân Trung Hoa Dân quốc làm nhiệm vụ giải giáp quân Nhật và quân Pháp phải rút khỏi Việt Nam trong thời hạn nhất định.
Đó không phải là một sự lựa chọn dễ dàng. Nhưng trong hoàn cảnh lúc ấy, điều quan trọng nhất là phải giữ được chính quyền cách mạng, tránh để đất nước cùng lúc phải đối đầu với quá nhiều lực lượng và quan trọng hơn, phải giành lấy một khoảng thời gian quý giá để củng cố lực lượng. Những ngày hòa bình ấy, dù mong manh, đều có ý nghĩa. Mỗi ngày không phải nổ súng là thêm một ngày để xây dựng chính quyền, tổ chức lực lượng, ổn định đời sống nhân dân và chuẩn bị cho những thử thách mà Người hiểu rằng có thể không thể tránh khỏi.
Rồi Người sang Pháp.
Phía sau chuyến tàu không chỉ là Hà Nội, là những con phố, những người dân vừa giành được độc lập và một chính quyền mới đang từng ngày cố gắng đứng vững. Phía sau Người là cả một đất nước vừa thoát khỏi ách thuộc địa nhưng chưa có đủ sức mạnh để đối đầu trong một cuộc chiến lâu dài. Còn phía trước là nước Pháp – nơi những cuộc thương lượng sẽ quyết định phần nào số phận của mối quan hệ Việt – Pháp và cũng là nơi Người phải tìm mọi cách để kéo dài cánh cửa hòa bình đang ngày một hẹp lại.
Từ tháng 5 đến tháng 10 năm 1946, Hồ Chí Minh ở Pháp, tham gia những cuộc tiếp xúc và đàm phán trong bối cảnh Hội nghị Fontainebleau không đạt được kết quả như mong muốn. Nhưng điều đáng chú ý là Người không xem việc đàm phán như một sự thay thế cho chuẩn bị kháng chiến. Ngược lại, ngoại giao lúc ấy chính là cách để tranh thủ thêm thời gian, tranh thủ dư luận Pháp và quốc tế, đồng thời cố gắng giữ cho đất nước tránh khỏi một cuộc chiến tranh khi lực lượng còn chưa được chuẩn bị đầy đủ.
Có lẽ chính ở đây mới thấy hết sự khác biệt giữa một người đi ngoại giao vì một nhiệm vụ chính trị và một người ra đi với cả vận mệnh của một dân tộc trên vai. Người không thể chỉ nghĩ đến một cuộc đàm phán thành công hay thất bại. Phía sau mỗi điều khoản là hàng triệu con người. Phía sau mỗi quyết định là tương lai của một quốc gia vừa tuyên bố độc lập. Một bước đi quá cứng rắn có thể đẩy đất nước vào chiến tranh khi chưa đủ sức; một bước nhân nhượng không có nguyên tắc lại có thể làm tổn hại đến nền độc lập vừa giành được. Bài toán đặt trước Người không có một đáp án dễ dàng.
Vì thế, từng ngày ở Pháp trở thành một cuộc đấu tranh theo cách khác. Không phải trên chiến hào, mà bên bàn đàm phán. Không phải bằng tiếng súng, mà bằng từng lập luận, từng cuộc gặp, từng nỗ lực tìm kiếm một giải pháp có thể giữ được hòa bình lâu nhất cho Việt Nam.
Nhưng điều khiến chuyến đi ấy trở nên đặc biệt không chỉ nằm ở những cuộc đàm phán. Đó còn là hình ảnh một người đứng đầu một quốc gia vừa ra đời phải đi giữa một nước Pháp vẫn còn mang dấu ấn của chế độ thuộc địa, để nói với người Pháp rằng Việt Nam không còn là một thuộc địa có thể bị quyết định số phận từ bên ngoài. Người muốn hòa bình, nhưng đó phải là một nền hòa bình có danh dự; muốn thương lượng, nhưng không thể đánh đổi những quyền lợi căn bản của dân tộc.
Hội nghị Fontainebleau cuối cùng không đem lại một kết quả như mong muốn. Nhưng Hồ Chí Minh vẫn không trở về tay không. Khi những nỗ lực duy trì hòa hoãn đứng trước nguy cơ đổ vỡ, ngày 14 tháng 9 năm 1946, Người ký Tạm ước Việt – Pháp, tiếp tục kéo dài thêm thời gian hòa bình trước khi trở về nước.
Nhìn lại những tháng ngày ấy, điều khiến người ta xúc động có lẽ không phải là một hình ảnh hào nhoáng của vị Chủ tịch nước trên đất Pháp, mà là hình ảnh một con người luôn hướng về quê hương trong từng quyết định. Người hiểu rằng phía sau mình là một chính quyền còn “trong trứng nước”, một đất nước đang cần từng ngày để lớn mạnh. Và vì thế, Người tìm cách giành lấy thời gian.
Thời gian để chính quyền đứng vững. Thời gian để nhân dân chuẩn bị. Thời gian để lực lượng cách mạng trưởng thành. Thời gian để nếu chiến tranh không thể tránh khỏi, dân tộc Việt Nam có thể bước vào cuộc chiến với một sự chuẩn bị tốt hơn.
Có những chiến thắng không được đo bằng lãnh thổ chiếm được hay những trận đánh thắng trên chiến trường. Có những chiến thắng nằm trong việc giữ được một ngày hòa bình giữa lúc chiến tranh đang đến gần; giữ được một chính quyền khi nó còn quá yếu; giữ được niềm tin của một dân tộc vừa giành lại độc lập.
Năm 1946, Hồ Chí Minh sang Pháp với một sứ mệnh như thế.
Người đi giữa những bàn đàm phán, nhưng trong tâm trí không bao giờ rời khỏi Việt Nam. Người tìm kiếm hòa bình, nhưng đồng thời hiểu rằng phải chuẩn bị cho một ngày hòa bình có thể không còn. Và có lẽ, đó chính là nét đặc biệt nhất trong cuộc hành trình ấy: Người không đi để tìm một sự yên ổn cho riêng mình, mà đi để cố giữ thêm từng ngày bình yên cho một đất nước vừa được sinh ra.
Phía sau Người là một Việt Nam còn non trẻ.
Phía trước là một tương lai chưa biết sẽ đi về đâu.
Và ở giữa hai phía ấy là một con người đã chọn đứng ra gánh lấy phần khó khăn nhất: dùng từng ngày hòa bình để chuẩn bị cho ngày mai của cả dân tộc.



