Bài viết

“RÙA VÀNG" TRƯỜNG SƠN

Quảng Trị20/10/2026Đoàn TNCS Hồ Chí Minh phường Hoàn Kiếm (phường Hoàn Kiếm)1 lượt xem0 lượt chia sẻ

“RÙA VÀNG" TRƯỜNG SƠN

Tôi sinh ra ở một vùng quê nghèo thôn Văn Phú, xã Mỹ Thọ, huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam. Tôi và gia đình theo cha Nguyễn Văn Tờ lên chiến khu Vần của thị xã vùng cao Yên Bái những năm năm mươi của thế kỷ trước. Cha tôi hy sinh tại xưởng quân khí CK 120 năm 1953. Hòa bình lập lại, mẹ tôi là Đặng Thị Lạc (1923 - 2016) lúc ấy là tổ phó tổ thu mua của Cửa hàng Thực phẩm huyện Trấn Yên, Yên Bái. Mẹ đã làm lụng vất vả, chắt chiu nuôi chị em tôi ăn học. Đến tháng 11 năm 1967, tôi tốt nghiệp loại giỏi của Trường Y sĩ tỉnh Phú Thọ (do ông Hoàng Ngọc Liên làm hiệu trưởng). Lúc này khí thế cả nước lên đường chống Mỹ, cứu nước. Cả lớpY16 của tôi đều làm đơn xin nhập ngũ.Vào một buổi sáng ngày 8 tháng 4 năm 1968, từ Quân y viện 109, 60 nữ và 20 nam của Lớp Y sĩ 16 đã lên đường đi B. Ô tô đưa chúng tôi xa dần đất Phù Ninh nơi Vua Hùng dựng nước để tiến vào Nam chiến đấu. Trong cơn mưa nhè nhẹ của núi đồi trung du, lúc ấy, trong chúng tôi dù hừng hực khí thế quyết thắng, nhưng trong trái tim mỗi người lính trẻ vẫn vô cùng nhớ quê hương. Chúng tôi đang xa dần mảnh đất quê hương để vào Nam đánh Mỹ. Tiếng reo hò, tiếng hát của chúng tôi át đi nỗi nhớ. Trong tim chúng tôi hừng hực khát vọng, muốn đi thật nhanh ra chiến trường…Chúng tôi băng rừng vượt núi qua Hương Khê, Hà Tĩnh rồi Động Phong Nha - Kẻ Bàng của đất Quảng Bình. Chúng tôi đã đặt chân lên Trạm giao liên Trường Sơn số 1 trên đất nước bạn Lào. Tôi và mấy chục chị em nữ cũng băng băng lội suối, vượt dốc như nam giới. Có chặng đường, chúng tôi phải hành quân đi trong đêm. Con gái chúng tôi vốn hay sợ ma nhưng ai cũng vững tim nhìn theo ánh lân tinh lờ mờ trên mũ của đồng đội đi trước mà nín thở vượt theo. Có đêm chúng tôi được nằm trên ô tô chở gạo vượt cua chữ A. Nhìn trời đầy sao mà lòng kiêu hãnh “vì mình đã được ra chiến trường”. Có tiếng ai đó nói:

-Các cô em ơi! Vào nhặt ống bơ rỉ à? Hòa bình rồi.

Nhiều ngày, cứ đến 12 giờ trưa chúng tôi được nghỉ trên đỉnh dốc để ăn trưa. Nhiều hôm được nghe bài hát “Tiếng đàn Ta Lư ... Tính ... Tính ... Hú...” của nghệ sĩ Thanh Hoa phát trên đài Tiếng nói Việt Nam là cả lớp y sĩ chúng tôi như được tiếp thêm sức mạnh. Chẳng ai bảo ai, chúng tôi cùng “Hú!” theo. Dù rất mệt nhưng khuôn mặt ai cũng rạng rỡ dù mồ hôi ướtđẫm trên từng gương mặt trẻ. Trên đường hành quân, có những buổi sáng gặp mưa rừng Lào. Nhìn xuống đất, dưới võng đầy vắt ngo ngoe. Cứ nghĩ như ngày còn ở nhà với mẹ: “Chắc mưa to thế này sẽ không phải hành quân”. Nhưng tiếng còi lệnh hành quân vang lên. Những cô gái hay làm nũng mẹ khi còn ở nhà đã vùng dậy. Chúng tôi đội mưa, mặc vắt, xốc balo lên đường. Trong trái tim của mỗi chúng tôi đang căng đầy nhiệt huyết theo tiếng gọi từ miền Nam ruột thịt… Rồi cũng có ngày, chúng tôi hành quân dọc trên một con suối cạn. Một đồng đội đã trêu tôi:

-Kim Quy ơi! Hãy lấy bùn trát vào chân đi không nhìn chân của bạn trắng quá máy bay sẽ phát hiện ra đấy!

