Sài Gòn – Chợ Lớn – Gia Định dưới ngọn cờ Đảng: từ cao trào 1930 đến ý chí “thà hy sinh chứ không chịu mất nước”
Ngày 3-2-1930, Đảng Cộng sản Đông Dương ra đời. Chỉ ít lâu sau, tháng 3-1930, tổ chức Đảng tại Sài Gòn và hai tỉnh Gia Định, Chợ Lớn được thành lập. Từ đây, phong trào cách mạng ở đô thị đầu tàu của Nam Kỳ có một đảng bộ vững mạnh, nhận sự chỉ đạo trực tiếp của Trung ương và Xứ ủy, mở ra một giai đoạn mới trong lịch sử đấu tranh giành độc lập, tự do của nhân dân thành phố.
Sài Gòn – Chợ Lớn – Gia Định dưới ngọn cờ Đảng: từ cao trào 1930 đến ý chí “thà hy sinh chứ không chịu mất nước”
Ngày 3-2-1930, Đảng Cộng sản Đông Dương ra đời. Chỉ ít lâu sau, tháng 3-1930, tổ chức Đảng tại Sài Gòn và hai tỉnh Gia Định, Chợ Lớn được thành lập. Từ đây, phong trào cách mạng ở đô thị đầu tàu của Nam Kỳ có một đảng bộ vững mạnh, nhận sự chỉ đạo trực tiếp của Trung ương và Xứ ủy, mở ra một giai đoạn mới trong lịch sử đấu tranh giành độc lập, tự do của nhân dân thành phố.
Sài Gòn vốn đã được chuẩn bị từ thập niên 1920. Nhưng khi có Đảng, khí thế đấu tranh bước sang một “nhịp” khác: bãi công công nhân, biểu tình nông dân, đấu tranh công khai hợp pháp phát triển mạnh. Dù Nam Kỳ khởi nghĩa sau đó thất bại và bị đàn áp khốc liệt, ngọn lửa cách mạng không tắt. Chỉ 5 năm sau, Sài Gòn cùng cả nước làm nên Cách mạng Tháng Tám 1945. Và khi thực dân Pháp trở lại xâm lược, chính thành phố này lại nổ những phát súng đầu tiên mở đầu Nam Bộ kháng chiến.
1) 1930–1931: Khủng hoảng kinh tế – phong trào công nông bùng lên
Cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới giáng mạnh vào Nam Kỳ và Sài Gòn – nơi kinh tế gắn chặt với xuất khẩu gạo và cao su. Giá gạo tụt từ 10 đồng/tạ (1929) xuống 6,72 đồng (1930), rồi còn 4,25 đồng vào giai đoạn 1932–1935. Giá cao su từ 28 franc/kg rơi xuống chỉ 3 franc/kg. Nhà máy đóng cửa hoặc hoạt động cầm chừng; thất nghiệp lan rộng; không khí thành phố trở nên ảm đạm.
Chính trong bối cảnh đó, phong trào công nhân lại vươn lên một bước mới: đình công không chỉ để đòi miếng cơm mà đã mang tính chất giác ngộ chính trị. Truyền đơn, cờ đỏ xuất hiện tại nhiều hãng xưởng – dấu hiệu cho thấy tổ chức Đảng đã bám rễ vào đời sống lao động.
Cơ sở Đảng có mặt ở nhiều nơi: Đềpô Dĩ An, Đềpô Sài Gòn, hãng dầu Nhà Bè, xưởng Ba Son, các công ty xây dựng, nhà máy xay lúa, nhà in, các ngành nghề từ may mặc, giặt ủi, đóng giày, nhuộm, điện nước, bưu điện… đến cả công nhân người Hoa ở Chợ Lớn, tư chức, công chức.
Từ phong trào công nhân, phong trào nông dân vùng ven cũng dâng lên mạnh mẽ, hình thành “vành đai đỏ” quanh Sài Gòn. Nhiều hình thức đấu tranh mới xuất hiện: mít tinh, diễn thuyết, biểu tình có tổ chức.
Trong một cuộc mít tinh, để bảo vệ diễn giả Phan Bôi, Lý Tự Trọng đã nổ súng vào tên cò Legrand. Anh bị bắt và bị kết án tử hình, trở thành biểu tượng khí phách của thanh niên thời đó.
Sài Gòn còn chứng kiến bãi khóa của học sinh các trường tư thục như Huỳnh Khương Ninh (Đa Kao), Huỳnh Công Phát (Cầu Ông Lãnh), và đặc biệt là những cuộc biểu tình nông dân vùng Đức Hòa – Hóc Môn. Cuộc biểu tình ngày 4-6-1930 được báo chí đương thời phản ánh với khí thế rất lớn: đoàn người hàng ngũ chỉnh tề, có tự vệ, cờ đỏ, băng chữ… Dù bị đàn áp, phong trào vẫn thể hiện quyết tâm bền bỉ và tinh thần không khuất phục. Trong những người hy sinh có thầy giáo Châu Văn Liêm, một trong những người sáng lập Đảng Cộng sản Việt Nam.
