Bài viết

Rưng rưng những lá đơn tình nguyện vào chiến trường ngày ấy

Hà Nội07/08/2026Xã Tương Dương (Đoàn xã Tương Dương)3 lượt xem0 lượt chia sẻ

Tháng 9 năm 1971, khi cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước đang vào thời điểm ác liệt, chàng thanh niên tuổi 19 Nguyễn Văn Quyến (thôn Hà Khê, xã Vân Hà, huyện Đông Anh (cũ), Hà Nội), đã viết một lá đơn có cả máu của mình để tình nguyện vào miền nam chiến đấu.

Trong lá đơn tình nguyện gửi Hội đồng quân sự Trường Công nhân kỹ thuật I năm đó, với lòng yêu nước sâu sắc, học viên trẻ này đã viết: “Tôi chỉ muốn rằng được nhập ngay vào hàng ngũ quân đội để được cầm súng chiến đấu và phục vụ chiến đấu”.

Đây cũng không phải là lá đơn tình nguyện đầu tiên vào chiến trường miền nam của Nguyễn Văn Quyến. Chàng thanh niên thuở ấy từng cảm thấy tiếc nuối vì “qua những lá đơn đợt trước như vậy mà tại sao tôi lại chưa được đi”.

Trong gia đình chưa có ai vào tham gia quân ngũ, vì thế “tôi rất muốn được vào hàng ngũ quân đội nhân dân để chiến đấu và phục vụ chiến đấu, góp phần xương máu vào trong công cuộc giải phóng dân tộc… Tôi rất vinh dự nếu được đi nhập ngũ ngay trong đợt này, mặc dù có phải chịu mọi khó khăn, vượt mọi gian khổ, tôi cũng quyết tâm hoàn thành nhiệm vụ”.

55 năm sau, lá thư của ông Nguyễn Văn Quyến vẫn nằm lại ở Trung tâm Lưu trữ quốc gia III (Cục Văn thư và Lưu trữ Nhà nước, Bộ Nội vụ), và khiến người xem cảm động bởi dòng chữ “Đơn xin tình nguyện” và chữ ký của người viết vẫn còn hoen những vệt máu mờ.

Lá thư quyết tâm ấy vẫn khiến người đọc nghẹn ngào khi nhớ về một thời kỳ kháng chiến gian khổ của đất nước, của một thế hệ cán bộ đã gửi lại tuổi thanh xuân để dấn thân vào chiến trường khói lửa.

Một lá đơn khác được viết vào tháng 1/1969 cũng khiến nhiều người rưng rưng.

Đó là lá đơn xin tình nguyện đi công tác B của cán bộ Phạm Văn Biên (thôn Long Tràng, xã Hoàng Diệu, huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Hưng cũ), viết khi 27 tuổi.

Sinh ra trong một gia đình thuần nông, dù người em trai đã vào nam chiến đấu, bản thân từng tốt nghiệp ngành trồng trọt (Trường đại học Nông nghiệp 1, Hà Nội), nhưng đảng viên Phạm Văn Biên viết: “... Tôi thường suy nghĩ: Đồng bào miền nam bao nhiêu năm chiến đấu gian khổ, hy sinh bảo vệ thành quả cách mạng, để tôi được ngồi yên học tập, rèn luyện, tu dưỡng về mọi mặt trưởng thành như ngày nay. Vậy bây giờ đã tốt nghiệp trường đại học, tôi xin tha thiết đề nghị cấp trên xét duyệt cho tôi được đi phục vụ công tác B. Tôi biết đi là có thể hy sinh và đầy khó khăn, gian khổ. Nhưng tôi nguyện: Suốt đời trung thành với Đảng, suốt đời vì nhân dân phục vụ; Luôn luôn lúc nào cũng tin tưởng, phấn khởi với khí thế chiến đấu và chiến thắng mọi khó khăn gian khổ để hoàn thành nhiệm vụ”.

Cựu sinh viên của Trường đại học Nông nghiệp 1 “sẵn sàng chờ lệnh cấp trên gọi là có ngay. Một lần nữa, xin tha thiết đề nghị cấp trên xét duyệt cho tôi được vào chiến trường B phục vụ”.

