Rừng cờ tháng Tám ở Huế: Khi kinh đô đứng dậy giành chính quyền (1945)
Thừa Thiên – Huế trong mùa Thu tháng Tám năm 1945 giữ một vị trí đặc biệt. Huế khi ấy vừa là kinh đô của nhà nước phong kiến, vừa là thủ phủ của chính phủ bù nhìn Trần Trọng Kim, lại là nơi đặt cơ quan cai trị của quân đội Nhật. Bởi vậy, khởi nghĩa thắng lợi ở Huế không chỉ là một thắng lợi của riêng địa phương, mà còn là dấu mốc báo hiệu sự sụp đổ không thể đảo ngược của bộ máy phong kiến trung ương tập quyền, kéo theo chính phủ bù nhìn và các thế lực bảo trợ.
Thừa Thiên – Huế trong mùa Thu tháng Tám năm 1945 giữ một vị trí đặc biệt. Huế khi ấy vừa là kinh đô của nhà nước phong kiến, vừa là thủ phủ của chính phủ bù nhìn Trần Trọng Kim, lại là nơi đặt cơ quan cai trị của quân đội Nhật. Bởi vậy, khởi nghĩa thắng lợi ở Huế không chỉ là một thắng lợi của riêng địa phương, mà còn là dấu mốc báo hiệu sự sụp đổ không thể đảo ngược của bộ máy phong kiến trung ương tập quyền, kéo theo chính phủ bù nhìn và các thế lực bảo trợ.
Khi tin phát xít Nhật đầu hàng Đồng minh lan đến, Thường vụ Tỉnh ủy Thừa Thiên – Huế lập tức triệu tập hội nghị cán bộ toàn tỉnh, thống nhất chủ trương khởi nghĩa và quyết định chọn huyện Phú Lộc làm nơi giành chính quyền trước để rút kinh nghiệm, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi cho Huế bước vào cuộc quyết định.
Trung ương vào Huế, lập Ủy ban Khởi nghĩa Ngày 20/8/1945, đoàn cán bộ Trung ương gồm các đồng chí Tố Hữu, Hồ Tùng Mậu, Nguyễn Duy Trinh đến Huế trực tiếp tham gia chỉ đạo. Tại nhà ông Thuật (cửa Thượng Tứ), Thường vụ Việt Minh tỉnh báo cáo tình hình chung trong tỉnh, thái độ của quân Nhật, tình trạng của chính phủ Trần Trọng Kim, cùng kế hoạch dự kiến cho cuộc khởi nghĩa ở Huế.
Đoàn Trung ương nhất trí với phương án địa phương và ngay trong ngày 20/8 thành lập Ủy ban Khởi nghĩa, gồm:
Tố Hữu – Chủ tịch
Hoàng Anh – Phó Chủ tịch
Các ủy viên: Lê Tự Đồng, Lê Khánh Khang, Hoàng Phương Thảo, Nguyễn Sơn…
Tối 21/8, hội nghị cán bộ được triệu tập để phổ biến kế hoạch, giao nhiệm vụ cho các huyện, thành phố và từng cán bộ, ấn định ngày 23/8/1945 là thời điểm khởi nghĩa giành chính quyền ở Huế.
Ủy ban Khởi nghĩa sắp xếp việc huy động quần chúng các huyện tập trung về Huế, tổ chức mít-tinh, tuần hành ngày 23/8; các đoàn thể đảm nhiệm việc chiếm giữ công sở, kho tàng. Lực lượng vũ trang gồm đội tự vệ, một bộ phận lính bảo an đã nắm được, cùng học viên Trường Thanh niên tiền tuyến, làm nhiệm vụ bảo vệ đoàn biểu tình, bảo vệ cuộc mít-tinh.
Cuộc họp này cũng thống nhất cử Ủy ban Nhân dân Cách mạng Lâm thời tỉnh Thừa Thiên – Huế, do ông Tôn Quang Phiệt làm Chủ tịch. Trong khi ở tỉnh chuẩn bị bước quyết định, tại các huyện, khí thế quần chúng đã bùng lên như lửa.
Các huyện nổi dậy, chính quyền lần lượt về tay nhân dân Từ 18 đến 22/8/1945, thực hiện quyết định của hội nghị mở rộng, các Ủy ban Khởi nghĩa tổ chức lực lượng giành chính quyền thắng lợi ở nhiều nơi:
Phong Điền (18–19/8): nhân dân và tự vệ các tổng Phò Ninh, Hiền Lương nổi dậy giành chính quyền ở xã, tổng; tiếp đó các tổng Phò Trạch, Chánh Lộc, Phong Thu, Vĩnh Xương… giành chính quyền tại Ưu Điềm, tuyên bố thành lập chính quyền cách mạng.
Phú Lộc (19/8): nhân dân toàn huyện tuần hành vũ trang, vượt phá Cầu Hai, tiến về bao vây huyện đường, giải tán chính quyền bù nhìn, lập chính quyền cách mạng.
Hương Thủy (20–22/8): tập hợp nhân dân tại các đình làng Thanh Thủy Thượng, Thần Phù, Bãng Lãng; giương cờ, gióng trống, kéo đi giành chính quyền ở tổng xã; ngày 22/8 giành chính quyền cấp huyện và thành lập Ủy ban cách mạng lâm thời.