2) 1930–1935: Hình thức đấu tranh lan rộng, liên minh công–nông bền chặt
Từ 1930 đến 1935, công nhân và lao động Sài Gòn rải truyền đơn, căng biểu ngữ, lập công đoàn, bãi công, mít tinh, biểu tình… Phong trào ngày càng bài bản và “có nghề”.
Trong giai đoạn này, một dấu mốc đặc biệt là Công hội Đỏ – tiền thân của tổ chức công đoàn sau này, gắn với vai trò của đồng chí Tôn Đức Thắng (khi đó là công nhân Ba Son, một trong những đảng viên đầu tiên ở Sài Gòn).
Đấu tranh bãi công trở thành hình thức phổ biến vì đánh thẳng vào “yết hầu” kinh tế của thực dân. Chỉ riêng năm 1930 có 98 cuộc bãi công, nổi bật là đềpô Dĩ An và hãng dầu Nhà Bè. Tại Dĩ An, công nhân lần đầu căng biểu ngữ đòi “8 giờ lao động” và kêu gọi công–nông–binh liên hiệp.
Ngày 1-5-1930, lần đầu kỷ niệm Quốc tế Lao động sau khi Đảng ra đời được đánh dấu bằng hai cuộc đình công ở nhà đèn Chợ Quán và đềpô Dĩ An.
Sang 1931, xuất hiện một hình ảnh rất đáng nhớ: mít tinh công–nông. Ngày 21-1, nông dân Phú Xuân cùng công nhân Nhà Bè mít tinh kỷ niệm các lãnh tụ quốc tế của giai cấp công nhân. Ngày 9-2-1931, Công hội tổ chức mít tinh gần sân bóng đội Ngôi Sao Gia Định ở đường Mayer; tại đây, Lý Tự Trọng làm nhiệm vụ bảo vệ và nổ súng, rồi bị bắt và bị xử tử.
Một yếu tố làm phong trào Sài Gòn bền bỉ chính là liên minh công nhân – nông dân: công nhân quyên góp giúp nông dân bị đàn áp, nông dân lại ủng hộ công nhân đang bãi công. Dù sau đợt “khủng bố trắng” 1930–1931, phong trào gặp khó khăn, nhưng vẫn giữ được sức sống, thể hiện qua các cuộc đấu tranh của công nhân Hoa kiều ngành dệt Chợ Lớn (1932), bãi công các nhà máy xay (1934)…
3) 1936–1939: Cao trào dân chủ – “tổng diễn tập” quy mô lớn
Giai đoạn 1936–1939 là cao trào vận động dân chủ sôi nổi trên cả nước, trong đó Sài Gòn giữ vai trò rất quan trọng. Từ công nhân, nông dân, dân nghèo thành thị đến trí thức, viên chức, nhân sĩ dân chủ… đều được huy động rộng rãi.
Cao trào mở đầu bằng dấu ấn trong đời sống công khai: bầu cử Hội đồng thành phố và các hoạt động diễn thuyết, mít tinh, báo chí. Nhiều cuộc vận động đòi quyền dân chủ đã làm “rung chuyển” các đường phố Sài Gòn, thức tỉnh các tầng lớp trung gian, tập dượt lực lượng cách mạng mới trong giới công nhân, trí thức, học sinh, sinh viên…
Tuy nhiên, từ cuối 1937 đến cuối 1938, thực dân Pháp quay lại đàn áp gắt gao: nhiều cán bộ công khai bị bắt, báo chí tiến bộ bị cấm. Cao trào lùi xuống, nhưng tinh thần và kinh nghiệm đấu tranh đã được tích lũy.
4) Nam Kỳ khởi nghĩa 1940: Bi tráng, bị đàn áp nhưng không bị dập tắt
Chiến tranh giữa các đế quốc làm tình hình biến động. Hội nghị Trung ương VI họp tại Sài Gòn (11-1939) xác định thời cơ cách mạng trong bối cảnh chiến tranh.
Năm 1940, nhiều cán bộ chủ chốt bị bắt: Tổng Bí thư Nguyễn Văn Cừ, các đồng chí Lê Duẩn, Vũ Đình Hiếu, rồi đến Võ Văn Tần… Tháng 7-1940, Xứ ủy Nam Kỳ họp mở rộng ở Mỹ Tho bàn khởi nghĩa, cử Phan Đăng Lưu ra Bắc xin ý kiến Trung ương. Do lộ kế hoạch và tổn thất, Trung ương quyết định hoãn; nhưng khi Phan Đăng Lưu về tới Sài Gòn (22-11-1940) thì lệnh khởi nghĩa đã phát ra trước đó.
Dù bị lộ, khởi nghĩa vẫn diễn ra ở nhiều nơi như Hóc Môn, Gò Vấp… Thực dân Pháp đàn áp điên cuồng. Nam Kỳ khởi nghĩa thất bại, bị dìm trong biển máu, nhưng trở thành một tiếng còi báo hiệu: không đầy 5 năm sau, Tổng khởi nghĩa Tháng Tám thắng lợi.