Thế là cả đoàn cùng phá lên cười như nắc nẻ. Vui quá! Có một lần đến trạm giao liên nọ ở xa suối nên không có một giọt nước. Sáng dậy bên chiếc bể quây bằng bằng tre nứa, lót ni lông để đựng nước, một chiến sĩ giao liên đứng phân phối nước cho mỗi người một bi đông vì nước quý lắm. Nước ở đây được đơn vị bắc ống nứa dẫn nước từ bốn năm cây số về dùng.Hành quân hôm ấy nhiều chị em trong chúng tôi đã nhường “khẩu phần” nước của mình cho các chị cần hơn. Giữa chiến trường, tình thương yêu đồng đội tăng lên gấp bội!Thế rồi chúng tôi cũng đến được khu vực đóng quân của Bộ Tư lệnh 559 vào một ngày của tháng 5 năm 1968. Chúng tôi được biết, Tư lệnh Đồng Sỹ Nguyên, Chính ủy Vũ Xuân Chiêm trực tiếp chỉ huy tại một căn cứ gần khu vực ngã ba Đường 9… Giờ chia tay cả lớp đã đến. Bác sĩ Chủ nhiệm Quân y 559 Nguyễn Ngọc Thảo (sau này ông là Trung tướng - Cục trưởng Cục Quân y) đã điều động chúng tôi về các đơn vị. Đồng chí y sĩ Trần Thị Hoan, quê ở Y Kan (TP.Yên Bái) vào Binh trạm 44, có đồng chí ở lại Đoàn bộ 559, có đồng chí được phân về Bệnh viện 59 của Bộ Tư lệnh. Chả biết từ lúc nào, chúng tôi được mệnh danh là những “voi rừng”. Cứ hai đồng chí về một binh trạm. Tôi và đồng chí Lê Thị Ấm (hiện ở Núi Sụ, Thanh Sơn, Phú Thọ) được phân vào Binh trạm khá sâu của Bộ Tư lệnh 559 ở Nam Lào.Lần đầu tiên Binh trạm 36+37 (tương đương cấp trung đoàn) có bộ đội nữ quân y. Vui lắm! Cứ ba-li-e bên ngoài lại gọi điện báo cho ba-li-e phía trong là có “hai ca sỹ” vào. Thấy chúng tôi anh em đồng đội mừng lắm! Chúng tôi chia tay cả lớp để hành quân vào ban đêm. Qua ngã ba Đường 9 lờ mờ khói bom, hai chị em lần đi trong đêm tối. Lên ô tô chở gạo, qua đèo Khỉ đèn gầm sáng nhẹ, bom pháo dù sáng loáng nhưng chúng tôi không hề run sợ. Buổi chiều hôm sau đến rừng thông của Binh trạm 34 trên địa bàn tỉnh Xava[1]nakhẹt, xe của chúng tôi bị địch phát hiện. Máy bay Mỹ đánh chặn đường. Hai chúng tôi bỗng nghe tiếng hét: “Nhảy xuống... ”. Thế là hai chị em nhào xuống đường, lăn vội vào gầm chiếc xe chở gạo…Vui lắm! Chúng rôi rất vinh dự là 2 người lính con gái uy nhất của một Binh trạm. Có hôm hành quân nghỉ lại một hang đá của Binh trạm 34, chúng tôi được các đồng chí lính cựu ở đây dặn dò, chỉ bảo:

-Ở đây máy bay do thám nhiều lắm. Hai chị em ra suối tắm phải cẩn thận.

Tình cảm đó của các anh đã động viên chúng tôi rất nhiều. Ở một nơi rừng sâu, “rừng khoọc” xa Tổ quốc lại có những người đồng đội chỉ dẫn mọi điều, thật đáng quý.Thế nhưng có hôm hành quân chúng tôi không kịp đến trạm giao liên. Để bảo vệ an toàn, chúng tôi có năm người, hai nữ y sĩ và các bác sĩ nam đã cùng nhau xuống một chiếc hầm chữ A rất lớn bên đường để ngủ qua đêm. Đề phòng thú dữ và biệt kích phát hiện. Tôi rất nhớ đồng chí bác sĩ trong đoàn Lý Bá Cành, quê ở Mê Linh, Hà Nội. Anh rất thân thiện. Ôi! Trên đường hành quân dọc Trường Sơn, chúng tôi đã nhận được biết bao tình cảm yêu thương trìu mến của những đồng đội chiến sĩ Trường Sơn.

Chúng tôi đến Đèo Long vào một buổi chiều tháng 6. Bác sĩ Chủ nhiệm Quân y Binh trạm 36 Đinh Văn Lệ (quê ông ở Vạn Hoa, Nông Cống, Thanh Hóa) và đồng chí Hoàng Công Chính, Trưởng ban Dược (quê Tràng An, Bình Lục, Hà Nam) cùng các đồng chí trong đơn vị ra đón chúng tôi tại đơn vị công binh đóng chốt ở Đèo Long. Hôm ấy là một ngày khó quên. Điểm đón chúng tôi cạnh một bãi rộng, chi chít hố bom. Trên đầu, tiếng máy bay B52, tiếng bọn “Thần sấm”, “Con ma” gầm rú tìm mồi.

