Sách lược “hòa để tiến” trong đối ngoại (3/1946 – 12/1946)
Tác giả: Trần Thị Thu Hiền
Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đứng trước tình thế đặc biệt khó khăn. Ở miền Bắc có khoảng 20 vạn quân Trung Hoa Dân quốc kéo vào với danh nghĩa giải giáp quân Nhật, trong khi thực dân Pháp trở lại xâm lược Nam Bộ và từng bước mở rộng chiến tranh. Chính quyền cách mạng còn non trẻ phải đối mặt với nhiều kẻ thù cùng lúc. Vì vậy, Đảng và Chính phủ chủ trương thực hiện sách lược ngoại giao mềm dẻo, hòa hoãn với Pháp để nhanh chóng đẩy quân Trung Hoa Dân quốc ra khỏi miền Bắc, đồng thời tranh thủ thời gian củng cố lực lượng.
Ngày 6/3/1946, Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ký Hiệp định Sơ bộ Việt – Pháp. Theo hiệp định, Pháp công nhận Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là một “quốc gia tự do”, có Chính phủ, Nghị viện, quân đội và tài chính riêng, nằm trong Liên bang Đông Dương và Liên hiệp Pháp; Việt Nam đồng ý cho một số quân Pháp ra miền Bắc thay quân Trung Hoa Dân quốc, với số lượng và thời gian được quy định trong hiệp định. Việc ký kết giúp Việt Nam giải quyết được một phần tình thế bất lợi: quân Trung Hoa Dân quốc có điều kiện rút khỏi miền Bắc, trong khi ta tránh được khả năng phải đồng thời đối phó với cả Pháp và quân Trung Hoa Dân quốc.
Sau Hiệp định Sơ bộ, Việt Nam tiếp tục sử dụng con đường đàm phán để kéo dài thời gian hòa hoãn. Ta tham gia Hội nghị Đà Lạt (4–5/1946) và Hội nghị Fontainebleau (7–9/1946) nhằm tìm kiếm một giải pháp hòa bình cho quan hệ Việt – Pháp. Tuy nhiên, do lập trường của hai bên còn nhiều khác biệt, đặc biệt là việc Pháp không từ bỏ ý định duy trì quyền thống trị ở Đông Dương, các cuộc đàm phán không đạt được kết quả căn bản.
Trong hoàn cảnh đó, ngày 14/9/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Tạm ước Việt – Pháp tại Paris. Việt Nam tiếp tục nhân nhượng một số quyền lợi về kinh tế, văn hóa nhằm duy trì hòa hoãn và tranh thủ thêm thời gian chuẩn bị. Đây là sự nhân nhượng có tính toán, bởi mục tiêu trước mắt của ta vẫn là củng cố chính quyền, xây dựng lực lượng và chuẩn bị cho khả năng phải tiến hành kháng chiến lâu dài.
Tuy nhiên, thực dân Pháp ngày càng gia tăng các hành động quân sự và chính trị nhằm áp đặt lại ách thống trị ở Việt Nam. Những nỗ lực hòa hoãn cuối cùng không thể ngăn cản chiến tranh. Ngày 19/12/1946, trước hành động ngày càng trắng trợn của Pháp, cuộc kháng chiến toàn quốc chống thực dân Pháp chính thức bùng nổ.
Như vậy, từ tháng 3 đến tháng 12/1946, Việt Nam đã thực hiện sách lược hòa với Pháp để đẩy quân Trung Hoa Dân quốc về nước, thể hiện sự mềm dẻo và linh hoạt trong đối ngoại. Việc ký Hiệp định Sơ bộ và Tạm ước đã giúp ta tránh phải cùng lúc đối phó với nhiều kẻ thù, tranh thủ được thời gian hòa bình quý báu để củng cố lực lượng. Đây là một bước quan trọng trong nghệ thuật kết hợp đấu tranh ngoại giao với đấu tranh chính trị và quân sự, chuẩn bị cho cuộc kháng chiến lâu dài chống thực dân Pháp.