Hai lá thư tình nguyện vào chiến trường ngày ấy chỉ là một trong số hàng trăm nghìn tư liệu thuộc về 72.000 hồ sơ, kỷ vật cán bộ đi B đang được lưu trữ tại Trung tâm Lưu trữ quốc gia III. Cùng với mạch thời gian, đó là những kỷ vật, hồ sơ vô giá của một thế hệ đã gửi lại thời thanh xuân tiếp nối hành trình bảo vệ Tổ quốc.

Trong những năm kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, trước yêu cầu cấp bách của cách mạng miền nam, hàng vạn cán bộ đi B đã âm thầm vượt Trường Sơn vào chiến trường công tác và chiến đấu.

Khác với lực lượng quân đội trực tiếp chiến đấu trên mặt trận, cán bộ đi B là lực lượng dân sự. Đó là hàng vạn cán bộ, đảng viên cùng đội ngũ trí thức, văn nghệ sĩ, chuyên gia và công nhân kỹ thuật thuộc mọi lĩnh vực đang công tác tại các cơ quan ở miền bắc. Trong số đó, có rất nhiều cán bộ, chiến sĩ, đồng bào miền nam đã tập kết ra bắc học tập, lao động và công tác sau Hiệp định Geneva năm 1954. Họ mang theo niềm tin son sắt vào sự nghiệp cách mạng, gác lại gia đình, công việc và tuổi thanh xuân để vào miền nam làm nhiệm vụ, góp phần vào sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước.

Trước khi lên đường, để bảo đảm yêu cầu tuyệt đối bí mật, các cán bộ đi B đã gửi lại toàn bộ hồ sơ cá nhân, giấy tờ tùy thân và kỷ vật tại Ủy ban Thống nhất của Chính phủ.

Bà Trần Việt Hoa, Giám đốc Trung tâm Lưu trữ quốc gia III, nhấn mạnh, khối hồ sơ, kỷ vật của các cán bộ đi B là một khối hồ sơ đặc biệt trong kho lưu trữ của cơ quan này. Một điểm dễ nhầm lẫn là nhiều người nghĩ tại Trung tâm Lưu trữ quốc gia III lưu trữ cả hồ sơ của cán bộ là quân nhân chuyên nghiệp, hoặc lực lượng vũ trang nhập ngũ chính thức rồi đi B. Trên thực tế, đơn vị này chỉ lưu trữ hồ sơ của các cán bộ dân sự đi B.

Cũng theo bà Trần Việt Hoa, trong khối hồ sơ, kỷ vật của cán bộ đi B tại Trung tâm Lưu trữ quốc gia III, có rất nhiều bộ hồ sơ của cán bộ miền nam tập kết ra bắc. Mỗi bộ hồ sơ đó đều rất dày dặn thông tin, thể hiện rõ cả một quá trình từ học tập đến công tác của họ, và đặc biệt có rất nhiều kỷ vật kèm theo.

Trung tâm Lưu trữ quốc gia III đang gìn giữ hơn 72.000 hồ sơ, kỷ vật của cán bộ đi B thuộc 89 tỉnh, thành phố (theo địa giới hành chính các thời kỳ giai đoạn 1945-1975). Đây là một trong những khối tài liệu lưu trữ quốc gia có giá trị đặc biệt, không chỉ phục vụ nghiên cứu lịch sử mà còn là nguồn tư liệu gốc vô giá để xác minh, giải quyết chế độ, chính sách đối với người có công với cách mạng.

Khối tài liệu đặc biệt này bao gồm những tư liệu, kỷ vật quý giá như: Hồ sơ cán bộ, đơn tình nguyện, thư từ, nhật ký, ảnh gia đình, thẻ Đảng, sổ Đoàn, huân chương, huy chương, giấy khen, bằng khen cùng nhiều giấy tờ và tài sản cá nhân khác. Mỗi trang giấy ố vàng, mỗi bức ảnh sờn góc không chỉ là chứng tích lịch sử của một thời kỳ khói lửa, mà còn lưu giữ vẹn nguyên ký ức, tình cảm, hoài bão và dấu ấn cuộc đời của những con người đã dâng hiến cả tuổi trẻ cho độc lập dân tộc.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn
Rưng rưng những lá đơn tình nguyện vào chiến trường ngày ấy | Câu chuyện thời hoa lửa