Đến bữa cơm, nhìn xa tôi tưởng hôm nay được ăn miến xào, nên reo lên: “Ôi, ở Trường Sơn mà hôm nay được ăn miến ư? Sang quá! Nào đâu khi nhìn kỹ hóa ra là củ chuối thái nhỏ. Thấy tôi “tò nhâm”, anh nuôi vội phá lên cười vì sự ngây thơ của cô em lính mới! Trên đường từ Binh trạm bộ về Đội Điều trị, chúng tôi bị biệt kích theo dõi. Một đồng chí giao liên dẫn đường hy sinh. Trong ngày đầu làm nữ quân y Trường Sơn, lòng tôi đầy xót thương vô hạn. Tôi tự hứa phải mang hết sức mình ra phục vụ, coi đồng đội là những người thân yêu của mình. Về Đội Điều trị Binh trạm 36, tôi lao ngay vào công việc. Tôi thể hiện tấm lòng lương y qua từng mũi kim hay bát cháo rau rừng bón cho thương bệnh binh. Tôi luôn tìm lời nhẹ nhàng, an ủi động viên để đồng chí mình an tâm điều trị. Bao đêm tôi thức xuyên đêm trông trừng các dây chuyền ký ninh cho bệnh nhân sốt rét ác tính. Tôi tranh thủ tâm sự, an ủi, vỗ về các đồng chí sốt rét ác tính thể thần kinh múa hát suốt ngày đêm. Rồi những lần cùng đồng chí, đồng nghiệp sát cánh bên nhau bên bàn mổ cấp cứu thương binh. Tôi luôn tranh thủ điểm mạnh của một nữ quân y nhẹ nhàng, êm dịu khuyên nhủ, vuốt ve để đồng đội dịu bớt cơn đau. Dù có sốt, có đau các đồng chí thương bệnh binh vẫn cười vì có nữ quân y hiền thảo chăm sóc tận tình. Chúng tôi biết nỗi đau của đồng đội như nỗi đau của chính mình nên một bệnh binh tên là Lê Nam Tiến đã viết tặng cho tôi bài thơ rất mộc mạc nhưng tình cảm. Bài thơ có tên: “Đồng chí”. Anh gửi tặng tôi trước lúc lên đường tiếp tục vào Nam chiến đấu.Đêm Trường Sơn lạnh buốt. Sáng ra ve sầu kêu inh tai nhức óc, vượn hót não nề. Nhiều hôm thức dậy, nữ quân y chúng tôi đã tranh thủ lên rẫy lấy củi, xuống vạt suối trồng rau… Bận bịu và vất vả như thế nhưng chúng tôi vui hát cả ngày. Đường về trên lưng, trên vai chúng tôi đều lặc lè củi, gỗ trên vai. Có lần, anh Sáng (quê ở Nam Hà) là nuôi quân, thấy tôi vác về đưa vào bếp một khúc gỗ to. Anh kêu lên:

-Sao cô khỏe thế? Cây củi này anh vác cũng thấy nặng đấy. Đừng cố em nhé! Ở Trường Sơn còn dài mà!

Tôi lao vào cộng việc với một sức lực mãnh liệt không biết mệt là gì. Đào hầm, vác gạo, lấy củi… lúc nào chúng tôi cũng làm băng băng và vui vẻ. Chúng tôi được các đồng chí thương  bệnh binh nhẹ chung tay giúp đỡ. Không khí vui vẻ tràn ngập Đội Điều trị. Có một ngày trên đường vận chuyển gạo, đang vui vẻ tâm sự râm ran thì“Đùng!” – một tiếng nổ hãi hùng. Đồng chí Vũ Ngọc Bảo (quê ở xã Hà Giang - huyện Hà Trung, Thanh Hóa) vô tình dẫm vào mìn bọn biệt kích gài cạnh một thân cây nằm ngang đường. Anh đã được đưa ngay về phòng cấp cứu nhưng không qua khỏi vì vết thương quá nặng. Tiếc thương đồng chí quân y trẻ măng, cơ thể chưa phát triển hết, cả bệnh xá òa lên khóc nức nở. Đơn vị mai táng đồng chí trên một ngọn núi của dãy Trường Sơn đầu hướng về biển. Kỷ vật còn lại của Bảo là một chiếc khăn mùi xoa (chắc là của người yêu). Rất buồn là đến nay gia đình vẫn chưa tìm thấy phần mộ của đồng chí.