Phú Vang (21–22/8): giành chính quyền tại các tổng Mậu Tài, Ngọc Anh, Dương Nổ; ngày 22/8 hơn 5.000 người đại diện nhân dân toàn huyện kéo về huyện đường giành chính quyền.
Quảng Điền (23/8): hàng vạn quần chúng 5 tổng kéo về quận lỵ Hạ Lang giành chính quyền, chấm dứt ách áp bức bóc lột phong kiến.
Hương Trà (23/8): huy động hơn 1 vạn quần chúng 6 tổng khởi nghĩa giành chính quyền tại Bao Vinh, sau đó kéo về tỉnh.
Huế chuyển động: thị uy, chiếm điểm then chốt, Nhật hoảng sợ Tại Huế, từ 21/8, các đội tự vệ và đoàn thể cứu quốc mang vũ khí thô sơ đã giương cờ, biểu ngữ, biểu tình thị uy khắp các đường phố. Các trại lính bảo an cũng được chuẩn bị tham gia phong trào. Quân Nhật hoang mang, không dám manh động.
Chiều 21/8, đơn vị tự vệ khu phố Phú Bình chiếm được vòng ngoài đồn Mang Cá.
Đêm 22/8, trước sức ép của phong trào khởi nghĩa, Bảo Đại buộc phải tuyên bố: “Nhường quyền lãnh đạo quốc gia cho Việt Minh.” Nhưng Ủy ban Khởi nghĩa không chấp nhận lời nói suông. Việt Minh yêu cầu Nhà vua:
Báo cho Nhật biết triều đình đã giao toàn bộ quyền binh cho chính quyền cách mạng
Điện cho các Tỉnh trưởng giao quyền cho Việt Minh
Giao lại đội lính khố vàng cùng toàn bộ trang bị vũ khí, đạn dược
Đồng thời, chính quyền cách mạng cam kết bảo đảm an toàn tính mạng và quyền công dân cho Bảo Đại
Khẳng định tài sản hoàng cung thuộc sở hữu nhân dân; một số tài sản riêng Bảo Đại được phép mang theo; lăng tẩm triều Nguyễn trở thành tài sản quốc gia
Bảo Đại triệu tập nội các và chấp nhận các điều kiện, đồng ý thoái vị bằng thủ tục chính thức.
Ngày 23/8: Sân vận động Huế nghẹt người, chính quyền công khai về tay nhân dân Chiều 16 giờ ngày 23/8/1945, tại sân vận động Huế, hàng vạn nhân dân Thừa Thiên – Huế xếp hàng chỉnh tề dưới rừng cờ sao vàng. Ủy ban Khởi nghĩa tiến lên lễ đài trong tiếng hoan hô vang dậy. Đồng chí Tố Hữu đọc diễn văn, nêu rõ ý nghĩa cuộc khởi nghĩa và tuyên bố từ nay chính quyền thuộc về nhân dân, đồng thời giới thiệu Ủy ban Nhân dân Cách mạng Lâm thời tỉnh do Tôn Quang Phiệt làm Chủ tịch, Hoàng Anh làm Phó Chủ tịch.
Trung ương vào tiếp nhận thoái vị, ngày 30/8: Triều đại phong kiến cáo chung Phái đoàn Trung ương do Trần Huy Liệu làm trưởng đoàn, cùng Nguyễn Lương Bằng và Cù Huy Cận, được cử vào Huế để tiếp nhận việc thoái vị của Bảo Đại.
Ngày 28/8, nhân dân Thừa Thiên – Huế mít-tinh chào mừng phái đoàn Trung ương, xúc động khi nghe thông báo khởi nghĩa thắng lợi trên toàn quốc và giới thiệu Chính phủ Cách mạng Lâm thời do Chủ tịch Hồ Chí Minh đứng đầu. Chiều 29/8, tại điện Kiến Trung, phái đoàn làm việc với Bảo Đại về các điều khoản và thủ tục thoái vị.
Đúng 13 giờ chiều 30/8/1945, lễ thoái vị được tổ chức tại lầu Ngọ Môn. Đại biểu nhân dân 6 huyện Phú Vang, Phú Lộc, Hương Trà, Hương Thủy, Phong Điền, Quảng Điền, cùng đại biểu các tầng lớp nhân dân thành phố tập hợp đông đủ trên quảng trường từ trước Ngọ Môn đến chân Cột Cờ.
Bảo Đại mặc triều phục, đọc chiếu thoái vị và trao cho đại diện Chính phủ Lâm thời Quốc ấn bằng vàng và thanh gươm vàng nạm ngọc – biểu tượng quyền lực của chế độ phong kiến.
Trong nắng mùa Thu tháng Tám, cờ đỏ sao vàng tung bay trên kỳ đài. Huế rợp sắc cờ hoa. Và ngay tại nơi từng là trung tâm quyền lực phong kiến, nhân dân Huế – đại diện cho nhân dân cả nước – chứng kiến khoảnh khắc lịch sử: triều đại phong kiến cuối cùng tuyên bố cáo chung, mở ra một kỷ nguyên mới cho đất nước và dân tộc Việt Nam.