Ngày 14-4-1948, Chủ tịch Hồ Chí Minh tặng Huân chương Quân công hạng nhất cho “Đội quân khởi nghĩa Nam Bộ năm 1940” vì tinh thần chiến đấu oanh liệt và ý chí quật cường.
5) Giành chính quyền 1945 ở Sài Gòn: cờ đỏ sao vàng phủ kín phố phường
Sau những tổn thất, phong trào phục hồi. Sau Hội nghị Chợ Gạo (10-1943), Xứ ủy được lập lại; Sài Gòn có Ban cán sự do Bí thư Xứ ủy Trần Văn Giàu trực tiếp phụ trách. Đến năm 1945, thời cơ đến khi Nhật đảo chính Pháp và sau đó tuyên bố đầu hàng Đồng minh.
Ủy ban khởi nghĩa thành lập; Việt Minh hoạt động công khai. Ủy ban khởi nghĩa chỉ thị giành chính quyền trước 0 giờ sáng 25-8. Trên thực tế, chưa tới 10 giờ đêm 24-8, phần lớn cơ quan quan trọng đã thuộc quyền kiểm soát của ta: dinh khâm sai, dinh đốc lý, đài phát thanh, bưu điện, kho bạc, nhà đèn, sở cấp nước… Cờ quẻ ly bị hạ, cờ đỏ sao vàng tung bay.
Rạng sáng 25-8, đông đảo nhân dân nội – ngoại thành và các tỉnh lân cận tập hợp trên đại lộ Norodom (nay Lê Duẩn) nghe Chủ tịch Ủy ban khởi nghĩa Trần Văn Giàu phát biểu. Sài Gòn bước vào thời khắc lịch sử: làm chủ vận mệnh của mình.
6) Từ 23-9-1945: Sài Gòn mở đầu Nam Bộ kháng chiến – “độc lập vừa giành, quyết không để mất”
Nhưng không khí độc lập chưa tròn một tháng, thực dân Pháp theo chân quân Anh quay lại. Tướng Anh Gracey áp đặt thiết quân luật, giải tán lực lượng vũ trang cách mạng, thả tù binh Pháp và trang bị cho họ. Đêm 22 rạng 23-9, Pháp đánh chiếm nhiều mục tiêu trọng yếu. Lực lượng ta chiến đấu trong điều kiện vũ khí thô sơ, rồi rút theo mệnh lệnh để bảo toàn lực lượng.
Thành phố lập tức bước vào thế kháng chiến: đình công, bãi thị, đường phố dựng chướng ngại, phong tỏa, “tắt đèn” để kìm chân địch. Bên trong nội thành, tự vệ tổ chức các ổ chiến đấu; bên ngoài, lực lượng vũ trang hình thành vòng vây, chặn đánh địch nống ra.
Chủ tịch Hồ Chí Minh qua Đài Tiếng nói Việt Nam ngày 26-9 khẳng định: Chính phủ và đồng bào cả nước sẽ hết sức giúp đỡ Nam Bộ đang hy sinh chiến đấu giữ vững độc lập. Từ đó, phong trào Nam tiến và chi viện của cả nước dồn về, thể hiện một chân lý: Nam Bộ không chiến đấu một mình.
7) Trong lòng địch: đấu tranh vũ trang – chính trị – báo chí, làm phá sản “chia để trị”, “dùng người Việt đánh người Việt”
Sài Gòn có thời điểm rơi vào tay địch khi viện binh Pháp tăng cường. Nhưng ngay trong lòng thành phố, hoạt động đấu tranh vẫn liên tục: từ công tác thành, tự vệ, quyết tử đến công an xung phong. Nhiều trận đánh phá kho tàng, cơ sở quân sự địch gây chấn động; các đòn trừng trị tay sai, mật thám; đồng thời phong trào báo chí – trí thức giữ vững ngọn cờ thống nhất đất nước, ủng hộ Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.
Âm mưu “Nam Kỳ tự trị” bị nhân dân tẩy chay; phong trào trí thức – báo chí cổ vũ thống nhất và phản đối chia rẽ. Khi Pháp chuyển sang “lá bài Bảo Đại”, học sinh – sinh viên – nhân sĩ lại bùng lên đấu tranh, đặc biệt sự kiện đám tang học sinh Trần Văn Ơn (1950) trở thành biểu tượng sức mạnh quần chúng.
Khi Mỹ can thiệp sâu hơn, phong trào chống can thiệp cũng xuất hiện mạnh mẽ ở Sài Gòn, thể hiện lập trường kiên quyết trước mọi thế lực muốn áp đặt vận mệnh Việt Nam từ bên ngoài.
Từ 1930 đến 1954, Sài Gòn – Chợ Lớn – Gia Định đi qua đủ mọi “tầng sóng”: khủng hoảng, đàn áp, phục hồi, tổng khởi nghĩa, rồi bước vào kháng chiến trường kỳ. Nhưng có một thứ không đổi: lòng dân không chịu khuất phục, và khi có Đảng lãnh đạo, phong trào từ tự phát đã trở thành tự giác, có tổ chức, có đường đi.