Nhớ những ngày chúng tôi vào bản Hạt Vi, xã Đắc Xa Mo, huyện San Xây, tỉnh Tà-Vằn-Ọoc, Lào) cấp cứu. Có một bà mẹ Lào xoa đầu tôi một nữ y sĩ Việt Nam. Mế yêu quý cho con ăn gà nướng, cùng nhái om măng. Tôi xúc động ôm mế như ngày nào ôm mẹ ở quê nhà!...

Đến tháng 8 năm 1968, Đội Điều trị được tăng cường thêmnăm nữ y sĩ. Chị Ngô Thị Bông (ở Chợ Mới, Tân Sơn, Lục Ngạn, Bắc Giang), chị Nguyễn Thị Triều (hiện ở 195/197 đường Đoàn Văn Bơ, phường 12, quận 4, TP.Hồ Chí Minh), chị Xuyến, chị Huỳnh (quê ở Hà Bắc), chị Lan dược tá (quê Nam Hà). Các chị đều được mệnh danh là “những hoa khôi” của Binh trạm. Các chị đều được các thủ trưởng tin tưởng, thương bệnh binh yêu quý... Vì các chị làm rấttốt công tác được giao, luôn được khen thưởng trong những đợt ra quân vào chiến dịchcủa Binh trạm. Đồng chí Vũ Đình Miện (quê ở Mê Linh, Đông Hưng, Thái Bình), thủ trưởng Nguyễn Trọng Bình (quê ở Xã Hoằng Khánh, Hoằng Hóa, Thanh Hóa) là chính trị viênbệnh xá luôn ân cần chỉ bảo chúng tôi. Bác sĩ, Bệnh xá trưởng Kim Ngọc Tâm (quê ở phường Bạch Hạc, TP.Việt Trì, Phú Thọ) được lệnh của Bộ Tư lệnh 559, cho Binh trạm 36 mở một lớp đào tạo y tá cấp tốc tại đơn vị. Lớp học gồm 20 cán bộ chiến sĩ sau này đều là quân y giỏi công tác tại các trọng điểm của Binh trạm và một số anh chị em người Lào cùng học. Nay, dù tóc đã bạc, các anh vẫn chào cô giáo “Rùa Vàng” và vui mừng hớn hở bắt tay lão ysinh già Nguyễn Bắc Sơn (quê ở Chúc Sơn, Chương Mỹ, Hà Nội nay ở 29 Đường Trung Đô, phường Kim Tân, TP.Lào Cai) hội tụ về gặp mặt kỷ niệm thành lập Sư đoàn 471 Anh hùngtháng 4 hàng năm tại Hà Nội.

Tôi nhớ mãi lớp “y tá quốc tế” giữa rừng sâu! Ngày ấy, chúng tôi vinh dự là cô giáo được anh chị em quý mến vô cùng. Có Nọng Khèm, có chị Su Ni (chị có tên là MA LY HÔM tạm dịch là, Bông hoa buổi chiều). Sau hòa bình chị là cán bộ phụ nữ cấp cao của tỉnh. Ở lớp y tá này, chúng tôi luôn cùng nhau múa hát Lăm vông, bên bếp lửa hồng, cùng chia nhau củ sắn lùi. Chúng tôi cùng hát lên bài ca Kết đoàn của Bác thân thương…Một hôm sau tiếng chuông reo, túi cấp cứu, cáng thương và khẩu súng, bác sĩ Vũ Đình Khôi (Số nhà 198, Đường Trường

Chinh, TP Nam Định), cùng y sĩ Quy và y sĩ Ấm vội vã băng rừng vào bản. Một ca sản phụ đẻ khó sinh đôi. Đến muộn chúng tôi chỉ cứu được một cháu gái. Sau đấy bố đẻ cháu bé tin tưởng các nữ quân y nên gửi cháu lại nhờ chúng tôi nuôi giúp. Cả bảy chị em đều là mẹ. Chúng tôi đặt cho con cái tên Việt Nam là “Ngọc Việt” (Chúng tôi quý cháu như viên ngọc của người Việt).

Tất cả chúng tôi chưa ai lấy chồng nên chẳng ai có kinhnghiệm nuôi con. Vì thế đều vô cùng bỡ ngỡ. Chúng tôi phải lấy găng tay ở phòng mổ đổ sữa vào đó làm “bình sữa” cho con bú. Nhưng rồi cháu bé người Lào đã lớn lên như thổi trước sự chăm sóc từng ly từng tý của các mẹ quân y Trường Sơn. Dòng sữa mà bé Ngọc uống hằng ngày là từ sữa bồi dưỡng ca trực đêm của bảy mẹ và anh em trong đơn vị dành dụm để nuôi con. Con Ngọc Việt mạnh khỏe từng ngày, các mẹ mừng lắm. Sau những ngày phục vụ thương bệnh binh, con gái Ngọc là niềm vui cho cả Đội Điều trị tiền phương.Tình đồng cảm của người dân bản Lào với Bệnh xá chúng tôi vô cùng cảm động. Tình cảm đặc biệt ấy càng được nhân lên khi mùa mưa ập đến nhanh. Thương bệnh binh hết gạo, do vận chuyển bị ách tắc. Khi biết hoàn cảnh của đơn vị, dân bản Hạt Vi đã vang lên tiếng chày giã gạo nếp để ủng hộ bộ đội Việt. Nhìn chảo cơm nếp bốc khói nghi ngút thơm lừng của buổi chiều Trường Sơn se lạnh, đồng chí Cao Văn Kính (quê ở xã Hà Tiến, huyện Hà Trung, Thanh Hóa) là quản lý của Bệnh xá còn trêu:

- Kim Quy béo thế kia chỉ cho ăn cháy thôi.

 Tôi vui vẻ nhìn các anh quý trọng vô cùng rồi đáp:

- Dù có ăn sung muối của Lào em vẫn béo cơ mà.

Thế là bữa cơm chiều đông đủ càng thêm vui, ngon miệng vì đã có anh quản lý chuyên cần chăm chỉ. Ôi! Trong lúc xa Tổ quốc, có dân bản làng trìu mến, yêu thương càng động viên chúng tôi quyết thắng gấp bội.

Đã “thiếu thốn” muôn phần, chúng tôi lại có thêm “thiếu tá phi công Mỹ da trắng” bị bắn rơi ở sân bay Chà Vằn (A-To-Pư) vào điều trị. Hai cánh tay y bị bỏng. Do bị nhiễm trùng nên vết thương đã có giòi. Từng ngày viên phi công Mỹ đã được y s Kim Quy, Ngọc Ấm và khoa ngoại cấp cứu kịp thời, vết thương khỏi nhanh. Có những lúc chúng tôi cứ thấy viên thiếu tá Mỹ này nhẩy câng câng trong bộ quần áo bà ba đen không biết làm sao? Thì ra anh ta buồn đi vệ sinh mà không biết tiếng ... Cuộc sống gian lao nhưng vô cùng đầm ấm. Nữ quân y chúng tôi được cả Binh trạm yêu thương quý mến. Từ cái dù pháo sáng đến chiếc bàn chải đánh răng cũng được các anh ở Tiểu đoàn xe 23 hay tiểu đoàn công binh gửi đến làm quà. Chúng tôi rất biết ơn các anh đã động viên chúng tôi, những nữ quân y xa nhà. Tôi nhớ mãi phiên hiệu đơn vị hòm thư lúc đó là: 82: 616 KT. Tình thương yêu đó đã động viên chúng tôi phục vụ thương bệnh binh tốt hơn từ công tác điều trị đến làm thay mọi việc của hộ lý. Anh Lê Đức Xương (quê ở Định Hải, Yên Định, Thanh Hóa) đã dạy chúng tôi biết cắt tóc để chúng tôi phục vụ lại thương bệnh binh… Nữ quân y chúng tôi luôn có mặt và làm được mọi công việc của anh em trong đơn vị. Trong công tác điều trị bệnh nhân tôi đã gặp khá nhiều anh em cùng quê hương Yên Bái. Trên đường hành quân vào Nam năm 1968 -1969 có anh Lê Minh Hạnh và anh Trần Công Chúng - xã Y Kan. Anh là Bí thư Đoàn trường cấp 2 Trấn Yên. Sau khi tái ngũ, anh đã lên đường vào Nam chiến đấu. Anh Phạm Văn Lợi (con cụ Hào, phố Cổ Phúc, thị xã Yên Bái) là hàng xóm thuở trẻ thơ với tôi. Đồng chí Nguyễn Hưởng (xã Nga Quán) là học sinh lớp 5B, trường cấp 2 Trấn Yên (tôi là học sinh cuối cấp phụ trách chi đoàn của lớp)… Những người con của quê hương Yên Bái mà tôi đã gặp ở chiến trường, có anh đã hiến trọn cuộc đời trai trẻ của mình cho Tổ quốc…

Công tác điều trị ở tiền phương gặp rất nhiều khó khăn nhưng chúng tôi vẫn vượt khó để cấp cứu đồng đội. Tôi nhớ mãi ca cấp cứu đồng chí Nguyễn Văn Mỗi (quê ở Thái Bình) - làm chuyên gia giúp Lào. Trong một chuyến đi công tác, anh đã bị tai nạn dập vỡ lách. Anh được đưa vào cấp cứu tại Bệnh xá 36. Khi vào viện huyết áp của anh tụt do mất máu vỡ lách. Bệnh xá quyết định phẫu thuật gấp. Ca mổ gồm có: Kim Quy chuyên hồi sức sau phụ trách gây mê. Phẫu thuật viên: Bác sỹ Khôi. Đưa dụng cụ: Y sỹ Sửu. Phụ mổ: Y sỹ Uyển. Chuẩn bị dịch truyền: Dược sỹ Bổng. Phụ trách ánh sáng: Đồng chí Bổng (người đạp mô tơ phát sáng). Sau này chiếc mô tơ và đồng hồ đồng chí Bổng đã tặng bảo tàng Kỷ vật chiến tranh của tỉnh Nam Định…

Sau ca mổ lách, đồng chí Mỗi đã được các y bác sĩ chúng tôi theo dõi chăm sóc hậu phẫu khá chu đáo. Vết mổ nhanh chóng ổn định. 21 ngày sau anh được chuyển ra Bắc điều trị tiếp.Sự nỗ lực phấn đấu hoàn thành tốt nhiệm vụ của bản thân lại được sự giúp đỡ, chia sẻ tận tình của đồng đội ... Tôi đã được đơn vị tôn vinh là “Chiến sĩ Thi đua” rồi “Chiến sĩ Quyết thắng”. Mùa mưa năm 1969, tôi vinh dự được Binh trạm 36 cử ra dự Đại hội mừng công của Bộ Tư lệnh 559 tại Sầm Sơn, Thanh Hóa.

Vui mừng khôn xiết, tôi háo hức vượt Trường Sơn sau gần 3 tháng hành quân. Khi ra đến nơi không rõ vì lý do gì Đại hội mừng công năm ấy bị hoãn lại. Tôi được về quê nghỉ phép thăm mẹ và em. Mẹ tôi vui mừng ôm con gái vào lòng. Mẹ hỏi trong nước mắt:

-Sao con đi chiến trường lại được ra Bắc thế? Đã được kết nạp Đảng chưa?

- Mẹ ơi! Con mới là cảm tình Đảng. “Rùa Vàng” của mẹ, được ra Đoàn bộ dự hội nghị “Chiến sĩ Quyết thắng” đó mẹ ơi!

 Mẹ tôi động viên:

- Con quay vào đơn vị gắng hoàn thành nhiệm vụ với non sông để bố con đã hy sinh được mát lòng, nhé!...

 Sau 21 ngày rúc nách mẹ, tôi lại chào mẹ, chia tay các em và người yêu lên đường vào Nam lần thứ hai. Tôi căn dặn hai đứa em ở nhà cố gắng học hành và chăm sóc mẹ thay tôi. Cậu em trai dưới tôi là Nguyễn Văn Thìn (1952 - 2009), sau này Thạc sĩ, Đại tá, Phó Cục trưởng C27 (Cục Hồ sơ Cảnh sát, Bộ Công an). Em đã đoàn kết, lãnh đưa Phòng 3 của em đạt danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang là đơn vị đầu tiên cấp phòng của bộ Công an được đạt danh hiệu cao quý này năm 2000. Em út Nguyễn Thị Dần sau này đi học Mỹ thuật và trở thành họa sỹ. Hiện nay gia đình ở phố Mai Hắc Đế, Hà Nội.

Tôi trở lại chiến trường được năm tháng, thì được tin người yêu là bác sĩ ở nhà lấy vợ. Tôi buồn chán, ra bờ sông ngồi ngắm nhìn dòng sông Bạc…Nghĩ về quá khứ, nghĩ về tương lai và nghĩ về cuộc đời… Sau tiếng bom những người lính ở Trường Sơn như tôi cũng có những khoảnh khắc để nhớ, để thương…Tuy cuộc chiến không tiếng súng, nhưng tôi quyết cùng đồng đội phấn đấu không bao giờ lùi bước. Thời gian này lực lượng đường sông của Binh trạm vận chuyển gạo cho vào túi nilông thả trôi theo đường sông Bạc đưa gạo vào tuyến trong...Từ dòng sông Bạc đến sông Mê Kông nơi biên giới Campuchia, hàng vạn bao gạo đã được thả trôi sông chuyển tiếp vào chiến trường như thế. Có những lần Bệnh xá chúng tôi được nhận những bao gạo bị bom đạn xuyên thủng bao ni lông nên gạo bị ướt, mang về xay làm bánh, làm bún, tráng bánh cuốn cho thương bệnh binh ăn. Từ sân bay Nậm Lực pháo sáng của địch hằng đêm nổ đùng đùng trên bầu trời rực sáng cả một vùng. Tôi đã trải qua công tác điều trị tại Binh trạm 36 và Binh trạm 38 đóng quân trên địa bàn gần khu vực Trạm giao liên 65 và 66. Khi thành lập Sư đoàn 471, chúng tôi phải di chuyển liên tục từ Tăng Cát đến Bắc Bản Phồn - Bản Tọc quanh ngầm Bạc kiên cường. Tại ngầm Bạc, Chính ủy Binh trạm 36 Lê Phụng Kỳ (quê ở xã Hòa Đồng, huyện Tuy Hòa (cũ) nay là huyện Tây Hòa, tỉnh Phú Yên) và đồng chí Nguyễn Văn Công, là công vụ của Chính ủy (quê ở Hải Hậu, Nam Định) đã hy sinh anh dũng trong lúc đi kiểm tra trọng điểm vượt sông quan trọng này. Nén đau thương bên Chính ủy và các đồng chí yên giấc ngàn thu. Ghìm những giọt nước mắt vào trong tim, Binh trạm phó Đặng Hồng Tâm (quê ở Thôn La Tiến, xã Nguyên Hòa, huyện Phù Cừ, Hưng Yên. Ông là thân sinh của Đại tá, nhà thơ Hồng Thanh Quang sau này) đã lao ngay ra giữa trọng điểm ngầm Bạc khói bom mù mịt, tiếp tục chỉ huy các chiến sĩ lái xe vững tay lái, dũng cảm vượt ngầm lao nhanh vào chiến trường B2. Sau hòa bình, năm 1975, thủ trưởng Đặng Hồng Tâm đã viết bài thơ: Nhớ Trường Sơn.

Bài thơ có đoạn viết: “…Bom nổ rền, bên cạnh thùng xe/Năm người, hai chết, còn ba/Vùi nông một nấm, xót xa nghĩa tình…” Trong trận ấy, đồng chí Nguyễn Văn Tùy (quê ở Quế Tân, Quế Võ, Bắc Ninh) là lái xe cho Chính ủy Lê Phụng Kỳ chỉ bị thương. Anh tiếp tục phấn đấu trở thành trợ lý kế hoạch vận chuyển của Sư đoàn. Anh kết hôn với đồng nghiệp của tôi là chị Nguyễn Thị Huỳnh - quân y sĩ của Bệnh xá 36 tại chiến trường. Anh chị đã sát cánh, động viên cùng nhau phấn đấu và trưởng thành không ngừng cho đến ngày chiến thắng.

Suốt những năm tháng ở Trường Sơn, Bệnh xá chúng tôi luôn tìm nơi an toàn nhất có thể để đứng chân điều trị cho thương bệnh binh an toàn. Thế mà vẫn bị địch phát hiện. Có lần máy bay Mỹ thả hàng loạt bom bi xuống khu vực Bệnh xá. Thương bệnh binh đã được chúng tôi nhanh chóng đưa vào hầm trú ẩn. Tôi lao xuống hầm cấp cứu thương binh nặng. Các anh được đưa vào hầm chữ A an toàn. Không may cho tôi, một viên bi đã găm vào ổ khớp chân trái của tôi (sau này tôi là thương binh hạng A 4/4 vĩnh viễn).

Cả Binh trạm mừng vui vì Bệnh xá được an toàn sau trận oanh tạc của địch. Anh em đồng đội gọi điện đến chúc mừng, vui như tết. Các anh Chu Văn Tam - ở tổ bảo vệ (quê ở Thái Bình), anh Trần Chí Liêu, Quân lực Binh trạm (quê ở Vĩnh Thành, Yên Thành, Nghệ An) cùng các bác sĩ lại vác súng vào rừng. Đêm đêm các anh săn bắn cheo cheo, nai rừng, ngày bắn rắn, dúi… để bồi dưỡng cho thương bệnh binh sau một trận cuồng phong của máy bay Mỹ. Bệnh xá của chúng tôi khá gần đường giao liên, nên thường xuyên thu dung, điều trị nhiều người lính bị bệnh trên đường hành quân vào chiến trường. Sau cơn hoạn nạn ấy, chúng tôi lại sát cánh cùng nhau tiếp tục nỗ lực điều trị đểgóp thêm nhiều cán bộ, chiến sĩ mạnh khỏe trở lại. Bệnh xá của chúng tôi liên tục tiễn đưa các đồng chí bệnh binh khỏe mạnh vui vẻ tiếp tục lên đường hành quân vào Nam đánh giặc.Cán bộ, chiến sĩ các lực lượng binh chủng của Binh trạm đã đồng tâm, góp sức chi viện thắng lợi cho chiến trường. Trong niềm vui ấy, năm 1971, Binh trạm chúng tôi đã được “tặng thưởng” hai đêm biểu diễn của Đoàn Văn công xung kích Quan họ Hà Bắc. Các liền anh liền chị miền quê Quan họ đã vào động viên chúng tôi tại chiến trường Nam Bạc. Chị Minh Chính, chị Lệ Ngải, chị Bích Sâm, chị Hồng Thắm, chị Phương Lan cùng chín liền anh đã mang tiếng hát ngọt ngào từ miền quê Quan họ, động viên chúng tôi – những người con đang chiến đấu ở xa Tổ quốc, giúp chúng tôi thêm vững niềm tin, thực hiện lời dặn của Bác…

Thế rồi “ngày vinh quang” cũng đã đến với tôi. Ngày 18tháng 2 năm 1971, tôi vinh dự được đứng trong hàng ngũ của Đảng (Lớp Đảng viên đầu tiên mang tên Hồ Chí Minh). Tôi sung sướng nhảy lên như sáo, suýt đá vào chiếc bếp lửa xách tay. Cùng chung vui một ngày kết nạp Đảng với tôi có đồng chí Phạm Văn Bổng (quê ở thôn Hội Tiến II, xã Quỳnh Lưu, Nho

Quan, Ninh Bình). Anh là Trưởng ban Dược của Bệnh xá. Anh đã phấn đấu không ngừng trong công tác pha chế thuốc điều trị bệnh an toàn cho thương bệnh binh. Anh còn có sáng kiến nấu cao trăn, cao khỉ có khi cả cao voi (voi bị chết vì bom đạn Mỹ) để bồi dưỡng cho thương bệnh binh chóng khỏe. Tôi xúc động cầm trên tay tờ Quyết định số 15 của Đảng ủy Binh trạm 38 được Bí thư Nguyễn Liệu ký mà lòng rưng rưng giữa đại ngàn Trường Sơn vùng A-Tô-Pư hùng vĩ. Tôi tự hào sau bốn năm trên tuyến lửa Trường Sơn, đã luyện rèn chúng tôi thành “Thép”…

Hoàn thành nhiệm vụ, tôi trở về nước lần hai. Rất cám ơn các thầy cô đã dạy cùng đồng đội đã giúp cho tôi một thời biết sống kiên cường, mang trong tim luôn là “Con cháu Bộ đội Cụ Hồ” có một thời anh hùng, dũng cảm.Tháng 7 năm 1978, tôi được chuyển ngành về phục vụ trong lực lượng của Bộ Công an. Ban đầu tôi công tác tại Bệnh xá Sở Công an Hà Nội, sau đó về Công an quận Hoàn Kiếm. Tôi phấn đấu như những ngày còn ở chiến tuyến Trường Sơn. Tôi luôn thương yêu, quý mến bệnh nhân, quý mến đồng đội nên ở đơn vị mới ai cũng quý mến. Nhân ngày 27/7/1989, là một thương binh lại trải qua chiến trường nên Đảng ủy, Ban chỉ huy Công an Quận đã ưu ái tặng cho tôi ngôi nhà tình nghĩa trên phố Tạ Hiện nằm giữa phố cổ của thủ đô Hà Nội.Đáp lại lòng mong mỏi của chúng tôi - những người lính Trường Sơn năm xưa, thay mặt Bộ Công an Việt Nam, Trung tướng - Thứ trưởng Bùi Văn Nam đã ký quyết định ngày 8/9/2010 số 709/QĐ-BCA-V12 tặng thưởng cho Đoàn chúng tôi 15 đồng chí được đi an dưỡng và thăm lại chiến trường xưa. Tại thủ đô Viêng Chăn, đồng chí Phó cục trưởng Cục Quan hệ Quốc tế, Thượng tá Khâm Phèn Su Lin Ha Vông cùng Chánh Văn phòng Bộ Công an Lào đã nồng nhiệt tiếp đón chúng tôi. Đoàn chúng tôi được về thăm ngôi nhà của Chủ tịch Kayson Phomvihan tại quê hương Xavanakhẹt và thăm tỉnh A-to-pư nơi chiến trường tôi đóng quân năm xưa; thăm cố đô Luông Pha Băng của đất nước Lào hùng vĩ. Kết thúc chuyến thăm, đoàn chúng tôi lên máy bay trở về Việt Nam. Ai nấy đều lưu luyến một tình cảm đặc biệt, nhớ mãi không bao giờ quên về tình cảm anh em, đồng chí vẫn mặn nồng; mừng vui vì đất nước Lào đang đổi mới từng ngày. Tôi nghỉ hưu năm 2001 với quân hàm Trung tá. Chồng tôi là Lê Văn Xuân – một người lính Cơ yếu của chiến trường B5 (Quảng Trị) luôn đồng cảm vì một thời là cũng lính vượt Trường Sơn vào chiến trường. Nhiều năm rồi mà ký sinh trùng sốt rét vẫn không chịu buông tha anh. Năm nào anh cũng phải “nếm” vài trận sốt rét… Chúng tôi đã nuôi dạy hai con khôn lớn, trưởng thành. Các cháu đều tốt nghiệp Đại học. Cháu gái đầu công tác tại Hãng Hàng không Việt Nam Airline. Con trai là Trung tá Công an Hà Nội chững chạc. Con rể là kỹ sư thiết kế sân bay. Con dâu thảo hiền. Chúng tôi đã có bốn cháu nội, ngoại chăm ngoan, học giỏi.Đến giờ này tôi hoàn toàn toại nguyện với cuộc sống đời thường của mình. Tôi luôn tự hào vì mình đã có một thời là nữ chiến sỹ Quân y của chiến trường Trường Sơn vĩ đại và huyền thoại.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn